Thứ ba 16/06/2026 22:38Thứ ba 16/06/2026 22:38 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Tìm lời giải cho phát triển kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp Việt Nam

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Ngày 26/5/2026, tại Hà Nội, Viện Chính sách Kinh tế môi trường phối hợp với UNDP Việt Nam và Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường tổ chức Tọa đàm "Thực trạng và triển vọng áp dụng kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp". Sự kiện góp phần nhận diện rõ hơn tiềm năng, điểm nghẽn và các giải pháp để đưa kinh tế tuần hoàn từ định hướng chính sách vào mô hình sản xuất nông nghiệp cụ thể, hiệu quả và bền vững.
Tìm lời giải cho phát triển kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp Việt Nam
Chương trình Tọa đàm “Thực trạng và triển vọng áp dụng kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp” với sự tham gia của nhiều chuyên gia về kinh tế môi trường, nông nghiệp hữu cơ và chính sách nông nghiệp.

Tọa đàm nằm trong khuôn khổ Dự án “Thúc đẩy Kinh tế tuần hoàn cho doanh nghiệp” do Đại sứ quán Hà Lan tài trợ thông qua UNDP Việt Nam. Đây là diễn đàn trao đổi chuyên sâu giữa các nhà quản lý, chuyên gia, nhà khoa học và tổ chức hỗ trợ phát triển nhằm đánh giá thực trạng triển khai kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp; đồng thời đề xuất các giải pháp về cơ chế chính sách, tiêu chuẩn, công nghệ, tài chính xanh và liên kết thị trường.

Tham dự tọa đàm có PGS.TS Lưu Đức Hải, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Kinh tế môi trường Việt Nam; PGS.TS Nguyễn Thế Chinh, Phó Chủ tịch Hội Kinh tế môi trường Việt Nam, Viện trưởng Viện Chính sách Kinh tế môi trường; GS.TS Hoàng Xuân Cơ, Trưởng ban Khoa học, Hội Kinh tế môi trường Việt Nam; GS.TS Đào Thanh Vân, Phó Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam; TS Lại Văn Mạnh, Trưởng ban Kinh tế tài nguyên và môi trường, Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường; bà Hoàng Thị Diệu Linh, Cán bộ chương trình Kinh tế tuần hoàn và Xử lý chất thải của UNDP Việt Nam, cùng nhiều chuyên gia, nhà khoa học.

PGS.TS Nguyễn Thế Chinh, Phó Chủ tịch Hội Kinh tế môi trường Việt Nam, Viện trưởng Viện Chính sách Kinh tế môi trường, phát biểu đề dẫn tại tọa đàm.
PGS.TS Nguyễn Thế Chinh, Phó Chủ tịch Hội Kinh tế môi trường Việt Nam, Viện trưởng Viện Chính sách Kinh tế môi trường, phát biểu đề dẫn tại tọa đàm.

Kinh tế tuần hoàn không chỉ là xử lý chất thải

Phát biểu đề dẫn tọa đàm, PGS.TS Nguyễn Thế Chinh nhấn mạnh, chuyển đổi từ mô hình kinh tế tuyến tính sang kinh tế tuần hoàn không chỉ là câu chuyện của riêng lĩnh vực môi trường. Đây là yêu cầu có tính liên ngành, cần được đặt trong nhiều lĩnh vực sản xuất như khai thác khoáng sản, công nghiệp, nông nghiệp và quản lý chất thải.

Theo PGS.TS Nguyễn Thế Chinh, các diễn đàn tham vấn chính sách có vai trò quan trọng trong việc tập hợp ý kiến chuyên gia, từ đó góp phần hoạch định chính sách sát hơn với thực tiễn phát triển của Việt Nam. Với nông nghiệp, kinh tế tuần hoàn không thể chỉ dừng lại ở việc tận dụng chất thải sau sản xuất, mà cần được nhìn nhận như một cách tổ chức lại chuỗi giá trị: từ đầu vào, sản xuất, thu gom, chế biến, phân phối, tiêu dùng đến tái sử dụng phụ phẩm.

Từ góc độ hỗ trợ doanh nghiệp, bà Hoàng Thị Diệu Linh cho biết, nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp về kinh tế tuần hoàn đã thay đổi rõ rệt trong vài năm gần đây. Nếu như năm 2022, khái niệm này còn tương đối mới với nhiều doanh nghiệp, thì đến năm 2025, sau các chương trình đào tạo và hỗ trợ chính sách, nhiều doanh nghiệp đã chủ động xây dựng kế hoạch kinh doanh tuần hoàn, tìm kiếm tư vấn chuyên gia và kết nối với các tổ chức hỗ trợ.

Điều đó cho thấy kinh tế tuần hoàn đang dần chuyển từ phạm vi nhận thức sang nhu cầu hành động. Tuy nhiên, để doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ sản xuất thực sự đầu tư vào mô hình tuần hoàn, cần có một hệ sinh thái chính sách đủ rõ, đủ ổn định và đủ khả thi.

GS.TS Hoàng Xuân Cơ nhấn mạnh phụ phẩm nông nghiệp cần được nhìn nhận là nguồn tài nguyên thứ cấp, góp phần nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của nông sản.
GS.TS Hoàng Xuân Cơ nhấn mạnh phụ phẩm nông nghiệp cần được nhìn nhận là nguồn tài nguyên thứ cấp, góp phần nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của nông sản.

Phụ phẩm nông nghiệp: Nguồn tài nguyên thứ cấp lớn

Một trong những nội dung được các chuyên gia tập trung phân tích là tiềm năng rất lớn của phụ phẩm nông nghiệp Việt Nam. GS.TS Hoàng Xuân Cơ cho rằng, trong bối cảnh cạnh tranh nông sản ngày càng gay gắt, năng lực cạnh tranh không chỉ được quyết định bởi chất lượng, giá thành, mẫu mã hay tiếp thị, mà còn bởi yếu tố thân thiện với môi trường và tính minh bạch thông tin.

Từ góc nhìn đó, phụ phẩm nông nghiệp không nên bị coi đơn thuần là chất thải, mà cần được nhìn nhận là nguồn nguyên liệu thứ cấp có thể tạo ra giá trị mới. Trong chuỗi lúa gạo, rơm rạ là phụ phẩm có khối lượng rất lớn, giàu chất hữu cơ, cellulose và khoáng vi lượng, có thể phục vụ sản xuất phân hữu cơ, năng lượng sinh học, vật liệu xanh và các ngành công nghiệp sinh học. Vỏ trấu, cám gạo cũng là nguồn nguyên liệu có giá trị cho nhiều lĩnh vực như thức ăn chăn nuôi, thực phẩm, dược phẩm, mỹ phẩm và vật liệu sinh học.

Không chỉ lúa gạo, các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản đều phát sinh lượng lớn phụ phẩm, chất thải hữu cơ và vật liệu có thể tái chế. Rơm rạ, thân cây ngô, bã mía, vỏ cà phê, vỏ trấu, phân gia súc, nước thải chăn nuôi, phụ phẩm thủy sản, vỏ tôm, đầu cá, bùn thải nuôi trồng thủy sản… nếu được phân loại, thu gom và xử lý đúng cách có thể trở thành phân bón hữu cơ, khí sinh học, thức ăn cho trùn quế, ruồi lính đen, nhiên liệu sinh học hoặc nguyên liệu cho các ngành công nghiệp giá trị cao.

Tuy nhiên, theo đánh giá tại tọa đàm, tỷ lệ tái chế, tái sử dụng phụ phẩm nông nghiệp hiện vẫn còn thấp, chủ yếu diễn ra ở quy mô nhỏ lẻ, phân tán. Nhiều loại phụ phẩm chưa được thu gom hiệu quả, thậm chí còn bị đốt bỏ hoặc thải trực tiếp ra môi trường, gây lãng phí tài nguyên, phát thải khí nhà kính và tạo áp lực ô nhiễm tại khu vực nông thôn.

Từ thực tế đó, GS.TS Hoàng Xuân Cơ đề xuất cần tăng cường truyền thông tới cộng đồng, đầu tư cho nghiên cứu cơ bản, có cơ chế ưu tiên đối với ngành sản xuất sử dụng phụ phẩm nông nghiệp, đồng thời hỗ trợ các sản phẩm nông nghiệp có phụ phẩm được tái chế, tái sử dụng hiệu quả. Bên cạnh đó, việc nâng cao hiểu biết của người tiêu dùng và thúc đẩy thị trường cho sản phẩm có yếu tố tuần hoàn cũng là điều kiện quan trọng để mô hình này phát triển bền vững.

Tìm lời giải cho phát triển kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp Việt Nam
GS.TS Đào Thanh Vân, Phó Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam trình bày tham luận về thúc đẩy kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp thông qua chứng nhận hữu cơ và tiêu chuẩn xanh.

Tiêu chuẩn xanh và tiêu chí mô hình nông nghiệp tuần hoàn

Trình bày tại tọa đàm, GS.TS Đào Thanh Vân nhấn mạnh mối quan hệ chặt chẽ giữa nông nghiệp hữu cơ, tiêu chuẩn xanh và kinh tế tuần hoàn. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, suy thoái tài nguyên, yêu cầu truy xuất nguồn gốc và giảm phát thải ngày càng khắt khe, sản xuất nông nghiệp không thể tiếp tục dựa vào mô hình khai thác tài nguyên theo chiều rộng.

Theo GS.TS Đào Thanh Vân, kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp là quá trình chuyển từ mô hình tuyến tính sang mô hình tuần hoàn; trong đó phụ phẩm được tái sử dụng, tài nguyên đất, nước, khí hậu và đa dạng sinh học được tối ưu, vòng tuần hoàn dinh dưỡng được khép kín, phát thải được cắt giảm và giá trị gia tăng của sản phẩm được nâng lên.

Nông nghiệp hữu cơ có nhiều điểm tương đồng với kinh tế tuần hoàn khi dựa trên các chu trình sinh thái, bảo vệ tài nguyên đất, hệ sinh thái và sức khỏe con người. Sản xuất hữu cơ khuyến khích tái sử dụng sinh khối, phụ phẩm để sản xuất phân hữu cơ; hạn chế các yếu tố gây tác động tiêu cực đến môi trường; tăng đa dạng sinh học; bảo vệ đất, nước và hệ sinh thái.

Đặc biệt, trong bối cảnh thị trường EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản và nhiều khu vực khác ngày càng coi trọng tiêu dùng xanh, phát thải thấp, truy xuất nguồn gốc và trách nhiệm môi trường, chứng nhận hữu cơ và tiêu chuẩn xanh không chỉ là công cụ kỹ thuật. Đây còn là “giấy thông hành” giúp nông sản Việt Nam nâng cao uy tín, mở rộng thị trường, đáp ứng yêu cầu của chuỗi cung ứng toàn cầu và gia tăng giá trị thương mại.

Từ đó, kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp không nên được hiểu tách rời với quá trình chuẩn hóa sản xuất. Muốn phụ phẩm trở thành tài nguyên, muốn sản phẩm tuần hoàn có chỗ đứng trên thị trường, cần có tiêu chí đánh giá, chứng nhận, nhãn nhận diện, cơ chế truy xuất nguồn gốc và hệ thống dữ liệu đủ tin cậy.

Ở góc độ chính sách, TS Lại Văn Mạnh cho rằng, để kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp đi vào thực tiễn, trước hết cần nhận diện đúng mô hình, phân loại rõ lĩnh vực áp dụng và xây dựng bộ tiêu chí phù hợp.

Theo cách tiếp cận được trình bày tại tọa đàm, nông nghiệp tạo ra nhiều sản phẩm đầu ra, đồng thời phát sinh nguyên liệu, phụ phẩm và chất thải trong suốt chuỗi giá trị. Do đó, kinh tế tuần hoàn có thể được áp dụng trong nhiều lĩnh vực như trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản, chế biến thực phẩm, chế biến gỗ và liên kết nông - lâm - ngư nghiệp với công nghiệp, dịch vụ.

Các mô hình tuần hoàn tiềm năng gồm thiết kế và sản xuất tuần hoàn trong canh tác, chăn nuôi, thủy sản, trồng rừng; sản xuất nguyên liệu và sản phẩm có nguồn gốc sinh học, hữu cơ; phục hồi tài nguyên thông qua thu gom, tái chế, thu hồi khí sinh học, cải tạo đất; liên kết tuần hoàn giữa nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, thực phẩm và du lịch nông nghiệp.

Một số mô hình phổ biến đã có nền tảng tại Việt Nam như vườn - ao - chuồng, vườn - ao - chuồng - rừng, lúa - tôm, lúa - cá, nông lâm kết hợp, sử dụng chất thải chăn nuôi để sản xuất biogas, ủ phân hữu cơ, nuôi trùn quế hoặc dùng phụ phẩm cây trồng làm thức ăn gia súc, đệm lót sinh học. Những mô hình này không mới, nhưng cần được chuẩn hóa bằng tiêu chí kỹ thuật, tiêu chí môi trường, cơ chế đo lường và khả năng nhân rộng.

Đối với trồng trọt, các tiêu chí có thể tập trung vào tỷ lệ phụ phẩm được thu gom, xử lý, tái chế, tái sử dụng; tỷ lệ giảm sử dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật; mức giảm phát thải khí nhà kính nếu có. Đối với chăn nuôi, yêu cầu quan trọng là xử lý chất thải rắn, nước thải, khí metan, tái sử dụng phụ phẩm làm phân bón, năng lượng tái tạo hoặc sản phẩm hữu ích khác; đồng thời bảo đảm khả năng truy xuất nguồn gốc của phụ phẩm, chất thải và sản phẩm tạo ra.

Đối với thủy sản, mô hình tuần hoàn có thể gắn với hệ thống nuôi tuần hoàn nước, biofloc, nuôi đa tầng, xử lý sinh học hoặc mô hình tích hợp nuôi - chế biến - năng lượng. Trong khi đó, các mô hình liên kết tuần hoàn cần chú trọng sự phù hợp với đặc điểm vùng, địa phương, khả năng thu gom phụ phẩm, tiêu chuẩn xử lý chất thải, nước thải và cơ chế hợp tác giữa nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và cơ quan quản lý.

Kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp cần được tổ chức theo chuỗi, từ thu gom phụ phẩm, xử lý, tái chế đến tái sử dụng trong sản xuất, qua đó biến chất thải thành nguồn tài nguyên có giá trị.
Kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp cần được tổ chức theo chuỗi, từ thu gom phụ phẩm, xử lý, tái chế đến tái sử dụng trong sản xuất, qua đó biến chất thải thành nguồn tài nguyên có giá trị.

Cần chính sách và liên kết chuỗi để đưa mô hình vào thực tiễn

Tại tọa đàm, các chuyên gia thống nhất rằng Việt Nam đã có những bước đi quan trọng trong xây dựng nền tảng chính sách cho kinh tế tuần hoàn. Quyết định số 222/QĐ-TTg ngày 23/1/2025 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện kinh tế tuần hoàn đến năm 2035 được xem là cơ sở quan trọng để thúc đẩy mô hình này trong các lĩnh vực trọng điểm, trong đó có nông nghiệp.

Bên cạnh đó, Luật Bảo vệ môi trường 2025, các chính sách về tăng trưởng xanh, khoa học công nghệ phục vụ nông nghiệp tuần hoàn, danh mục phân loại xanh, tín dụng xanh, trái phiếu xanh và cơ chế hỗ trợ lãi suất cho dự án xanh, tuần hoàn đang tạo ra khung chính sách ngày càng rõ hơn.

Tuy nhiên, từ chính sách đến thực tiễn vẫn còn khoảng cách. Việt Nam hiện vẫn thiếu hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia cho sản phẩm nông nghiệp tuần hoàn; thiếu nhãn mác, nhãn chứng nhận; thiếu chính sách tín dụng xanh đủ thuận lợi cho doanh nghiệp nhỏ, hợp tác xã và hộ sản xuất; thiếu bảo hiểm rủi ro, cơ chế khuyến khích đầu tư công nghệ xử lý phụ phẩm và đặc biệt là thiếu dữ liệu về phụ phẩm, bản đồ phát sinh chất thải, chuỗi phát thải theo vùng, ngành hàng.

Những thiếu hụt này khiến doanh nghiệp khó tính toán hiệu quả đầu tư, khó tiếp cận vốn, khó chứng minh giá trị môi trường của sản phẩm và khó xây dựng mô hình tuần hoàn ở quy mô lớn. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là cần nhanh chóng cụ thể hóa các văn bản hướng dẫn về dự án xanh, dự án tuần hoàn, tiêu chí môi trường - xã hội - quản trị, tiêu chuẩn kỹ thuật và cơ chế đo lường phát thải.

Một điểm nhấn quan trọng được đặt ra tại tọa đàm là kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp không thể vận hành hiệu quả nếu thiếu liên kết. Với đặc thù sản xuất nông nghiệp Việt Nam còn phân tán, quy mô hộ nhỏ, việc thu gom phụ phẩm, xử lý chất thải và hình thành sản phẩm tái chế sẽ rất khó nếu từng hộ sản xuất tự thực hiện riêng lẻ.

Do đó, hợp tác xã, tổ hợp tác, doanh nghiệp dịch vụ môi trường, doanh nghiệp chế biến, viện nghiên cứu và chính quyền địa phương cần cùng tham gia vào chuỗi tuần hoàn. Chất thải chăn nuôi có thể trở thành phân bón hữu cơ cho cây trồng hoặc nguyên liệu sản xuất biogas; phụ phẩm cây trồng có thể được ủ làm phân hữu cơ, thức ăn gia súc hoặc đệm lót sinh học; phụ phẩm chế biến thực phẩm có thể quay trở lại nông trại dưới dạng phân bón, nhiên liệu sinh học hoặc vật liệu sinh học.

Khi được tổ chức theo chuỗi, phụ phẩm không còn là gánh nặng xử lý của từng hộ sản xuất mà trở thành dòng nguyên liệu có giá trị kinh tế. Đây cũng là cách để giảm chi phí đầu vào, tăng khả năng chống chịu của hệ thống nông nghiệp trước biến đổi khí hậu, nâng cao chất lượng môi trường nông thôn và tạo thêm sinh kế cho cộng đồng địa phương.

Tuy nhiên, để làm được điều đó, cần có cơ chế khuyến khích đầu tư vào hạ tầng thu gom, sơ chế, xử lý phụ phẩm; hỗ trợ hợp tác xã xây dựng mô hình dịch vụ tuần hoàn; phát triển thị trường cho phân bón hữu cơ, năng lượng sinh học, vật liệu sinh học; đồng thời nâng cao nhận thức của người tiêu dùng về giá trị của sản phẩm được sản xuất theo tiêu chuẩn xanh, chứng nhận hữu cơ và thực hành tuần hoàn.

Tọa đàm “Thực trạng và triển vọng áp dụng kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp” cho thấy kinh tế tuần hoàn không còn là khái niệm xa vời, mà đang trở thành một yêu cầu cụ thể trong quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng nông nghiệp. Với nguồn phụ phẩm lớn, hệ thống sản xuất đa dạng, nhu cầu giảm phát thải ngày càng cấp thiết và áp lực tiêu chuẩn từ thị trường xuất khẩu, Việt Nam có nhiều lợi thế để phát triển nông nghiệp tuần hoàn.

Dù vậy, lợi thế chỉ có thể chuyển thành động lực phát triển nếu được hỗ trợ bằng chính sách rõ ràng, tiêu chí cụ thể, cơ sở dữ liệu đầy đủ, tín dụng xanh khả thi, công nghệ phù hợp và liên kết chuỗi hiệu quả. Kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp không chỉ là giải pháp môi trường, mà còn là con đường nâng cao năng lực cạnh tranh nông sản, gia tăng giá trị phụ phẩm, giảm chi phí sản xuất và xây dựng nền nông nghiệp xanh, bền vững hơn.

Từ định hướng chính sách đến hành động thực tiễn, điều quan trọng nhất là biến từng dòng phụ phẩm thành tài nguyên, từng mô hình nhỏ thành chuỗi giá trị và từng tiêu chuẩn xanh thành động lực để nông nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào thị trường toàn cầu.

HTX tận dụng vỏ cà phê, biến phế phẩm thành giá trị kinh tế tuần hoàn HTX tận dụng vỏ cà phê, biến phế phẩm thành giá trị kinh tế tuần hoàn

Nhiều HTX đang đẩy mạnh chế biến vỏ cà phê thành phân bón hữu cơ và sản phẩm giá trị gia tăng, giúp tiết kiệm ...

Kinh tế tuần hoàn: Giải pháp phát triển doanh nghiệp bền vững Kinh tế tuần hoàn: Giải pháp phát triển doanh nghiệp bền vững

Khi tài nguyên thiên nhiên ngày càng cạn kiệt, áp lực môi trường gia tăng và yêu cầu phát triển bền vững trở thành xu ...

Khởi động Dự án Hỗ trợ kinh tế tuần hoàn xanh thông qua cải thiện chuỗi giá trị nông nghiệp ở miền Bắc Việt Nam Khởi động Dự án Hỗ trợ kinh tế tuần hoàn xanh thông qua cải thiện chuỗi giá trị nông nghiệp ở miền Bắc Việt Nam

Tại Cao Bằng sáng 25/3/2026, UBND tỉnh Cao Bằng phối hợp với Cơ quan Hợp tác quốc tế Hàn Quốc (KOICA) và các đối tác ...

Tập trung phát triển nông nghiệp công nghệ cao, hữu cơ tuần hoàn Tập trung phát triển nông nghiệp công nghệ cao, hữu cơ tuần hoàn

TP.HCM sẽ tập trung chuyển giao công nghệ, phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ và kinh tế tuần hoàn trong ...

Đa dạng sinh học góp phần thúc đẩy tăng trưởng xanh tại Việt Nam Đa dạng sinh học góp phần thúc đẩy tăng trưởng xanh tại Việt Nam

Việt Nam hiện duy trì hơn 180 khu bảo tồn thiên nhiên với tổng diện tích trên 2,67 triệu ha, đồng thời huy động hàng ...

Bài liên quan

Thống nhất chủ trương tổ chức kỷ niệm 15 năm thành lập Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam

Thống nhất chủ trương tổ chức kỷ niệm 15 năm thành lập Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam

Bộ Nông nghiệp và Môi trường thống nhất chủ trương tổ chức các hoạt động kỷ niệm 15 năm thành lập Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam theo hướng xã hội hóa, thiết thực, hiệu quả, tiết kiệm, tránh hình thức; đồng thời yêu cầu chuỗi hoạt động phải gắn với mục tiêu thúc đẩy phát triển nông nghiệp hữu cơ, lan tỏa giá trị sản xuất xanh, tiêu dùng bền vững và nâng tầm vị thế nông nghiệp hữu cơ Việt Nam.

CÁC TIN BÀI KHÁC

Xu thế phát triển nông nghiệp hữu cơ trên thế giới và hướng đi của Việt Nam

Xu thế phát triển nông nghiệp hữu cơ trên thế giới và hướng đi của Việt Nam

Nông nghiệp hữu cơ là phương thức sản xuất thân thiện với môi trường, hạn chế hóa chất tổng hợp, ưu tiên sử dụng nguồn vật tư tự nhiên. Xu hướng này được thúc đẩy bởi nhận thức về sức khỏe, môi trường, và hỗ trợ từ chính phủ. Việt Nam có nhiều tiềm năng phát triển nông nghiệp hữu cơ nhờ lịch sử canh tác truyền thống ít phụ thuộc hóa chất.
Việt Nam đứng thứ 5 châu Á về diện tích sản xuất nông nghiệp hữu cơ

Việt Nam đứng thứ 5 châu Á về diện tích sản xuất nông nghiệp hữu cơ

Theo Báo cáo thường niên The World of Organic Agriculture 2026, diện tích sản xuất nông nghiệp hữu cơ của Việt Nam đến cuối năm 2024 đạt 125.045 ha, đứng thứ 5 trong nhóm 10 quốc gia châu Á có diện tích hữu cơ lớn nhất. Kết quả này cho thấy nông nghiệp hữu cơ Việt Nam đã có bước hiện diện rõ hơn trên bản đồ khu vực, nhưng dư địa phát triển vẫn còn rất lớn khi diện tích hữu cơ mới chiếm khoảng 1,07% tổng diện tích đất nông nghiệp cả nước.
Môi trường xanh sinh học - Nền tảng của hệ sinh thái cân bằng

Môi trường xanh sinh học - Nền tảng của hệ sinh thái cân bằng

Môi trường xanh sinh học là một khái niệm quan trọng trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Đây là môi trường sống mà ở đó các yếu tố sinh học như thực vật, động vật, vi sinh vật và con người cùng tồn tại, tương tác và phát triển trong sự cân bằng sinh thái.
Nông nghiệp hữu cơ - Nền tảng của nông nghiệp xanh: Lý luận, thực tiễn và định hướng phát triển ở Việt Nam

Nông nghiệp hữu cơ - Nền tảng của nông nghiệp xanh: Lý luận, thực tiễn và định hướng phát triển ở Việt Nam

Nông nghiệp hữu cơ là nền tảng của nông nghiệp xanh, hướng đến sản xuất an toàn, bền vững và thân thiện với môi trường. Phương thức này hạn chế hóa chất tổng hợp, bảo vệ đất, nước, đa dạng sinh học, đồng thời tạo ra nông sản chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hiện đại.
ESG - Xu hướng phát triển vững chắc của doanh nghiệp hiện đại

ESG - Xu hướng phát triển vững chắc của doanh nghiệp hiện đại

Trong những năm gần đây, ESG (Environmental, Social, and Governance), hay Môi trường, Xã hội và Quản trị, đã trở thành một trong những tiêu chí quan trọng đánh giá mức độ phát triển bền vững của doanh nghiệp. Không chỉ là một khái niệm mang tính học thuật, ESG đang dần trở thành thước đo uy tín, năng lực cạnh tranh và khả năng phát triển lâu dài của các tổ chức trên toàn thế giới. Khi biến đổi khí hậu, bất bình đẳng xã hội và yêu cầu minh bạch ngày càng cao từ nhà đầu tư cũng như người tiêu dùng, việc áp dụng ESG được xem là xu hướng tất yếu đối với các doanh nghiệp hiện đại.
Tháo gỡ điểm nghẽn, thúc đẩy phát triển nông nghiệp hữu cơ bền vững

Tháo gỡ điểm nghẽn, thúc đẩy phát triển nông nghiệp hữu cơ bền vững

Chiều 8/6, tại trụ sở của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng chủ trì buổi làm việc với Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam nhằm trao đổi về kết quả hoạt động của Hiệp hội, tình hình thực hiện chính sách nông nghiệp hữu cơ, các kiến nghị tháo gỡ khó khăn, đồng thời thống nhất một số định hướng phối hợp trong thời gian tới.
Tại sao người tiêu dùng còn hoài nghi về sản phẩm nông sản hữu cơ?

Tại sao người tiêu dùng còn hoài nghi về sản phẩm nông sản hữu cơ?

Trong những năm gần đây, nông sản hữu cơ được xem là xu hướng tiêu dùng xanh và là hướng đi quan trọng của nền nông nghiệp bền vững. Các sản phẩm hữu cơ được quảng bá là an toàn cho sức khỏe, thân thiện với môi trường và góp phần bảo vệ hệ sinh thái. Tuy nhiên, dù thị trường nông sản hữu cơ ngày càng mở rộng, không ít người tiêu dùng vẫn tỏ ra hoài nghi về chất lượng và tính xác thực của các sản phẩm mang nhãn hữu cơ. Sự hoài nghi này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, từ thực trạng thị trường đến nhận thức xã hội và cơ chế quản lý.
Nông nghiệp hữu cơ - Căn cốt kiến tạo môi trường sống bền vững

Nông nghiệp hữu cơ - Căn cốt kiến tạo môi trường sống bền vững

Không chỉ tạo ra thực phẩm an toàn, nông nghiệp hữu cơ còn góp phần phục hồi hệ sinh thái, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và nâng cao chất lượng môi trường sống.
Chuyển giao công nghệ canh tác bền vững cho sầu riêng và cà phê Tây Nguyên

Chuyển giao công nghệ canh tác bền vững cho sầu riêng và cà phê Tây Nguyên

Trong bối cảnh ngành nông nghiệp Việt Nam đang chuyển mạnh sang hướng sản xuất xanh, giảm phát thải và đáp ứng tiêu chuẩn thị trường quốc tế, việc ra mắt “Mô hình chuyển giao công nghệ canh tác bền vững trên cây sầu riêng và cà phê” tại Tây Nguyên ngày 06/6/2026 mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây không chỉ là một mô hình trình diễn kỹ thuật, mà còn là giải pháp tổng thể nhằm tái cấu trúc phương thức sản xuất theo hướng hiện đại, hiệu quả và bền vững.
Khuyến nông Đắk Lắk chia sẻ kinh nghiệm ứng dụng công nghệ số trong sản xuất nông nghiệp

Khuyến nông Đắk Lắk chia sẻ kinh nghiệm ứng dụng công nghệ số trong sản xuất nông nghiệp

Trung tâm Khuyến nông tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức buổi làm việc, trao đổi chuyên môn và chia sẻ kinh nghiệm về ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số trong hoạt động khuyến nông với đoàn công tác của Trung tâm Khuyến nông Nghệ An.
Cần tháo gỡ “khoảng trống” quản lý hơn 3 triệu ha rừng do UBND cấp xã quản lý

Cần tháo gỡ “khoảng trống” quản lý hơn 3 triệu ha rừng do UBND cấp xã quản lý

Từ thực tiễn quản lý và yêu cầu phát triển lâm nghiệp bền vững, nhiều vấn đề về cơ chế và nguồn lực đang được đặt ra đối với diện tích rừng chưa giao, chưa cho thuê. Theo số liệu công bố hiện trạng rừng năm 2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, hơn 3,07 triệu ha rừng chưa giao, chưa cho thuê hiện do Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về hoàn thiện thể chế, dữ liệu, nguồn lực và cơ chế quản trị, nhất là trong bối cảnh Việt Nam thực hiện cam kết Net Zero, phát triển thị trường các-bon rừng và đáp ứng các quy định mới về truy xuất nguồn gốc nông lâm sản.
Giữ vững thương hiệu nông sản hữu cơ - Chìa khóa cho sự phát triển bền vững

Giữ vững thương hiệu nông sản hữu cơ - Chìa khóa cho sự phát triển bền vững

Ngày nay, người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến sức khỏe và môi trường, nông sản hữu cơ đang trở thành một xu hướng phát triển mạnh mẽ trên toàn thế giới. Tại Việt Nam, diện tích sản xuất hữu cơ không ngừng được mở rộng, nhiều sản phẩm đã khẳng định được vị thế trên thị trường trong nước và quốc tế. Tuy nhiên, xây dựng được thương hiệu đã khó, giữ vững thương hiệu nông sản hữu cơ còn khó hơn rất nhiều. Đây là nhiệm vụ quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển lâu dài của các doanh nghiệp, hợp tác xã và người nông dân tham gia sản xuất hữu cơ.
XEM THÊM
dam-ca-mau-chi-vi-hoa
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2025 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính