Thứ hai 11/05/2026 13:04Thứ hai 11/05/2026 13:04 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Đặc điểm hình thái giống đào Sớm Địa Linh tỉnh Thái Nguyên

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Giống đào Sớm Địa Linh (tại bản Váng, xã Địa Linh, huyện Ba Bể), nay là xã Chợ Rã, tỉnh Thái Nguyên có đặc điểm quả chín sớm nên ít bị sâu bệnh, cây 14 năm tuổi có năng suất cao, phẩm chất quả ngon, có vị ngọt pha chua hình dáng và mầu quả đẹp, có hương thơm, phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng. Giống đào Sớm Địa Linh thường bị một số đối tượng gây hại: sâu đục thân, sâu ăn lá, ruồi vàng hại quả và bệnh chảy gôm, thủng lá. Cần thường xuyên quan sát vườn cây, phát hiện và kịp thời phòng trừ. Địa phương cần có kế hoạch bảo tồn và phát triển giống đào Sớm Địa Linh góp phần phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Đặc điểm hình thái giống đào Sớm Địa Linh tỉnh Thái Nguyên
Ảnh minh hoạ.

TÓM TẮT

Giống đào Sớm Địa Linh (tại bản Váng, xã Địa Linh, huyện Ba Bể), nay là xã Chợ Rã, tỉnh Thái Nguyên có đặc điểm quả chín sớm (giữa đến cuối tháng 5) nên ít bị sâu bệnh, cây 14 năm tuổi có năng suất cao (49,7 kg/ cây), phẩm chất quả ngon, có vị ngọt pha chua (tỷ lệ ăn được 76,6%, độ Brix 10,9%) hình dáng và mầu quả đẹp, có hương thơm, phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng. Giống đào Sớm Địa Linh thường bị một số đối tượng gây hại: sâu đục thân, sâu ăn lá, ruồi vàng hại quả và bệnh chảy gôm, thủng lá. Cần thường xuyên quan sát vườn cây, phát hiện và kịp thời phòng trừ. Địa phương cần có kế hoạch bảo tồn và phát triển giống đào Sớm Địa Linh góp phần phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Từ khóa: Cây đào, Đào chín sớm, Địa Linh, năng suất quả, chất lượng quả

Summary

The Dia Linh Early Peach variety (from Vang village, Dia Linh commune, Ba Be district), now Cho Ra commune, Thái Nguyên province, is characterized by its early ripening (mid to late May), making it less susceptible to pests and diseases. A 14-year-old tree has a high yield (49.7 kg/tree), delicious fruit with a sweet and sour taste (76.6% edible, Brix 10.9%), beautiful shape and color, and a pleasant aroma, appealing to consumer preferences. The Dia Linh Early Peach variety is commonly affected by several pests: stem borers (Chelidonium argentatum Dalm), leaf-eating caterpillars (Delias aglaia), fruit flies (Bactrocera dorsalis Hendel)…, and gum disease (Bactrocera dorsalis Hendel), leaf perforation (Xanthomonas arboricola)…. Regular observation of the orchard is necessary to detect and control these pests and diseases promptly. The local authorities need a plan to conserve and develop the Dịa Linh Early Peach variety to contribute to the economic development of ethnic minority and mountainous regions.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Đào (Prunus persica (L.) Batsch) là loại cây ôn đới được trồng phổ biến nhiều vùng có khí hậu mát lạnh trên thế giới, với mục đích sử dụng hoa, quả và làm cảnh quan. Tại Việt Nam, cây đào cũng được trồng ở một số tỉnh miền núi phía Bắc nhằm đa dạng hóa sản phẩm quả và giảm nhập khẩu loại quả này. Tại một số địa phương đã chú ý phát triển các giống đào quí như đào H’Mông ở khu vực Tây Bắc (Điện Biên và Sơn La) [2], giống đào Mẫu Sơn tỉnh Lạng Sơn (Vũ Mạnh Hải và cs.)[1], [3]...

Tại tỉnh Bắc Kạn (cũ), nay là tỉnh Thái Nguyên có một số giống đào địa phương tốt như đào Tiên Pắc Á, đào Toáng, trong đó có giống đào Sớm Địa Linh (Bản Váng, xã Địa Linh, huyện Ba Bể cũ), nay là xã Chợ Rã, tỉnh Thái Nguyên với số lượng khoảng 550 – 600 cây, có độ tuổi từ 5 - 17 năm (Dinh Ha Tran và cs.). Đặc điểm quan trọng của đào Sớm Địa Linh là quả chín sớm (giữa đến cuối tháng 5) nên ít bị sâu bệnh, cây có năng suất cao, phẩm chất quả ngon, mẫu quả đẹp phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng được một số người dân địa phương tự duy trì sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế cao. Để bảo tồn và phát triển giống đào này cần thiết phải nghiên cứu đặc điểm hình thái của cây nhằm tác động các biện pháp kỹ thuật phù hợp trong nhân giống và canh tác.

2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu

- Đối tượng và địa điểm nghiên cứu: Giống đào Sớm Địa Linh có tuổi 14 năm tuổi, tại bản Váng, xã Chợ Rã, tỉnh Thái Nguyên.

- Thời gian nghiên cứu: 10/2021 – 12/2022

2.2 Phương pháp nghiên cứu:

- Chọn 9 cây đồng đều trên vườn trồng sẵn của nông hộ để theo dõi:

+ Các chỉ tiêu về đặc điểm hình thái: Thân, dạng lá, hoa, quả đào theo hướng dẫn của Trung tâm Tài Nguyên thực vật;

+ Các chỉ tiêu về sinh trưởng và phát triển trong năm: Theo dõi trực tiếp các thời điểm: nở hoa rộ, ra lộc, quả chín, rụng lá ngủ Đông (Khi các chỉ tiêu đạt 50%);

+ Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất quả: Tỷ lệ đậu quả lúc thu hoạch (%), năng suất cá thể (kg/cây), khối lượng quả trung bình (g/quả); số quả trên cây. Xác định trực tiếp các chỉ tiêu tại các cây theo dõi;

+ Chất lượng quả: Màu sắc vỏ quả, bề mặt vỏ quả, độ dày thịt quả, tỷ lệ ăn được (%). Độ dóc hạt, độ dòn chắc và hương vị thịt quả được đánh giá theo cảm quan; Một số chất trong quả: Độ ngọt: xác định độ Brix bằng Brix kế, hàm lượng Vitamin C (mg/100g): xác định bằng phương pháp Tilman, độ chua: xác định hàm lượng axit tổng số bằng dung dịch kiềm NaOH, độ chát: xác định hàm lượng tanin bằng dung dịch chuẩn KMnO4.

+ Tình hình sâu bệnh hại: Xác định chủng loại và mức độ gây hại của một số sâu bệnh chính theo các phương pháp của Viện bảo vệ thực vật.

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Đặc điểm hình thái, sinh trưởng và phát triển

Từ kết quả theo dõi mô tả đặc điểm hình thái, sinh trưởng và phát triển cho cây đào theo hướng dẫn của Trung tâm Tài Nguyên thực vật, đề tài đã xây dựng được bảng mô tả một số tính trạng đặc trưng của giống đào Sớm Địa Linh .

Bảng 01. Một số tính trạng đặc trưng của giống đào Sớm Địa Linh

Đặc điểm hình thái giống đào Sớm Địa Linh tỉnh Thái Nguyên

Trong 27 chỉ tiêu mô tả theo hướng dẫn của Trung tâm tài nguyên thực vật, một số tính trạng thể hiện tương đồng hoặc khác biệt không nhiều so với các giống đào khác ở địa phương như: đào Tiên Pắc Ả, đào Toáng… với hình dạng tán cây hình cầu, độ phân cành thấp, màu sắc lá xanh đẫm, kích thước lá to, hoa to 5 cánh đơn, khối lượng quả trên 100g/quả. Tuy nhiên có một số tính trạng của giống đào Sớm Địa Linh thể hiện sự khác biệt khá rõ là: có quả hình cầu, không có đỉnh quả, hoa màu hồng nhạt (phai), nở vào dịp tết Nguyên Đán (đầu tháng 2), quả chín sớm vào cuối tháng 5, dạng quả hình trứng, đỉnh quả lõm, màu sắc vỏ quả xanh kem lẫn đám hồng tím.

3.2.Năng suất và chất lượng của giống đào Sớm Địa Linh

3.2.1 Năng suất và chất lượng lý tính quả đào

Theo dõi một số chỉ tiêu về tỷ lệ đậu quả, yếu tố cấu thành năng suất và năng suất và chất lượng lý tính quả củagiống đào Sớm Địa Linh, thu được ở bảng 02.

Bảng 02. Năng suất và một số chỉ tiêu lý tính quả giống đào Sớm Địa Linh

STT
Các chỉ tiêu
Chỉ số
1
Tỷ lệ đậu quả (%)
7,8 ±1,4
2
Tổng số quả/cây
478,8 ± 36,9
3
Khối lượng quả (g/quả)
103,8 ± 4,8
4
Năng suất cá thể (kg/cây)
49,7± 7,1
5
Màu sắc vỏ quả
Vàng, vệt đám hồng tím
6
Bề mặt vỏ quả
Nhẵn, có lông mịn
7
Độ dày thịt quả (cm)
1,9 ± 0,19
8
Tỷ lệ ăn được (%)
76,6 ± 2,5

Tỷ lệ đậu quả của giống đào Sớm Địa Linh với 7,8%, các yếu tố cấu thành năng suất với tổng số quả trên cây là 478,8 quả/cây, khối lượng quả đạt 103,8 g/quả, năng suất quả đạt 49,7 kg/cây. Khối lượng quả và năng suất quả biến động phụ thuộc vào đặc tính giống, điều kiện sinh thái và chăm sóc. So sánh tương đối có thể thấy, giống đào Sớm Địa Linh có khối lượng quả trung bình cao vượt trôi hơn so với giống đào H’Mông, Mẫu Sơn và một số giống đào nhập nội như giống ĐCS1, Đào Pháp Đ1, Đ2... có giá trị tương ứng 62,33 g - 96,47g/quả và 60 - 78 g/quả ([1], [4]).

Đặc điểm hình thái quả là đặc trưng của giống, giống đào Sớm Địa Linh có quả hình dạng cầu, đỉnh quả bằng, vỏ quả khi chín màu xanh vàng, vệt đám hồng đậm, bề mặt nhẵn, có lông mịn. Quả có độ dày thịt quả 1,9 cm và tỷ lệ ăn được đạt 76,6%.

3.2.2 Chất lượng hoá tính và cảm quan quả đào Sớm Địa Linh

Phân tích một số hàm lượng các chất trong thịt quả đào Sớm Địa Linh , thử nếm đánh giá qua cảm quan thu đươc kết quả bảng 04

Bảng 04. Chất lượng và đánh giá cảm quan quả đào giống đào Sớm Địa Linh

STT
Các chỉ tiêu
Chỉ số
1
Độ brix (%)
10,9
2
Hàm lượng vitamin C (mg/100g)
14,94
3
Hàm lượng axit tổng số (%)
0,73
4
Hàm lượng tanin (%)
0,23
5
Độ róc hạt
Trung bình
6
Độ giòn thịt quả
Giòn và chắc
7
Hương, vị thịt quả
Ngọt thanh, hơi chua, ít chát

Đào Sớm Địa Linh có độ ngọt với độ brix là 10,9%, hàm lượng vitamin C đạt khá cao 14,94 mg/100g thịt quả, hàm lượng axit tổng số là 0,73, hàm lượng tanin là 0,23. Kết quả này cho thấy hàm lượng các chất dinh dưỡng trong giống đào Sớm Địa Linh có các chỉ tiêu: Vitamin C, độ brix tương đương và hàm lượng tanin thấp hơn các giống đào khác.

Với cảm quan ăn tươi, thịt quả của giống đào Sớm Địa Linh có độ giòn và chắc, độ róc hạt ở mức trung bình, vị quả ngọt thanh, ít chát, có mùi thơm đặc trưng, dễ chịu.

3.3.Tình hình sâu bệnh hại trên đào Sớm Địa Linh

3.3.1 Tình hình sâu hại

Theo dõi triệu chứng và tỷ lệ cây bị một số sâu hại chính trên giống đào Sớm Địa Linh kết quả thu được bảng 05.

Bảng 05. Triệu chứng hại và tần suất xuất hiện một số sâu hại chính trên giống đào Sớm Địa Linh

Đặc điểm hình thái giống đào Sớm Địa Linh tỉnh Thái Nguyên

Ghi chú: + : <10 % cây bị sâu hại; ++ : 11 - 25 % cây bị sâu hại

+++ : 26 - 50% cây bị sâu hại; ++++: > 50% cây bị sâu hại

Sâu hại chủ yếu đối với đào Sớm Địa Linh như sâu đục thân (Chelidonium argentatum Dalm; Nadezhdiella cantori Hope; Anoplophora chinensis Forster) gây hại gần như quanh năm từ tháng 3 -11, sâu ăn lá (Delias aglaia) gây hại từ tháng 3 - 9, sâu đục ngọn và đục quả (Anarsia lineatella Zeller) gây hại từ tháng 3 – 8 ở mức độ ++ với tỷ lệ khoảng 11 -25% cây bị hại. Do thời gian chín quả đào Sớm Địa Linh vào giữa đến cuối tháng 5 nên ruồi vàng đục quả (Bactrocera dorsalis Hendel) gây hại giống này ở tỷ lệ thấp hơn, mức trung bình (11 - 25% cây bị hại) so với các giống đào khác ở địa phương với mức +++ (26 – 50% cây bị hại).

Qua thực tiễn theo dõi trên vườn đào cho thấy: trong bốn loại sâu hại chính nêu trên thì đối tượng ruồi vàng đục quả thường gây hại nặng, khó phòng trừ và ảnh hưởng lớn đến sản lượng quả. Tiếp đến là sâu đục thân xuất hiện hầu hết thời gian trong năm làm hư hại thân và cành cây, cần phải thường xuyên quan sát, phát hiện và kịp thời phòng trừ.

3.3.2 Tình hình bệnh hại

Có một số bệnh hại phổ biến trên câu đào Sớm Địa Linh là: Bệnh thủng lá (Xanthomonas arboricola) với mức độ thấp + (tỷ lệ cây bị hại ≤10%), bệnh phồng lá (Taphrina deformans) gây hại đối với lá với mức độ ++ (tỷ lệ cây bị hại 11 - 25%), bệnh chảy gôm (Phytophthora sp.) gây hại thân cành với mức độ ++ (tỷ lệ cây bị hại 11 - 25%), chúng thường xuất hiện vào thời điểm từ tháng 5 – 9 hàng năm (Bảng 06). Trong các loại bệnh hại cây đào, bệnh chảy gôm thực tế thường gây hại ảnh hưởng lớn hơn đến cây đào, do đó cần quan tâm biện pháp phòng trừ.

Bảng 06. Triệu chứng và tần suất xuất hiện bệnh hại chính trên giống đào Sớm Địa Linh

Đặc điểm hình thái giống đào Sớm Địa Linh tỉnh Thái Nguyên

Ghi chú: + : <10 % cây bị hại; ++ : 11 - 25 % cây bị hại

+++ : 26 - 50% cây bị hại; ++++: > 50% cây bị hại

4. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

4.1. Kết luận

- Giống đào Sớm Địa Linh (tại bản Váng, xã Địa Linh, huyện Ba Bể cũ), nay là xã Chợ Rã, tỉnh Thái Nguyên có đặc điểm quả chín sớm (giữa đến cuối tháng 5) nên ít bị sâu bệnh, cây 14 năm tuổi có năng suất cao (49,7 kg/ cây), phẩm chất quả ngon, có vị ngọt pha chua (tỷ lệ ăn được 76,6%, độ Brix 10,9%) hình dáng và mầu quả đẹp, có hương thơm, phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng.

- Giống đào Sớm Địa Linh thường bị một số đối tượng gây hại: sâu đục thân, sâu ăn lá, ruồi vàng hại quả và bệnh chảy gôm, thủng lá... Cần thường xuyên quan sát vườn cây, phát hiện để kịp thời phòng trừ.

4.2. Đề nghị

- Có kế hoạch bảo tồn và phát triển giống đào Sớm Địa Linh góp phần phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.


TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Lê Thị Mỹ Hà, Nguyễn Thị Tuyết, Hoàng Thị Hoài, 2020. Kết quả thử nghiệm một số giống đào nhập nội triển vọng tại xã Công Sơn, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam, 118 (9): 43 - 48.

2. Vũ Phong Lâm, Trần Thế Mạnh, Ngô Xuân Bình (2014). Tuyển chọn cây ưu tú giống đào H’Mông tại khu vực đèo Pha Đin thuộc 2 tỉnh Sơn La và Điện Biên. Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Thái Nguyên, 118(4), tr. 33 - 40.

3. Vũ Mạnh Hải, Bùi Quang Đãng, Lê Quốc Anh, Đào Thế Anh, Nguyễn Doãn Hùng, Nguyễn Ngọc Mai, Đỗ Thị Thu Hường, Hà Quang Thưởng, Hà Mạnh Phong, Trần Văn Luyện, Vũ Văn Khánh, Lê Thị Mỹ Hà, Nguyễn Thị Hiền, Đỗ Hải Long, Lương Thị Huyền (2021). Diễn biến độ lạnh (CU) trong mối quan hệ với phát triển cây ăn quả ôn đới ở một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam, 5(126), tr. 47 – 54.

4. Dinh Ha Tran, Thanh Huyen Dao, Xuan Binh Ngo, Van Hong Nguyen, Thanh Van Dao, and Tien Dung Nguyen (2025). Genetic Diversity of Peach (Prunus persica) Accessions Collected in Northern Vietnam Using ISSR Markers. Diversity, 17(3), tr. 1- 10.

Bài liên quan

Thái Nguyên nâng cao chất lượng rừng trồng

Thái Nguyên nâng cao chất lượng rừng trồng

Năm 2026 tỉnh Thái Nguyên có kế hoạch trồng 7.500ha rừng tập trung, chủ yếu là rừng kinh tế và trồng 1,5 triệu cây phân tán, đến nay đã trồng hơn 2.000ha và hơn 350 nghìn cây phân tán. Dự kiến đến 15/6, tỉnh sẽ hoàn thành việc trồng rừng tập trung và trồng 1,5 triệu cây phân tán bảo đảm chất lượng.
Phát triển trồng trọt phát thải thấp, sản xuất theo chuỗi giá trị tuần hoàn

Phát triển trồng trọt phát thải thấp, sản xuất theo chuỗi giá trị tuần hoàn

Thái Nguyên đẩy mạnh phát triển nông nghiệp bền vững, từng bước hình thành nền nông nghiệp sinh thái, hiện đại, có khả năng chống chịu tốt trước tác động biến đổi khí hậu; xây dựng và phát triển nhãn hiệu 'phát thải thấp' cho các sản phẩm trồng trọt...
Phấn đấu có thêm từ 2.000ha chè trở lên đạt tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ

Phấn đấu có thêm từ 2.000ha chè trở lên đạt tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ

Năm 2026, Thái Nguyên phấn đấu có thêm từ 2.000ha chè trở lên sản xuất theo tiêu chuẩn thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (VietGAP), hữu cơ được cấp chứng nhận.
Không ngừng củng cố hội viên, thúc đẩy nông nghiệp hữu cơ tại Thái Nguyên

Không ngừng củng cố hội viên, thúc đẩy nông nghiệp hữu cơ tại Thái Nguyên

Sáng 25/12/2025 tại Trụ sở Công ty CP Chè Hà Thái (tỉnh Thái Nguyên), Chi hội Nông nghiệp hữu cơ Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên tổ chức Hội nghị tổng kết hoạt động năm 2025 và đề ra phương hướng năm 2026, với sự tham dự của đông đảo hội viên và đại biểu các cơ quan, tổ chức trong tỉnh; đồng thời công bố kiện toàn nhân sự Chi hội và ghi nhận các tập thể tiêu biểu giai đoạn 2024 - 2025.
Nông nghiệp thông minh: Điểm sáng giảm nghèo ở Thái Nguyên

Nông nghiệp thông minh: Điểm sáng giảm nghèo ở Thái Nguyên

Nông nghiệp thông minh đang trở thành một trong những hướng đi hiệu quả, an toàn, góp phần tạo sinh kế bền vững cho người dân vùng khó khăn ở Thái Nguyên. Thông qua việc “mở đường thông tin”, nhiều địa phương đã từng bước hình thành các mô hình sản xuất phù hợp với điều kiện thực tiễn, giúp người dân chủ động vươn lên thoát nghèo từ gốc.
Dây thìa canh lá to mở hướng phát triển sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số

Dây thìa canh lá to mở hướng phát triển sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số

Những năm gần đây, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng gắn với liên kết sản xuất đã tạo nên bước chuyển quan trọng trong đời sống kinh tế của đồng bào dân tộc thiểu số. Cây dây thìa canh lá to, một loại dược liệu quý trong hỗ trợ điều trị tiểu đường đã và đang trở thành mô hình tiêu biểu, mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt, góp phần thay đổi tư duy sản xuất, nâng cao thu nhập và xây dựng sinh kế bền vững cho người dân.

CÁC TIN BÀI KHÁC

Khi người cao tuổi ‘thắp lửa’ kinh tế xanh

Khi người cao tuổi ‘thắp lửa’ kinh tế xanh

Nông nghiệp hữu cơ tuần hoàn đang trở thành hướng đi tất yếu để bảo vệ hành tinh và sức khỏe cộng đồng. Tại Phú Thọ, hình ảnh những người cao tuổi tiên phong khởi nghiệp xanh đã minh chứng cho sức mạnh của kinh nghiệm kết nối cùng khát vọng bền vững.
Đan Mạch chia sẻ kinh nghiệm về truyền thông nhãn hữu cơ qua những ví dụ thực tiễn điển hình

Đan Mạch chia sẻ kinh nghiệm về truyền thông nhãn hữu cơ qua những ví dụ thực tiễn điển hình

Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường phối hợp với Đại sứ quán Đan Mạch tại Việt Nam tổ chức Hội thảo về “Truyền thông và nâng cao nhận thức đối với nông nghiệp hữu cơ” từ ngày 6 -7/5 tại Hà Nội.
Xây dựng mạng lưới lãnh đạo tiên phong cho nông nghiệp sinh thái và hữu cơ Việt Nam

Xây dựng mạng lưới lãnh đạo tiên phong cho nông nghiệp sinh thái và hữu cơ Việt Nam

Ngày 7/5, tại Hà Nội, Khóa tập huấn Lãnh đạo Nông nghiệp Sinh thái và Hữu cơ (AOLC) chính thức khai mạc với sự phối hợp tổ chức của Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam, IFOAM Organics International và Naturland. Chương trình quy tụ 27 học viên được tuyển chọn từ gần 70 hồ sơ trên cả nước, hướng tới xây dựng mạng lưới những nhân tố tiên phong thúc đẩy nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp hữu cơ và hệ thống thực phẩm bền vững tại Việt Nam.
Hiện trạng phát triển nông nghiệp hữu cơ tại Việt Nam

Hiện trạng phát triển nông nghiệp hữu cơ tại Việt Nam

Với lịch sử canh tác hữu cơ đã hình thành từ lâu, nông nghiệp Việt Nam là ngành có lợi thế so sánh bởi tính đa dạng và quy mô sản lượng, chất lượng hàng đầu thế giới. Cùng với đó, các nông sản có nhiều tiềm năng nhưng chưa được khai thác hợp lý, đặc biệt là thủy sản, rau quả và dược liệu, song do cơ chế chính sách và đầu tư quảng bá xúc tiến thương mại, khả năng ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất hữu cơ còn hạn chế, diện tích nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam còn chưa khai thác hết tiềm năng.
Thực hành tiết kiệm là để phát triển

Thực hành tiết kiệm là để phát triển

Tiết kiệm là một trong những đức tính quan trọng của con người, đặc biệt trong xã hội hiện đại với nhiều biến động về kinh tế và môi trường. Không chỉ đơn thuần là việc giảm chi tiêu hay cất giữ tiền bạc, tiết kiệm còn là một lối sống, một tư duy giúp cá nhân và xã hội phát triển bền vững.
Chấm phá xu hướng phát triển nông nghiệp hữu cơ trên thế giới

Chấm phá xu hướng phát triển nông nghiệp hữu cơ trên thế giới

Các nguyên tắc sản xuất nông nghiệp hữu cơ được quy định trong tiêu chuẩn của IFOAM, với mục tiêu đảm bảo hệ sinh thái cây trồng, vật nuôi, tạo ra những sản phẩm có chất lượng an toàn với người sử dụng, đem lại hiệu quả kinh tế, duy trì và nâng cao độ màu mỡ của đất.
Chất thải chăn nuôi lan vi khuẩn kháng kháng sinh vào nông sản, gia tăng rủi ro an toàn thực phẩm

Chất thải chăn nuôi lan vi khuẩn kháng kháng sinh vào nông sản, gia tăng rủi ro an toàn thực phẩm

Nghiên cứu mới cho thấy vi khuẩn kháng kháng sinh từ chất thải gia cầm có thể lan sang rau trồng trên đất bón phân chuồng, đặt ra thách thức lớn cho sản xuất nông nghiệp bền vững. Nếu quản lý chất thải không được cải thiện, nguy cơ mất an toàn thực phẩm và giảm giá trị nông sản có thể gia tăng trong những năm tới.
Nông nghiệp xanh và cuộc tái sinh thầm lặng của nền nông nghiệp Việt

Nông nghiệp xanh và cuộc tái sinh thầm lặng của nền nông nghiệp Việt

Không ồn ào như những cuộc cải cách lớn, nông nghiệp xanh đang diễn ra như một cuộc tái sinh thầm lặng trên khắp các vùng quê, rõ nét nhất tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Từ những thửa ruộng giảm phát thải đến các mô hình sản xuất gắn với truy xuất nguồn gốc, một cách làm nông mới đang hình thành, nơi người nông dân không chỉ sản xuất mà còn gìn giữ đất đai và nguồn nước. Khi thị trường ngày càng siết chặt tiêu chuẩn và biến đổi khí hậu hiện hữu trong từng mùa vụ, chuyển đổi xanh không còn là xu hướng mà đã trở thành điều kiện để tồn tại.
NIFAM: Lan tỏa lối sống xanh từ thực phẩm và dinh dưỡng

NIFAM: Lan tỏa lối sống xanh từ thực phẩm và dinh dưỡng

NIFAM không chỉ là chuỗi hoạt động farm tour đưa người tiêu dùng tới gần hơn với nông nghiệp hữu cơ, mà còn là một nghiên cứu liên ngành về “Dự báo và giám sát can thiệp dinh dưỡng”, hướng tới xác định các giải pháp khả thi nhằm cải thiện bền vững chế độ ăn uống của cư dân đô thị Hà Nội.
Nikolai Ivanovich Vavilov: Bi kịch của một nhà khoa học

Nikolai Ivanovich Vavilov: Bi kịch của một nhà khoa học

Trong lịch sử nông nghiệp và khoa học thế giới, có những con người đã dành cả cuộc đời để tìm kiếm, gìn giữ và bảo vệ nguồn sống cho nhân loại. Một trong những nhân vật như vậy là Nikolai Ivanovich Vavilov (1887-1943) - nhà thực vật học và di truyền học người Nga, người được nhiều nhà khoa học tôn vinh là “cha đẻ của các loại hạt giống”. Những nghiên cứu và cống hiến của ông đã đặt nền móng cho khoa học chọn giống hiện đại và cho công tác bảo tồn nguồn gen cây trồng trên toàn thế giới. Cuộc đời ông là tấm gương phản chiếu về đam mê khoa học, dù trong hoàn cảnh nào cũng tin vào chân lý.
Keo đất - "Cốt lõi" của các phản ứng hóa học trong đất

Keo đất - "Cốt lõi" của các phản ứng hóa học trong đất

Trong khoa học nghiên cứu về đất, việc hiểu rõ các khái niệm về keo đất, độ phì nhiêu và khả năng trao đổi ion là chìa khóa để quản lý dinh dưỡng cây trồng bền vững. Đây là những "cỗ máy" thầm lặng quyết định sự sống của cây trồng và hiệu quả của các mô hình nông nghiệp hữu cơ.
So sánh thú vị giữa nông nghiệp Hoa Kỳ và Việt Nam

So sánh thú vị giữa nông nghiệp Hoa Kỳ và Việt Nam

Nông nghiệp luôn là nền tảng của mọi nền kinh tế, nhưng cách tổ chức sản xuất và hiệu quả giữa các quốc gia lại rất khác nhau. Trường hợp của Hoa Kỳ và Việt Nam là một ví dụ điển hình: cùng sản xuất ngũ cốc, nhưng quy mô, năng suất và vai trò trên thị trường thế giới lại có sự chênh lệch đáng kể. Sự khác biệt này không chỉ phản ánh điều kiện tự nhiên mà còn thể hiện trình độ phát triển, mức độ cơ giới hóa và tư duy tổ chức sản xuất.
XEM THÊM
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2025 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính