![]() |
| Ảnh minh hoạ. |
TÓM TẮT
Giống đào Sớm Địa Linh (tại bản Váng, xã Địa Linh, huyện Ba Bể), nay là xã Chợ Rã, tỉnh Thái Nguyên có đặc điểm quả chín sớm (giữa đến cuối tháng 5) nên ít bị sâu bệnh, cây 14 năm tuổi có năng suất cao (49,7 kg/ cây), phẩm chất quả ngon, có vị ngọt pha chua (tỷ lệ ăn được 76,6%, độ Brix 10,9%) hình dáng và mầu quả đẹp, có hương thơm, phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng. Giống đào Sớm Địa Linh thường bị một số đối tượng gây hại: sâu đục thân, sâu ăn lá, ruồi vàng hại quả và bệnh chảy gôm, thủng lá. Cần thường xuyên quan sát vườn cây, phát hiện và kịp thời phòng trừ. Địa phương cần có kế hoạch bảo tồn và phát triển giống đào Sớm Địa Linh góp phần phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Từ khóa: Cây đào, Đào chín sớm, Địa Linh, năng suất quả, chất lượng quả
Summary
The Dia Linh Early Peach variety (from Vang village, Dia Linh commune, Ba Be district), now Cho Ra commune, Thái Nguyên province, is characterized by its early ripening (mid to late May), making it less susceptible to pests and diseases. A 14-year-old tree has a high yield (49.7 kg/tree), delicious fruit with a sweet and sour taste (76.6% edible, Brix 10.9%), beautiful shape and color, and a pleasant aroma, appealing to consumer preferences. The Dia Linh Early Peach variety is commonly affected by several pests: stem borers (Chelidonium argentatum Dalm), leaf-eating caterpillars (Delias aglaia), fruit flies (Bactrocera dorsalis Hendel)…, and gum disease (Bactrocera dorsalis Hendel), leaf perforation (Xanthomonas arboricola)…. Regular observation of the orchard is necessary to detect and control these pests and diseases promptly. The local authorities need a plan to conserve and develop the Dịa Linh Early Peach variety to contribute to the economic development of ethnic minority and mountainous regions.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Đào (Prunus persica (L.) Batsch) là loại cây ôn đới được trồng phổ biến nhiều vùng có khí hậu mát lạnh trên thế giới, với mục đích sử dụng hoa, quả và làm cảnh quan. Tại Việt Nam, cây đào cũng được trồng ở một số tỉnh miền núi phía Bắc nhằm đa dạng hóa sản phẩm quả và giảm nhập khẩu loại quả này. Tại một số địa phương đã chú ý phát triển các giống đào quí như đào H’Mông ở khu vực Tây Bắc (Điện Biên và Sơn La) [2], giống đào Mẫu Sơn tỉnh Lạng Sơn (Vũ Mạnh Hải và cs.)[1], [3]...
Tại tỉnh Bắc Kạn (cũ), nay là tỉnh Thái Nguyên có một số giống đào địa phương tốt như đào Tiên Pắc Á, đào Toáng, trong đó có giống đào Sớm Địa Linh (Bản Váng, xã Địa Linh, huyện Ba Bể cũ), nay là xã Chợ Rã, tỉnh Thái Nguyên với số lượng khoảng 550 – 600 cây, có độ tuổi từ 5 - 17 năm (Dinh Ha Tran và cs.). Đặc điểm quan trọng của đào Sớm Địa Linh là quả chín sớm (giữa đến cuối tháng 5) nên ít bị sâu bệnh, cây có năng suất cao, phẩm chất quả ngon, mẫu quả đẹp phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng được một số người dân địa phương tự duy trì sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế cao. Để bảo tồn và phát triển giống đào này cần thiết phải nghiên cứu đặc điểm hình thái của cây nhằm tác động các biện pháp kỹ thuật phù hợp trong nhân giống và canh tác.
2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
- Đối tượng và địa điểm nghiên cứu: Giống đào Sớm Địa Linh có tuổi 14 năm tuổi, tại bản Váng, xã Chợ Rã, tỉnh Thái Nguyên.
- Thời gian nghiên cứu: 10/2021 – 12/2022
2.2 Phương pháp nghiên cứu:
- Chọn 9 cây đồng đều trên vườn trồng sẵn của nông hộ để theo dõi:
+ Các chỉ tiêu về đặc điểm hình thái: Thân, dạng lá, hoa, quả đào theo hướng dẫn của Trung tâm Tài Nguyên thực vật;
+ Các chỉ tiêu về sinh trưởng và phát triển trong năm: Theo dõi trực tiếp các thời điểm: nở hoa rộ, ra lộc, quả chín, rụng lá ngủ Đông (Khi các chỉ tiêu đạt 50%);
+ Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất quả: Tỷ lệ đậu quả lúc thu hoạch (%), năng suất cá thể (kg/cây), khối lượng quả trung bình (g/quả); số quả trên cây. Xác định trực tiếp các chỉ tiêu tại các cây theo dõi;
+ Chất lượng quả: Màu sắc vỏ quả, bề mặt vỏ quả, độ dày thịt quả, tỷ lệ ăn được (%). Độ dóc hạt, độ dòn chắc và hương vị thịt quả được đánh giá theo cảm quan; Một số chất trong quả: Độ ngọt: xác định độ Brix bằng Brix kế, hàm lượng Vitamin C (mg/100g): xác định bằng phương pháp Tilman, độ chua: xác định hàm lượng axit tổng số bằng dung dịch kiềm NaOH, độ chát: xác định hàm lượng tanin bằng dung dịch chuẩn KMnO4.
+ Tình hình sâu bệnh hại: Xác định chủng loại và mức độ gây hại của một số sâu bệnh chính theo các phương pháp của Viện bảo vệ thực vật.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Đặc điểm hình thái, sinh trưởng và phát triển
Từ kết quả theo dõi mô tả đặc điểm hình thái, sinh trưởng và phát triển cho cây đào theo hướng dẫn của Trung tâm Tài Nguyên thực vật, đề tài đã xây dựng được bảng mô tả một số tính trạng đặc trưng của giống đào Sớm Địa Linh .
![]() |
Trong 27 chỉ tiêu mô tả theo hướng dẫn của Trung tâm tài nguyên thực vật, một số tính trạng thể hiện tương đồng hoặc khác biệt không nhiều so với các giống đào khác ở địa phương như: đào Tiên Pắc Ả, đào Toáng… với hình dạng tán cây hình cầu, độ phân cành thấp, màu sắc lá xanh đẫm, kích thước lá to, hoa to 5 cánh đơn, khối lượng quả trên 100g/quả. Tuy nhiên có một số tính trạng của giống đào Sớm Địa Linh thể hiện sự khác biệt khá rõ là: có quả hình cầu, không có đỉnh quả, hoa màu hồng nhạt (phai), nở vào dịp tết Nguyên Đán (đầu tháng 2), quả chín sớm vào cuối tháng 5, dạng quả hình trứng, đỉnh quả lõm, màu sắc vỏ quả xanh kem lẫn đám hồng tím.
3.2.Năng suất và chất lượng của giống đào Sớm Địa Linh
3.2.1 Năng suất và chất lượng lý tính quả đào
Theo dõi một số chỉ tiêu về tỷ lệ đậu quả, yếu tố cấu thành năng suất và năng suất và chất lượng lý tính quả củagiống đào Sớm Địa Linh, thu được ở bảng 02.
STT | Các chỉ tiêu | Chỉ số |
1 | Tỷ lệ đậu quả (%) | 7,8 ±1,4 |
2 | Tổng số quả/cây | 478,8 ± 36,9 |
3 | Khối lượng quả (g/quả) | 103,8 ± 4,8 |
4 | Năng suất cá thể (kg/cây) | 49,7± 7,1 |
5 | Màu sắc vỏ quả | Vàng, vệt đám hồng tím |
6 | Bề mặt vỏ quả | Nhẵn, có lông mịn |
7 | Độ dày thịt quả (cm) | 1,9 ± 0,19 |
8 | Tỷ lệ ăn được (%) | 76,6 ± 2,5 |
Tỷ lệ đậu quả của giống đào Sớm Địa Linh với 7,8%, các yếu tố cấu thành năng suất với tổng số quả trên cây là 478,8 quả/cây, khối lượng quả đạt 103,8 g/quả, năng suất quả đạt 49,7 kg/cây. Khối lượng quả và năng suất quả biến động phụ thuộc vào đặc tính giống, điều kiện sinh thái và chăm sóc. So sánh tương đối có thể thấy, giống đào Sớm Địa Linh có khối lượng quả trung bình cao vượt trôi hơn so với giống đào H’Mông, Mẫu Sơn và một số giống đào nhập nội như giống ĐCS1, Đào Pháp Đ1, Đ2... có giá trị tương ứng 62,33 g - 96,47g/quả và 60 - 78 g/quả ([1], [4]).
Đặc điểm hình thái quả là đặc trưng của giống, giống đào Sớm Địa Linh có quả hình dạng cầu, đỉnh quả bằng, vỏ quả khi chín màu xanh vàng, vệt đám hồng đậm, bề mặt nhẵn, có lông mịn. Quả có độ dày thịt quả 1,9 cm và tỷ lệ ăn được đạt 76,6%.
3.2.2 Chất lượng hoá tính và cảm quan quả đào Sớm Địa Linh
Phân tích một số hàm lượng các chất trong thịt quả đào Sớm Địa Linh , thử nếm đánh giá qua cảm quan thu đươc kết quả bảng 04
STT | Các chỉ tiêu | Chỉ số |
1 | Độ brix (%) | 10,9 |
2 | Hàm lượng vitamin C (mg/100g) | 14,94 |
3 | Hàm lượng axit tổng số (%) | 0,73 |
4 | Hàm lượng tanin (%) | 0,23 |
5 | Độ róc hạt | Trung bình |
6 | Độ giòn thịt quả | Giòn và chắc |
7 | Hương, vị thịt quả | Ngọt thanh, hơi chua, ít chát |
Đào Sớm Địa Linh có độ ngọt với độ brix là 10,9%, hàm lượng vitamin C đạt khá cao 14,94 mg/100g thịt quả, hàm lượng axit tổng số là 0,73, hàm lượng tanin là 0,23. Kết quả này cho thấy hàm lượng các chất dinh dưỡng trong giống đào Sớm Địa Linh có các chỉ tiêu: Vitamin C, độ brix tương đương và hàm lượng tanin thấp hơn các giống đào khác.
Với cảm quan ăn tươi, thịt quả của giống đào Sớm Địa Linh có độ giòn và chắc, độ róc hạt ở mức trung bình, vị quả ngọt thanh, ít chát, có mùi thơm đặc trưng, dễ chịu.
3.3.Tình hình sâu bệnh hại trên đào Sớm Địa Linh
3.3.1 Tình hình sâu hại
Theo dõi triệu chứng và tỷ lệ cây bị một số sâu hại chính trên giống đào Sớm Địa Linh kết quả thu được bảng 05.
![]() |
Ghi chú: + : <10 % cây bị sâu hại; ++ : 11 - 25 % cây bị sâu hại
+++ : 26 - 50% cây bị sâu hại; ++++: > 50% cây bị sâu hại
Sâu hại chủ yếu đối với đào Sớm Địa Linh như sâu đục thân (Chelidonium argentatum Dalm; Nadezhdiella cantori Hope; Anoplophora chinensis Forster) gây hại gần như quanh năm từ tháng 3 -11, sâu ăn lá (Delias aglaia) gây hại từ tháng 3 - 9, sâu đục ngọn và đục quả (Anarsia lineatella Zeller) gây hại từ tháng 3 – 8 ở mức độ ++ với tỷ lệ khoảng 11 -25% cây bị hại. Do thời gian chín quả đào Sớm Địa Linh vào giữa đến cuối tháng 5 nên ruồi vàng đục quả (Bactrocera dorsalis Hendel) gây hại giống này ở tỷ lệ thấp hơn, mức trung bình (11 - 25% cây bị hại) so với các giống đào khác ở địa phương với mức +++ (26 – 50% cây bị hại).
Qua thực tiễn theo dõi trên vườn đào cho thấy: trong bốn loại sâu hại chính nêu trên thì đối tượng ruồi vàng đục quả thường gây hại nặng, khó phòng trừ và ảnh hưởng lớn đến sản lượng quả. Tiếp đến là sâu đục thân xuất hiện hầu hết thời gian trong năm làm hư hại thân và cành cây, cần phải thường xuyên quan sát, phát hiện và kịp thời phòng trừ.
3.3.2 Tình hình bệnh hại
Có một số bệnh hại phổ biến trên câu đào Sớm Địa Linh là: Bệnh thủng lá (Xanthomonas arboricola) với mức độ thấp + (tỷ lệ cây bị hại ≤10%), bệnh phồng lá (Taphrina deformans) gây hại đối với lá với mức độ ++ (tỷ lệ cây bị hại 11 - 25%), bệnh chảy gôm (Phytophthora sp.) gây hại thân cành với mức độ ++ (tỷ lệ cây bị hại 11 - 25%), chúng thường xuất hiện vào thời điểm từ tháng 5 – 9 hàng năm (Bảng 06). Trong các loại bệnh hại cây đào, bệnh chảy gôm thực tế thường gây hại ảnh hưởng lớn hơn đến cây đào, do đó cần quan tâm biện pháp phòng trừ.
![]() |
Ghi chú: + : <10 % cây bị hại; ++ : 11 - 25 % cây bị hại
+++ : 26 - 50% cây bị hại; ++++: > 50% cây bị hại
4. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
4.1. Kết luận
- Giống đào Sớm Địa Linh (tại bản Váng, xã Địa Linh, huyện Ba Bể cũ), nay là xã Chợ Rã, tỉnh Thái Nguyên có đặc điểm quả chín sớm (giữa đến cuối tháng 5) nên ít bị sâu bệnh, cây 14 năm tuổi có năng suất cao (49,7 kg/ cây), phẩm chất quả ngon, có vị ngọt pha chua (tỷ lệ ăn được 76,6%, độ Brix 10,9%) hình dáng và mầu quả đẹp, có hương thơm, phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng.
- Giống đào Sớm Địa Linh thường bị một số đối tượng gây hại: sâu đục thân, sâu ăn lá, ruồi vàng hại quả và bệnh chảy gôm, thủng lá... Cần thường xuyên quan sát vườn cây, phát hiện để kịp thời phòng trừ.
4.2. Đề nghị
- Có kế hoạch bảo tồn và phát triển giống đào Sớm Địa Linh góp phần phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lê Thị Mỹ Hà, Nguyễn Thị Tuyết, Hoàng Thị Hoài, 2020. Kết quả thử nghiệm một số giống đào nhập nội triển vọng tại xã Công Sơn, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam, 118 (9): 43 - 48.
2. Vũ Phong Lâm, Trần Thế Mạnh, Ngô Xuân Bình (2014). Tuyển chọn cây ưu tú giống đào H’Mông tại khu vực đèo Pha Đin thuộc 2 tỉnh Sơn La và Điện Biên. Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Thái Nguyên, 118(4), tr. 33 - 40.
3. Vũ Mạnh Hải, Bùi Quang Đãng, Lê Quốc Anh, Đào Thế Anh, Nguyễn Doãn Hùng, Nguyễn Ngọc Mai, Đỗ Thị Thu Hường, Hà Quang Thưởng, Hà Mạnh Phong, Trần Văn Luyện, Vũ Văn Khánh, Lê Thị Mỹ Hà, Nguyễn Thị Hiền, Đỗ Hải Long, Lương Thị Huyền (2021). Diễn biến độ lạnh (CU) trong mối quan hệ với phát triển cây ăn quả ôn đới ở một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam, 5(126), tr. 47 – 54.
4. Dinh Ha Tran, Thanh Huyen Dao, Xuan Binh Ngo, Van Hong Nguyen, Thanh Van Dao, and Tien Dung Nguyen (2025). Genetic Diversity of Peach (Prunus persica) Accessions Collected in Northern Vietnam Using ISSR Markers. Diversity, 17(3), tr. 1- 10.