![]() |
| Toàn cảnh lớp tập huấn “Kỹ thuật sản xuất chè hữu cơ” tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. |
Cụ thể, lớp tập huấn “Kỹ thuật sản xuất chè hữu cơ” được tổ chức tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, với sự tham dự của đại diện các cơ quan quản lý, hội nghề nghiệp, hợp tác xã sản xuất chè, giảng viên và sinh viên nhà trường.
Tham dự chương trình có TS. Nguyễn Văn Vỵ, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thái Nguyên; bà Hoàng Thị Quỳnh Ngân, Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thái Nguyên; ông Vũ Văn Phán, Chủ tịch Hội Chè tỉnh Thái Nguyên; PGS.TS. Lê Minh, Phó Trưởng phòng Khoa học công nghệ và Đối ngoại, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
Về phía Chi hội Nông nghiệp Hữu cơ Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên có GS.TS. Đào Thanh Vân, Phó Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam, Chủ tịch Chi hội; TS. Đỗ Tuấn Khiêm, Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Chi hội, cùng các giảng viên, chuyên gia và học viên tham dự.
Chương trình tập huấn gồm ba chuyên đề chính: tình hình phát triển nông nghiệp hữu cơ trên thế giới và tại Việt Nam, các nguyên tắc của nông nghiệp hữu cơ và chứng nhận hữu cơ; kỹ thuật sản xuất chè theo tiêu chuẩn hữu cơ; cơ chế, chính sách trong xây dựng mô hình, dự án nông nghiệp hữu cơ tại Thái Nguyên.
![]() |
| GS.TS. Đào Thanh Vân, Phó Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam, Chủ tịch Chi hội Nông nghiệp Hữu cơ Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên phát biểu khai mạc lớp tập huấn. |
Ở chuyên đề về bức tranh nông nghiệp hữu cơ thế giới và Việt Nam, các học viên được cập nhật xu thế phát triển của sản xuất, tiêu dùng và thương mại sản phẩm hữu cơ. Hiện nay, nông nghiệp hữu cơ tiếp tục là xu hướng quan trọng trong chuyển đổi hệ thống nông nghiệp theo hướng xanh, an toàn và bền vững. Trên phạm vi toàn cầu, diện tích đất nông nghiệp hữu cơ đạt khoảng 98,9 triệu ha, chiếm 2,1% tổng diện tích đất nông nghiệp; có khoảng 4,8 triệu trang trại, nhà sản xuất hữu cơ và doanh thu sản phẩm hữu cơ đạt khoảng 145 tỷ euro. Tổng lượng sản phẩm hữu cơ xuất khẩu vào EU và Hoa Kỳ đạt khoảng 5,9 triệu tấn, tăng 12%.
Đối với Việt Nam, diện tích sản xuất hữu cơ đạt khoảng 140.000 ha, chiếm 1,4% tổng diện tích đất nông nghiệp; trong đó khoảng 135.000 ha được chứng nhận hữu cơ quốc tế và khoảng 5.000 ha được chứng nhận hữu cơ Việt Nam. Các mô hình nông nghiệp hữu cơ đã được triển khai tại 57/63 tỉnh, thành phố, với nhiều nhóm sản phẩm chủ lực như quế, hồi, điều, hồ tiêu, dừa và sản phẩm từ dừa, lúa gạo, ngũ cốc và thủy sản hữu cơ. Thị trường sản phẩm hữu cơ trong nước cũng ghi nhận xu hướng mở rộng, phản ánh nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng đối với thực phẩm an toàn, có truy xuất nguồn gốc và thân thiện với môi trường.
![]() |
| Phát triển chè hữu cơ được xem là hướng đi quan trọng nhằm nâng cao chất lượng và giá trị thương hiệu chè Thái Nguyên. |
Từ bối cảnh đó, phát triển chè hữu cơ tại Thái Nguyên không chỉ là yêu cầu về kỹ thuật canh tác, mà còn là hướng đi gắn với tái cơ cấu ngành chè, nâng cao giá trị gia tăng và đáp ứng đòi hỏi ngày càng khắt khe của thị trường. Với lợi thế là vùng chè nổi tiếng của cả nước, Thái Nguyên có điều kiện để xây dựng các vùng chè chất lượng cao, gắn với tiêu chuẩn hữu cơ, chỉ dẫn địa lý, du lịch nông nghiệp và hệ thống phân phối sản phẩm an toàn.
Trong chuyên đề về tiêu chuẩn hữu cơ, các báo cáo viên giới thiệu Bộ tiêu chuẩn cơ sở TCCS 01:2024/VOAA về hệ thống sản xuất nông nghiệp hữu cơ, gồm các nguyên tắc chung và tiêu chuẩn quản lý. Bộ tiêu chuẩn do Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam ban hành theo Quyết định số 18/2024/QĐ-HHNNHCVN ngày 17/4/2024, được phát triển trên cơ sở tiêu chuẩn PGS Việt Nam và được IFOAM Quốc tế công nhận là thành viên trong “gia đình tiêu chuẩn” của IFOAM vào tháng 5/2025.
Bộ tiêu chuẩn VOAA gồm 10 phần, bao quát các nội dung quản lý chung, trồng trọt hữu cơ, thu hái sản phẩm tự nhiên, trồng nấm và rau mầm, chăn nuôi hữu cơ, nuôi ong hữu cơ, xử lý và chế biến, công bằng xã hội, đầu vào sản xuất và hướng dẫn đánh giá đầu vào. Đối với sản xuất chè hữu cơ, các nội dung về trồng trọt hữu cơ có ý nghĩa trực tiếp, từ điều kiện vùng sản xuất, nguồn đất và nước, giống, dinh dưỡng cây trồng, quản lý sâu bệnh, thu hoạch đến xử lý sau thu hoạch.
Theo tiêu chuẩn hữu cơ, khu vực sản xuất phải được cách ly với các nguồn ô nhiễm; đất và nước sử dụng trong canh tác phải đáp ứng yêu cầu an toàn; hệ thống sản xuất cần có thời gian chuyển đổi phù hợp. Với cây lâu năm, thời gian chuyển đổi tối thiểu là 18 tháng, sản phẩm chỉ được gọi là hữu cơ khi quá trình sản xuất được đánh giá tuân thủ tiêu chuẩn và được chứng nhận theo quy định.
![]() |
| Lớp tập huấn là dịp kết nối nhà khoa học, cơ quan quản lý, hội nghề nghiệp và người sản xuất trong phát triển chè hữu cơ. |
Một nội dung được nhấn mạnh tại lớp tập huấn là quản lý dinh dưỡng và đầu vào trong sản xuất chè hữu cơ. Người sản xuất cần sử dụng các đầu vào nằm trong danh mục được phép, ưu tiên vật liệu có nguồn gốc tự nhiên, sinh học, có khả năng tái tạo; trả lại cho đất các vật liệu hữu cơ, vi sinh vật nhằm duy trì và nâng cao độ phì nhiêu, hoạt động sinh học của đất. Sản xuất hữu cơ không sử dụng phân bón tổng hợp, chất kích thích tăng trưởng tổng hợp, các chất có nguồn gốc biến đổi gen, công nghệ nano hoặc kỹ thuật chỉnh sửa gen.
Đối với quản lý sâu bệnh trên cây chè, hướng tiếp cận nông nghiệp hữu cơ không đặt trọng tâm vào việc sử dụng hóa chất để xử lý khi phát sinh dịch hại, mà yêu cầu xây dựng kế hoạch chủ động ngay từ đầu. Các biện pháp được khuyến nghị gồm tăng cường sinh vật có ích và thiên địch, trồng xen cây hoa hoặc cây xua đuổi, tạo môi trường sống cho động vật săn mồi, sử dụng vi sinh vật đối kháng, quản lý cỏ dại bằng biện pháp canh tác hợp lý, che phủ đất và bảo vệ hệ sinh thái nương chè. Các sản phẩm bảo vệ thực vật tổng hợp không được sử dụng trong sản xuất hữu cơ.
Từ góc độ thực tiễn, việc chuyển đổi sang sản xuất chè hữu cơ đòi hỏi các hợp tác xã và hộ sản xuất phải thay đổi đồng bộ từ nhận thức, quy trình canh tác đến quản lý hồ sơ. Người sản xuất cần ghi chép đầy đủ quá trình sản xuất, sử dụng vật tư đầu vào, thu hoạch, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm. Đây là nền tảng quan trọng để truy xuất nguồn gốc, phục vụ chứng nhận, xây dựng niềm tin với người tiêu dùng và mở rộng thị trường.
Bên cạnh nội dung kỹ thuật, lớp tập huấn cũng dành thời gian trao đổi về cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển chè hữu cơ. Các đại biểu cho rằng, để chè hữu cơ phát triển bền vững, cần có sự kết nối chặt chẽ giữa nhà quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp, hợp tác xã và người nông dân. Trong đó, vai trò của các trường đại học, tổ chức khoa học - kỹ thuật và hội nghề nghiệp rất quan trọng trong đào tạo nguồn nhân lực, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, tư vấn xây dựng mô hình và hỗ trợ chứng nhận.
![]() |
| Các đại biểu, giảng viên và học viên tham dự lớp tập huấn về kỹ thuật sản xuất chè hữu cơ chụp ảnh lưu niệm. |
Tại buổi tập huấn, các giảng viên, chuyên gia, đại diện hợp tác xã và học viên đã trao đổi, thảo luận về định hướng phát triển chè hữu cơ tại tỉnh Thái Nguyên. Nhiều ý kiến cho rằng, phát triển chè hữu cơ không chỉ giúp nâng cao chất lượng sản phẩm, mà còn góp phần bảo vệ môi trường canh tác, cải thiện sức khỏe đất, giảm rủi ro tồn dư hóa chất, tạo dựng niềm tin với người tiêu dùng và nâng cao giá trị thương hiệu chè Thái Nguyên.
Thái Nguyên từ lâu được biết đến là vùng chè nổi tiếng của cả nước, gắn với danh hiệu “Đệ nhất danh trà”. Trong bối cảnh nhu cầu tiêu dùng nông sản an toàn, thân thiện với môi trường ngày càng tăng, việc đẩy mạnh sản xuất chè hữu cơ được xem là hướng đi quan trọng để ngành chè địa phương phát triển theo chiều sâu, bền vững và có giá trị gia tăng cao hơn.
Thông qua lớp tập huấn, Chi hội Nông nghiệp Hữu cơ Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên kỳ vọng góp phần nâng cao nhận thức, kiến thức và kỹ năng thực hành cho các hợp tác xã, giảng viên, sinh viên và những người trực tiếp tham gia sản xuất chè. Chương trình cũng là dịp tăng cường kết nối giữa nhà khoa học, cơ quan quản lý, hội nghề nghiệp và người sản xuất trong quá trình xây dựng, nhân rộng các mô hình chè hữu cơ tại Thái Nguyên trong thời gian tới.
Mùa xuân ở Thái Nguyên không chỉ đến bằng những cơn mưa phùn lất phất hay làn gió ấm khẽ chạm vào da thịt, mà ... |
Giữa không khí rộn ràng của mùa chè xuân trên vùng đất Tân Cương (Thái Nguyên), Hợp tác xã (HTX) Hương Vân Trà - hội ... |
Trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên hiện có 320ha cây trồng được cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn hữu cơ. Trong đó, chè là ... |
Giống đào Sớm Địa Linh (tại bản Váng, xã Địa Linh, huyện Ba Bể), nay là xã Chợ Rã, tỉnh Thái Nguyên có đặc điểm ... |