Thứ tư 24/06/2026 16:04Thứ tư 24/06/2026 16:04 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Hiện trạng và giải pháp phát triển bền vững cây mắc ca tại tỉnh Đắk Lắk

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Tỉnh Đắk Lắk có điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển cây mắc ca, các nghiên cứu trồng khảo nghiệm mắc ca được thực hiện từ đầu những năm 2000 (năm 2002, 2004), kết quả cho thấy cây mắc ca có sự thích nghi tốt và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người trồng.
Ảnh minh họa.
Ảnh minh họa.

1. Mở đầu

Tỉnh Đắk Lắk có điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển cây mắc ca, các nghiên cứu trồng khảo nghiệm mắc ca được thực hiện từ đầu những năm 2000 (năm 2002, 2004), kết quả cho thấy cây mắc ca có sự thích nghi tốt và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người trồng. Tính đến cuối năm 2024, diện tích mắc ca trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk vào khoảng 5.000 ha, sản lượng đạt trên 10.000 tấn hạt mỗi năm. Tuy nhiên việc trồng mắc ca tại Đắk Lắk cơ bản tự phát và theo kinh nghiệm là chính nên bộc lộ không ít vấn đề như giống trồng phù hợp, vùng trồng an toàn về mặt sinh thái (đảm bảo yêu cầu sinh thái cho cây mắc ca sinh trưởng, phát triển cho năng suất), kỹ thuật canh tác … do vậy cần có những đánh giá tổng thể và đề xuất giải pháp phát triển bền vững cây mắc ca tại Đắk Lắk.

2. Nội dung và phương pháp nghiên cứu

2.1. Nội dung nghiên cứu

Phân tích hiện trạng phát triển cây mắc ca tại Đắk Lắk

Đề xuất giải pháp phát triển bền vững cây mắc ca tại Đắk Lắk

2.2. Phương pháp nghiên cứu

Áp dụng phương pháp đánh giá có sự tham gia kết hợp với quan trắc trực tiếp trên đồng ruộng để thu thập dữ liệu về canh tác mắc ca.

Phân tích, tổng hợp các yếu tố liên qua đến sản xuất, tiêu thụ sản phẩm cây mắc ca trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk (Phân tích SWOT), trên cơ sở đó đề xuất giải pháp phát triển cây mắc ca trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk (Bao gồm: Nhóm giải pháp về quy hoạch, giải pháp về giống và kỹ thuật canh tác tổng hợp, giải pháp về thị trường; …)

Kế thừa dữ liệu từ các kết quả nghiên cứu trước.

3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

3.1. Hiện trạng canh tác mắc ca tại Đắk Lắk

Tính đến 12/2022, tổng diện tích mắc ca trồng tại Đắk Lắk là 3.748,7 ha, tập trung ở các huyện Krông Năng, Ea H’leo, Ea Kar, Krông Búk. Trong đó, diện tích trồng xen là 3.019,41 ha và diện tích trồng thuần là 729,29 ha.

Bảng 1. Diện tích mắc ca theo vùng trồng

TT

Huyện

Diện tích (ha)

1

Krông Năng

2503,3

2

EaH’leo

657,9

3

Krông Pắk

190,2

4

Ea Kar

164,1

5

Kông Búk

124,8

6

M’Đrắk

66,5

7

Krông Ana

18,5

8

Cư Kuin

18,3

9

Krông Bông

5,2

Tổng

3.748,8

Nguồn. Báo cáo của Sở NN & PTNT Đắk Lắk, 14/4/2023

Số liệu thống kê mới nhất (12/2024) cho thấy, diện tích trồng mắc ca tại Đắk Lắk ước đạt 5.000 ha, tăng khoảng 3.500 ha so với diện tích mắc ca trồng được tính đến năm 2020 (1.588 ha)

Hiện trạng và giải pháp phát triển bền vững cây mắc ca tại tỉnh Đắk Lắk
Hình 1. Diễn biến diện tích trồng mắc ca tại Đắk Lắk trong 5 năm gần nhất

Kết quả khảo sát từ 180 hộ trồng mắc ca (với diện tích 251,1 ha) trên địa bàn 6 huyện của tỉnh Đắk Lắk cho thấy, tỷ lệ diện tích trồng xen và trồng thuần là khác nhau khá rõ theo từng địa phương. Trong đó tại EaH’Leo và Krông Năng có tỷ lệ trồng xen cao trên 50% và chủ yếu là trồng xen với cà phê (chiếm 70%), số còn lại là xen với sầu riêng, bơ, giổi, tiêu, điều….

Bảng 2. Tỷ lệ % diện tích trồng xen, trồng thuần tại các huyện điều tra

TT

Huyện điều tra

Tỷ lệ diện tích cây mắc ca trồng xen (%)

Tỷ lệ diện tích cây mắc ca trồng thuần (%)

1

Ea H’Leo

77,4

22,6

2

Krông Búk

25,9

74,1

3

Krông Năng

50,2

49,8

4

M’Đrăk

29,5

70,5

5

Ea Kar

32,4

67,6

6

Lắk

10,4

89,6

Kết quả khảo sát về độ cao vùng trồng, mật độ trồng và năng suất bình quân trên cây được thể hiện ở bảng 3.

Bảng 3. Độ cao địa hình, mật độ trồng và năng suất mắc ca tại các huyện điều tra

Huyện

Độ cao

(m)

Khoảng cách trồng (m)

Tuổi cây

NS TB/cây

(kg)

NS cao nhất/cây (kg)

Ea H’leo

650-800

6x8, 6x9, 6x10, 9x9, 12x12

4-6

8,0

15

7-10

10,0

20

>10

16,4

30

Krông Búk

600-700

6x6, 7x7, 6x9, 9x9, 9x12

4-6

6,0

18

7-10

10,4

30

>10

13,9

35

Krông Năng

680-850

6x6, 6x9, 9x9, 9x12

4-6

9,5

23

7-10

16,4

50

>10

21,5

60

M’Đrăk

550-600

5x5, 6x6, 7x7, 6x9

4-6

3,0

7

7-10

9,5

25

Ea Kar

500-560

6x6, 6x9, 9x9, 9x12

7-10

8,7

15

>10

8,8

21

Lắk

450-600

6x6, 6x9, 9x9

4-6

3,6

6

7-10

5,0

9

Phần lớn diện tích mắc ca khảo sát tại 6 huyện của tỉnh Đắk Lắk được trồng ở những vùng có độ cao so với mực nước biển từ 430-850 m, trong đó vùng trồng ở 3 huyện Krông Năng, Krông Búk và Ea H’leo phân bố ở độ cao từ 600-850m và vùng trồng ở 3 huyện M’Đrăk, Ea Kar và Lăk phân bố ở độ cao từ 450-600m.

Mật độ trồng mắc ca biến động theo phương thức trồng. Trồng thuần, mật độ phổ biến từ 278-400 cây/ha, trồng xen phổ biến với mật độ từ 70-278cây/ha, trong đó tập trung chủ yếu là 2 mật độ trồng thuần là 278 cây/ha (khoảng cách trồng 6x9m) và trồng xen 185 cây/ha (khoảng cách trồng 6x9m).

Khảo sát cho thấy, năng suất trung bình trên cây đạt cao nhất tại huyện Krông Năng, cây trên 10 năm tuổi đạt được 21,5 kg hạt tươi/cây, tiếp đến là các huyện Ea H’leo, Krông Búk cho năng suất trung bình cây trên 10 năm tuổi đạt 16,4 kg hạt/cây và 13,9 kg hạt/cây. Tại các huyện M’Đrăk, Ea Kar, Lắk năng suất mắc ca đạt thấp hơn, trung bình cây 10 năm tuổi đạt từ 5 kg hạt/cây đến dưới 10 kg hạt/cây, thấp nhất là tại huyện Lắk.

Về cơ cấu giống mắc ca trồng tại Đắk Lắk cho thấy có 19 giống mắc ca được trồng trên địa bàn (246, 344, 508, 695, 741 788, 800, 816, 842, 849, 856, A4, A16, A38, A268, DaD, H2, OC, QN1) Các giống được trồng chính là: OC và QN1 (6/6 huyện); 695, 788, H2 (5/6 huyện); A38 và 842 (4/6 huyện).

Bảng 4. Tổng hợp năng suất trung các giống mắc ca theo vùng trồng

TT

Giống

EaH'leo

Krông Búk

Krông Năng

Ea Kar

M’Đrắk

Lắk

NS TB/cây

(kg)

1

246

9,4

9,4

2

344

7,6

7,6

3

508

9,5

9,5

4

695

5,6

4,8

8,4

5,5

6,1

5

741

7,8

7,8

6

788

8,3

10,7

7,2

4,9

7,8

7

800

9,8

6,5

8,2

8

816

5,3

9,3

7,3

9

842

10,5

8,5

5,6

8,2

10

849

11,9

11,9

11

856

11,1

11,9

8,2

10,4

12

A4

5,6

5,6

13

A16

10,0

11,3

10,7

14

A38

12,4

10,8

13,2

10,9

11,8

15

A268

10,5

10,5

16

DAD

7,5

6,1

6,8

17

OC

15,5

17,6

16,4

15,3

16,8

7,3

14,8

18

QN1

12,7

13,9

11,9

13,2

12,9

19

H2

9,4

9,4

Kết quả cho thấy, năng suất trung bình trên cây của các giống mắc ca ở thời kỳ thu hoạch chính (>7 năm tuổi) biến động từ 5,6 kg hạt/cây/năm đến 14,8 kg hạt/cây/năm. Trong số 19 giống mắc ca được khảo sát có 5 giống cho năng suất hơn 10 kg hạt/cây/năm là: OC, QN1, A38, A268, 849 và 856. Sự chênh lệch về năng suất hạt phụ thuộc chính vào đặc điểm của các giống và một phần ở đặc điểm sinh thái của khu vực trồng. Nhìn chung, các giống mắc ca trồng tại khu vực huyện Krông Năng và Krông Búk cho năng suất cao hơn so với các vùng trồng khác trong tỉnh Đắk Lắk.

Việc đánh giá hiệu quả kinh tế của việc trồng mắc ca trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk được tính toán dựa trên số liệu thu thập trong 2 năm 2022 và 2023 của 10 vườn trồng xen và 10 vườn trồng thuần, ở độ tuổi 7-10 năm.

Bảng 5. Hiệu quả kinh tế của cây mắc ca tại các huyện điều tra tỉnh Đắk Lắk

Phương thức trồng

Huyện

Năng suất (kg)

Giá bán (đ/kg)

Tổng thu (đ)

Chi phí (đ)

Lợi nhuận (đ)

Trồng thuần

Ea H’Leo

2.700

90.000

243.000.000

42.425.000

200.575.000

Krông Búk

2.375

81.000

192.375.000

43.850.000

148.525.000

Krông Năng

4.235

89.500

379.032.500

48.741.667

330.290.833

M’Đrăk

1.625

82.500

134.062.500

39.600.000

94.462.500

Ea Kar

2.900

88.500

256.650.000

43.500.000

213.150.000

Trồng xen

Ea H’Leo

1.769

84.500

149.480.500

34.750.000

114.730.500

Krông Búk

2.200

85.000

187.000.000

20.125.000

166.875.000

Krông Năng

2.294

91.000

208.754.000

29.750.000

179.004.000

M’Đrăk

2.075

81.500

169.112.500

22.050.000

147.062.500

Ea Kar

1.100

86.000

94.600.000

16.000.000

78.600.000

Lăk

750

84.250

63.187.500

20.625.000

42.562.500

Kết quả cho thấy: Lợi nhuận thu được từ 1 ha mắc ca từ năm thứ 7 trở đi biến động khá lớn, từ 94,4 triệu đồng đến 330,2 triệu đồng/ha/năm đối với vườn trồng thuần và đạt 42,5 triệu đồng đến 179,0 triệu đồng/ha/năm với vườn trồng xen. Trong đó, tại huyện Krông Năng cây mắc ca cho lợi nhuận kinh tế đạt cao nhất ở cả mô hình trồng xen và trồng thuần, địa phương trồng mắc ca cho lợi nhuận thấp nhất là huyện M’Đrắk (với vườn trồng thuần) và huyện Lắk (với vườn trồng xen).

3.2. Nghiên cứu đề xuất giải pháp kỹ thuật phù hợp để phát triển bền vững cây mắc ca tại Đắk Lắk

  • Phân tích SWOT về hiện trạng phát triển cây mắc ca tại Đắk Lắk

Điểm mạnh (S)

Điểm yếu (W)

  • Một số huyện của tỉnh Đắk Lắk (Krông Năng, Krông Búk, Ea H’Leo …) có điều kiện tự nhiên phù hợp với cây mắc ca.
  • Tập đoàn giống đa dạng nên có cơ hội để lựa chọn được những giống phù hợp điều kiện sinh thái của Đắk Lắk.
  • Cây mắc ca phù hợp với trồng xen trong vườn cà phê.
  • Thu hoạch sản phẩm và tiêu thụ khá dễ dàng.
  • Kết quả phân tích thành phần dinh dưỡng trong nhân hạt mắc ca trồng tại Đắk Lắk cho chất lượng khá tốt so với vùng nguyên sản.
  • Sản phẩm đa dạng (hạt sấy, nhân sấy, dầu …) nên có thể đáp ứng được nhiều lựa chọn cho người tiêu dùng tại chỗ.
  • Cây mắc ca có yêu cầu sinh thái đặc thù nên bị giới hạn về vùng trồng trên địa bàn tỉnh.
  • Nguồn gốc và chất lượng cây giống không đảm bảo;
  • Chưa xác định được giống mắc ca phù hợp.
  • Một số diện tích trồng bằng giống thực sinh, năng suất thấp.
  • Người sản xuất chưa nắm bắt tốt về kỹ về thuật canh tác mắc ca.
  • Chất lượng sản phẩm chưa ổn định (do nhiều giống nên độ đồng đều về kích cỡ hạt không cao).
  • Tình trạng thu hái quả chưa đạt độ già, chất lượng nhân kém (giá bán đầu vụ cao hơn chính vụ, sợ mất trộm)
  • Chưa tiếp cận được với nhiều thị trường, cũng như thông tin về giá cả, cơ bản phụ thuộc vào thương lái.
  • Sản phẩm chưa có thương hiệu
  • Chưa có liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.

Cơ hội (O)

Thách thức (T)

  • Việc hội nhập sâu rộng vào kinh tế thế giới và các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới được ký kết tạo cơ hội thuận lợi hơn cho sản phẩm mắc ca của Việt Nam tiếp cận được các thị trường mới.
  • Hạt mắc ca có thị trường rộng lớn nhu cầu tiêu thụ cao, vùng trồng hẹp do yêu cầu sinh thái (nên Đắk Lắk, Việt Nam có cơ hội).
  • Tác động của biến đổi khí hậu cực đoan ảnh hưởng đến quá trình ra hoa đậu quả của cây mắc ca.
  • Sự cạnh tranh lớn từ các loại cây trồng khác trong giai đoạn hiện nay.
  • Gió mạnh trong mùa khô gây nứt thân, chảy nhựa; gãy đổ, bong gốc cũng gây thiệt hại cho người trồng.
  • Sâu bệnh hại trên cây mắc ca đặc biệt là bệnh thối rễ, thối hoa, thối quả làm giảm năng suất, chất lượng và tuổi thọ vườn cây
  • Đề xuất giải pháp phát triển bền vững cây mắc ca trên địa bàn Đắk Lắk

Trên cơ sở kết quả phân tích kinh tế và kết quả phân tích SWOT đối với hiện trạng phát triển cây mắc ca tại Đắk Lắk, cần tập trung vào các nhóm giải pháp chính như sau:

(1) Quy hoạch vùng trồng

Rà soát quỹ đất phù hợp với yêu cầu sinh thái của cây mắc ca và phù hợp với kế hoạch sử dụng đất theo từng giai đoạn của tỉnh để phát triển bền vững cây mắc ca. Quy hoạch vùng trồng mắc ca ưu tiên phát triển theo hướng trồng xen mắc ca với loài cây trồng khác trên đất trồng cây công nghiệp, chú ý đến quỹ đất quy hoạch phát triển rừng sản xuất có điều kiện sinh thái phù hợp với cây mắc ca để hình thành các vùng chuyên canh và sản xuất có chứng nhận trên một số địa bàn trọng điểm của tỉnh (Krông Năng, Krông Búk, Ea H’Leo, M’Đrăk) của tỉnh Đắk Lắk.

(2) Phát triển sản xuất

- Chọn trồng các giống phù hợp, từng bước cải tạo và thay thế dần diện tích giống không phù hợp bằng giống mới có năng suất và chất lượng tốt. Kết quả đề xuất các giống mắc ca phù hợp theo vùng trồng được khảo sát cụ thể như sau:

Bảng đề xuất giống mắc ca theo vùng trồng chính

Địa điểm

Giống đề xuất

Ea H’Leo

856, A16, A38, OC, QN1

Krông Búk

OC, QN1, A38, 849, A16

Krông Năng

788, 849, 856, A16, A38, OC, QN1

Ea Kar

A38, OC, 788

M’Đrăk

695, 842, 856, A38, A268, OC, QN1

Lắk

OC, A38

- Phát triển mắc ca theo chuỗi giá trị, xây dựng và phát triển các liên kết trong sản xuất và kinh doanh sản phẩm mắc ca qua việc thúc đẩy thành lập các tổ hợp tác, hợp tác xã sản xuất, chế biến, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm mắc ca trên địa bàn.

- Xây dựng các mô hình phát triển mắc ca theo tiêu chuẩn VietGAP, tiêu chuẩn hữu cơ, từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, đáp ứng yêu cầu thị trường xuất khẩu.

(3)Thương mại và tiêu thụ sản phẩm

- Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm. Tăng cường các hoạt động đầu tư chế biến sản phẩm như dầu mắc ca, sữa mắc ca ....

- Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, quảng bá hình ảnh sản phẩm mắc ca Đắk Lắk; khuyến khích các doanh nghiệp kinh doanh mắc ca, hợp tác xã, tổ hợp tác tham gia các lễ hội, festival trong và ngoài tỉnh, từng bước xây dựng thương hiệu mắc ca Đắk Lắk.

- Tạo điều kiện cho doanh nghiệp và các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng các cơ sở sơ chế, chế biến, nhà máy chế biến sâu gắn với vùng trồng nguyên liệu.

- Đối với thị trường trong nước: cần hỗ trợ xây dựng thương hiệu sản phẩm mắc ca Đắk Lắk gắn với chỉ dẫn địa lý; thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại, tuyên truyền, giới thiệu để người tiêu dùng trong nước có đủ thông tin về sản phẩm mắc ca.

- Đối với thị trường xuất khẩu: phối hợp chặt chẽ với các doanh nghiệp thực hiện các biện pháp mở rộng thị trường xuất khẩu, tập trung thực hiện các biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu chính ngạch sản phẩm nhân và hạt mắc ca nguyên vỏ và các sản phẩm mắc ca chế biến sâu.

(4) Nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ về cây mắc ca

- Hỗ trợ công tác nghiên cứu chọn tạo giống mắc ca theo hướng năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao, chống chịu sâu bệnh hại, thích nghi với các tiểu vùng sinh thái.

- Xây dựng hệ thống vườn cây đầu dòng, để có đủ nguồn vật liệu sản xuất giống; nâng cao năng lực hệ thống sản xuất giống nhằm cung cấp đủ giống đúng tiêu chuẩn, phục vụ trồng sản xuất.

- Tăng cường công tác đào tạo, tập huấn, phổ biến các tiến bộ kỹ thuật trong việc trồng, thu hái, bảo quản, chế biến sản phẩm mắc ca.

4. Kết luận

Diện tích mắc ca tại Đắk Lắk tính đến cuối năm 2024 ước đạt 5.000 ha, sản lượng đạt trên 10.000 tấn hạt/năm. Hiện có 19 giống mắc ca được trồng trên địa bàn, trong đó các giống trồng phổ biến là OC, QN1, A38, 695, 788, 842. Các giống cho năng suất hơn 10 kg hạt/cây/năm là: OC, QN1, A38, A268, 849 và 856

Lợi nhuận thu được từ 1 ha mắc ca từ năm thứ 7 trở đi biến động khá lớn, từ 94,4 triệu đồng đến 330,2 triệu đồng/ha/năm đối với vườn trồng thuần và đạt 42,5 triệu đồng đến 179,0 triệu đồng/ha/năm với vườn trồng xen.

Ứng dụng khoa học và công nghệ chọn giống, nhân giống một số dòng Mắc ca Ứng dụng khoa học và công nghệ chọn giống, nhân giống một số dòng Mắc ca

Chiều 20/11, Sở Khoa học và Công nghệ (KH&CN) tỉnh Cao Bằng tổ chức họp Hội đồng tư vấn đánh giá, nghiệm thu cấp tỉnh ...

Mắc ca - Cây đến “muộn” với vùng đất Thạch Thành Mắc ca - Cây đến “muộn” với vùng đất Thạch Thành

Hơn 10 năm trước, nói đến cây mắc ca dường như những người dân không mặn mà về hiệu quả kinh tế của nó. Tuy ...

Thúc đẩy liên kết “3 nhà”, xây dựng chuỗi giá trị và ra mắt nhãn hiệu “Mắc ca Lâm Đồng” Thúc đẩy liên kết “3 nhà”, xây dựng chuỗi giá trị và ra mắt nhãn hiệu “Mắc ca Lâm Đồng”

Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lâm Đồng vừa phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức hội thảo kết nối “3 ...

Lâm Đồng nâng cao chất lượng sản xuất mắc ca Lâm Đồng nâng cao chất lượng sản xuất mắc ca

Sau 5 năm triển khai Đề án phát triển bền vững mắc ca giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 theo Quyết định số ...

Điện Biên siết chặt quản lý chất lượng giống cà phê, mắc ca trước mùa trồng mới Điện Biên siết chặt quản lý chất lượng giống cà phê, mắc ca trước mùa trồng mới

Bước vào mùa trồng mới, tỉnh Điện Biên đang tăng cường kiểm soát chất lượng cây giống cà phê và mắc ca trong bối cảnh ...

Bài liên quan

El Niño có thể đạt cường độ lịch sử, Việt Nam tăng tốc cảnh báo sớm thiên tai

El Niño có thể đạt cường độ lịch sử, Việt Nam tăng tốc cảnh báo sớm thiên tai

El Niño được dự báo xuất hiện rõ nét từ nửa cuối năm 2026, có thể đạt cường độ tương đương đợt lịch sử 2015 - 2016, làm gia tăng nguy cơ hạn hán, nắng nóng và xâm nhập mặn. Việt Nam đang đẩy mạnh dự báo, cảnh báo sớm để chủ động ứng phó và giảm thiểu thiệt hại.
BVTW Huế: Sự sống có thể khép lại nhưng lòng nhân ái vẫn luôn tiếp tục

BVTW Huế: Sự sống có thể khép lại nhưng lòng nhân ái vẫn luôn tiếp tục

Sau gần 1 tháng kể từ ca lấy - ghép đa tạng từ người hiến chết não, niềm vui đã trọn vẹn khi bệnh nhân cuối cùng trong 6 người tiếp nhận đủ điều kiện xuất viện
VQG Bạch Mã chung tay bảo vệ màu xanh - Lan tỏa nhận thức cộng đồng

VQG Bạch Mã chung tay bảo vệ màu xanh - Lan tỏa nhận thức cộng đồng

Từ ngày 17 đến 19/6/2026, Vườn quốc gia Bạch Mã đã tổ chức lớp tập huấn với chủ đề “Nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng”..
Du lịch Huế trong xu hướng sinh thái xanh và hành trình bền vững

Du lịch Huế trong xu hướng sinh thái xanh và hành trình bền vững

Với xu hướng hiện nay, Tp. Huế đang định hình mô hình du lịch sinh thái xanh dựa trên di sản, cộng đồng và bản sắc bản địa, hướng tới phát triển bền vững...
“Chợ quê ngày hội” - Đánh thức hồn quê bên Cầu ngói Thanh Toàn

“Chợ quê ngày hội” - Đánh thức hồn quê bên Cầu ngói Thanh Toàn

Từ ngày 26 đến 29/6/2026, chương trình “Chợ quê ngày hội” sẽ được tổ chức tại khu vực Điểm du lịch cộng đồng Cầu ngói Thanh Toàn (phường Thanh Thuỷ, Tp. Huế)...
Biển Hải Dương - điểm chạm của du lịch xanh nơi cửa ngõ biển

Biển Hải Dương - điểm chạm của du lịch xanh nơi cửa ngõ biển

Trong hành trình phát triển theo hướng “đô thị di sản – sinh thái – cảnh quan – thân thiện môi trường”, Tp. Huế đang từng bước định vị các giá trị du lịch mới..

CÁC TIN BÀI KHÁC

Tác động của nông nghiệp hữu cơ đối với sức khỏe đất và đa dạng sinh học

Tác động của nông nghiệp hữu cơ đối với sức khỏe đất và đa dạng sinh học

Đất là nền tảng quan trọng của nông nghiệp hữu cơ. Canh tác hữu cơ chú trọng bảo vệ độ phì nhiêu của đất bằng phân hữu cơ, phân xanh và các biện pháp sinh học. Đất khỏe giúp cây trồng phát triển bền vững, nâng cao chất lượng nông sản, bảo vệ môi trường và hệ sinh thái.
Nông nghiệp, nông dân, nông thôn - mối quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước

Nông nghiệp, nông dân, nông thôn - mối quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước

Nông dân là lực lượng lao động chủ yếu ở nông thôn, sống bằng sản xuất nông nghiệp và các ngành nghề liên quan đến đất đai. Họ hình thành giai cấp nông dân với vai trò quan trọng trong xã hội, quyền sở hữu ruộng đất khác nhau tùy theo lịch sử và quốc gia.
Nghiên cứu chọn lọc cặp lai tằm thầu dầu lá sắn thích hợp nuôi ở vùng Tây Nguyên

Nghiên cứu chọn lọc cặp lai tằm thầu dầu lá sắn thích hợp nuôi ở vùng Tây Nguyên

Để lựa chọn được cặp lai tằm thầu dầu lá sắn (viết tắt là tằm sắn) thích ứng với điều kiện nóng ẩm vào mùa mưa của các tỉnh Tây Nguyên, thí nghiệm đã tiến hành đánh giá 6 cặp lai tằm sắn trong điều kiện nhiệt ẩm độ cao.
"Tam nông" khơi thông nguồn lực thúc đẩy nông thôn phát triển bền vững

"Tam nông" khơi thông nguồn lực thúc đẩy nông thôn phát triển bền vững

Nông nghiệp, nông dân, nông thôn – còn gọi là “tam nông” luôn giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, nhất là đối với tỉnh miền núi như Cao Bằng, nơi có hơn 83% dân cư sinh sống ở khu vực nông thôn và phụ thuộc chủ yếu vào sản xuất nông nghiệp. Phát triển “tam nông” không chỉ tăng trưởng kinh tế mà còn đảm bảo an sinh xã hội, giữ vững ổn định chính trị và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc. Giai đoạn 2020 – 2025, Cao Bằng đã triển khai nhiều giải pháp trong lĩnh vực này đạt được những kết quả tích cực, góp phần khơi thông nguồn lực, thúc đẩy phát triển nông nghiệp, cải thiện sinh kế người dân, từng bước xây dựng nông thôn mới (XDNTM) bền vững.
Báo chí bứt phá cùng nông nghiệp xanh, hữu cơ, tuần hoàn

Báo chí bứt phá cùng nông nghiệp xanh, hữu cơ, tuần hoàn

Việt Nam đang bước vào giai đoạn tăng tốc của tiến trình hiện đại hóa nông nghiệp theo hướng bền vững. Trên hành trình ấy, báo chí không chỉ dừng lại ở vai trò “người ghi tin”, mà đã thực sự bứt phá để trở thành một mắt xích không thể tách rời, một động lực thúc đẩy hệ sinh thái nông nghiệp xanh, hữu cơ và tuần hoàn.
Vai trò mới của báo chí trong phát triển nông nghiệp xanh

Vai trò mới của báo chí trong phát triển nông nghiệp xanh

Trong dòng chảy chuyển đổi của ngành nông nghiệp Việt Nam, báo chí không chỉ dừng lại ở việc phản ánh mùa vụ, giá cả hay những mô hình sản xuất mới. Trước yêu cầu phát triển nông nghiệp xanh, hữu cơ, tuần hoàn và có trách nhiệm với môi trường, báo chí đang đứng trước một vai trò rộng hơn: diễn giải chính sách, phát hiện vấn đề, lan tỏa mô hình tốt, kết nối các chủ thể trong chuỗi giá trị và bảo vệ những người làm nông nghiệp tử tế.
Truyền thông và sứ mệnh lan tỏa nhận thức đúng về nông nghiệp hữu cơ

Truyền thông và sứ mệnh lan tỏa nhận thức đúng về nông nghiệp hữu cơ

Trong tiến trình chuyển đổi sang nền nông nghiệp xanh, trong đó có sản xuất hữu cơ, tuần hoàn và phát thải thấp, báo chí không chỉ phản ánh đời sống sản xuất. Bằng năng lực truyền dẫn chính sách, kết nối tri thức và kiểm chứng thông tin, báo chí góp phần lan tỏa giá trị thật, bảo vệ người làm thật và củng cố niềm tin thị trường.
Khi ngòi bút trở thành hạt mầm cho nông nghiệp tương lai

Khi ngòi bút trở thành hạt mầm cho nông nghiệp tương lai

Báo chí đã tự thân vươn mình, trở thành một “mắt xích” chiến lược trong hệ sinh thái nông nghiệp hữu cơ, vì một Việt Nam xanh và bền vững cho muôn đời sau.
Ảnh hưởng của chế phẩm sinh học đến năng suất và chất lượng cây ăn quả hữu cơ

Ảnh hưởng của chế phẩm sinh học đến năng suất và chất lượng cây ăn quả hữu cơ

Trong sản xuất cây ăn quả hữu cơ, chế phẩm sinh học đang được xem là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao năng suất và chất lượng nông sản. Nghiên cứu cho thấy việc sử dụng chế phẩm sinh học giúp tăng tỷ lệ đậu quả, cải thiện giá trị dinh dưỡng, giảm chi phí sản xuất và góp phần phát triển nông nghiệp bền vững.
Sứ mệnh và tầm nhìn mới

Sứ mệnh và tầm nhìn mới

Trong bức tranh tổng thể của nền kinh tế toàn cầu thế kỷ XXI, “xanh hóa” không còn là một khái niệm xa xỉ hay một phong trào nhất thời, mà đã trở thành kim chỉ nam cho mọi chiến lược phát triển bền vững. Tại Việt Nam, nông nghiệp hữu cơ chính là “trái tim” của chiến lược kinh tế xanh. Trong hoàn cảnh đó, Tạp chí Hữu cơ Việt Nam đang đứng trước những vận hội và thách thức chưa từng có, đóng vai trò là cơ quan ngôn luận, là người định hướng và là cầu nối quan trọng thúc đẩy tư duy sản xuất sạch cho cộng đồng.
Kỷ nguyên số mở ra cơ hội nào cho báo chí nông nghiệp Việt Nam?

Kỷ nguyên số mở ra cơ hội nào cho báo chí nông nghiệp Việt Nam?

Sự bùng nổ của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và nền tảng mạng xã hội đang tạo ra một bước ngoặt lớn với báo chí Việt Nam. Trong dòng chảy ấy, báo chí nông nghiệp đứng trước cơ hội chưa từng có để mở rộng độc giả, tăng tốc truyền tải tri thức sản xuất và trở thành cầu nối dữ liệu giữa nông dân với thị trường. Nếu trước đây thông tin nông nghiệp thường gắn với những trang báo chuyên ngành có phạm vi tiếp cận hẹp, thì nay chỉ bằng một chiếc điện thoại thông minh, người nông dân có thể tiếp cận tin tức mùa vụ, giá cả, công nghệ canh tác và xu hướng xuất khẩu gần như theo thời gian thực.
Sức lan tỏa của nông nghiệp hữu cơ thông qua báo chí

Sức lan tỏa của nông nghiệp hữu cơ thông qua báo chí

Báo chí đóng vai trò quan trọng trong việc lan tỏa các giá trị của nông nghiệp hữu cơ, một trụ cột quan trọng của kinh tế xanh, thông qua việc cung cấp thông tin, tạo diễn đàn đối thoại, tôn vinh điển hình và giáo dục cộng đồng. Vượt qua thách thức, báo chí kiến tạo nhận thức và thúc đẩy hành động vì một tương lai nông nghiệp hữu cơ bền vững.
XEM THÊM
dam-ca-mau-chi-vi-hoa
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2025 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính