ki-niem-15-voaa
Thứ sáu 16/10/2026 11:17Thứ sáu 16/10/2026 11:17 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Hiện trạng và giải pháp phát triển bền vững cây mắc ca tại tỉnh Đắk Lắk

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Tỉnh Đắk Lắk có điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển cây mắc ca, các nghiên cứu trồng khảo nghiệm mắc ca được thực hiện từ đầu những năm 2000 (năm 2002, 2004), kết quả cho thấy cây mắc ca có sự thích nghi tốt và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người trồng.
Ảnh minh họa.
Ảnh minh họa.

1. Mở đầu

Tỉnh Đắk Lắk có điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển cây mắc ca, các nghiên cứu trồng khảo nghiệm mắc ca được thực hiện từ đầu những năm 2000 (năm 2002, 2004), kết quả cho thấy cây mắc ca có sự thích nghi tốt và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người trồng. Tính đến cuối năm 2024, diện tích mắc ca trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk vào khoảng 5.000 ha, sản lượng đạt trên 10.000 tấn hạt mỗi năm. Tuy nhiên việc trồng mắc ca tại Đắk Lắk cơ bản tự phát và theo kinh nghiệm là chính nên bộc lộ không ít vấn đề như giống trồng phù hợp, vùng trồng an toàn về mặt sinh thái (đảm bảo yêu cầu sinh thái cho cây mắc ca sinh trưởng, phát triển cho năng suất), kỹ thuật canh tác … do vậy cần có những đánh giá tổng thể và đề xuất giải pháp phát triển bền vững cây mắc ca tại Đắk Lắk.

2. Nội dung và phương pháp nghiên cứu

2.1. Nội dung nghiên cứu

Phân tích hiện trạng phát triển cây mắc ca tại Đắk Lắk

Đề xuất giải pháp phát triển bền vững cây mắc ca tại Đắk Lắk

2.2. Phương pháp nghiên cứu

Áp dụng phương pháp đánh giá có sự tham gia kết hợp với quan trắc trực tiếp trên đồng ruộng để thu thập dữ liệu về canh tác mắc ca.

Phân tích, tổng hợp các yếu tố liên qua đến sản xuất, tiêu thụ sản phẩm cây mắc ca trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk (Phân tích SWOT), trên cơ sở đó đề xuất giải pháp phát triển cây mắc ca trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk (Bao gồm: Nhóm giải pháp về quy hoạch, giải pháp về giống và kỹ thuật canh tác tổng hợp, giải pháp về thị trường; …)

Kế thừa dữ liệu từ các kết quả nghiên cứu trước.

3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

3.1. Hiện trạng canh tác mắc ca tại Đắk Lắk

Tính đến 12/2022, tổng diện tích mắc ca trồng tại Đắk Lắk là 3.748,7 ha, tập trung ở các huyện Krông Năng, Ea H’leo, Ea Kar, Krông Búk. Trong đó, diện tích trồng xen là 3.019,41 ha và diện tích trồng thuần là 729,29 ha.

Bảng 1. Diện tích mắc ca theo vùng trồng

TT

Huyện

Diện tích (ha)

1

Krông Năng

2503,3

2

EaH’leo

657,9

3

Krông Pắk

190,2

4

Ea Kar

164,1

5

Kông Búk

124,8

6

M’Đrắk

66,5

7

Krông Ana

18,5

8

Cư Kuin

18,3

9

Krông Bông

5,2

Tổng

3.748,8

Nguồn. Báo cáo của Sở NN & PTNT Đắk Lắk, 14/4/2023

Số liệu thống kê mới nhất (12/2024) cho thấy, diện tích trồng mắc ca tại Đắk Lắk ước đạt 5.000 ha, tăng khoảng 3.500 ha so với diện tích mắc ca trồng được tính đến năm 2020 (1.588 ha)

Hiện trạng và giải pháp phát triển bền vững cây mắc ca tại tỉnh Đắk Lắk
Hình 1. Diễn biến diện tích trồng mắc ca tại Đắk Lắk trong 5 năm gần nhất

Kết quả khảo sát từ 180 hộ trồng mắc ca (với diện tích 251,1 ha) trên địa bàn 6 huyện của tỉnh Đắk Lắk cho thấy, tỷ lệ diện tích trồng xen và trồng thuần là khác nhau khá rõ theo từng địa phương. Trong đó tại EaH’Leo và Krông Năng có tỷ lệ trồng xen cao trên 50% và chủ yếu là trồng xen với cà phê (chiếm 70%), số còn lại là xen với sầu riêng, bơ, giổi, tiêu, điều….

Bảng 2. Tỷ lệ % diện tích trồng xen, trồng thuần tại các huyện điều tra

TT

Huyện điều tra

Tỷ lệ diện tích cây mắc ca trồng xen (%)

Tỷ lệ diện tích cây mắc ca trồng thuần (%)

1

Ea H’Leo

77,4

22,6

2

Krông Búk

25,9

74,1

3

Krông Năng

50,2

49,8

4

M’Đrăk

29,5

70,5

5

Ea Kar

32,4

67,6

6

Lắk

10,4

89,6

Kết quả khảo sát về độ cao vùng trồng, mật độ trồng và năng suất bình quân trên cây được thể hiện ở bảng 3.

Bảng 3. Độ cao địa hình, mật độ trồng và năng suất mắc ca tại các huyện điều tra

Huyện

Độ cao

(m)

Khoảng cách trồng (m)

Tuổi cây

NS TB/cây

(kg)

NS cao nhất/cây (kg)

Ea H’leo

650-800

6x8, 6x9, 6x10, 9x9, 12x12

4-6

8,0

15

7-10

10,0

20

>10

16,4

30

Krông Búk

600-700

6x6, 7x7, 6x9, 9x9, 9x12

4-6

6,0

18

7-10

10,4

30

>10

13,9

35

Krông Năng

680-850

6x6, 6x9, 9x9, 9x12

4-6

9,5

23

7-10

16,4

50

>10

21,5

60

M’Đrăk

550-600

5x5, 6x6, 7x7, 6x9

4-6

3,0

7

7-10

9,5

25

Ea Kar

500-560

6x6, 6x9, 9x9, 9x12

7-10

8,7

15

>10

8,8

21

Lắk

450-600

6x6, 6x9, 9x9

4-6

3,6

6

7-10

5,0

9

Phần lớn diện tích mắc ca khảo sát tại 6 huyện của tỉnh Đắk Lắk được trồng ở những vùng có độ cao so với mực nước biển từ 430-850 m, trong đó vùng trồng ở 3 huyện Krông Năng, Krông Búk và Ea H’leo phân bố ở độ cao từ 600-850m và vùng trồng ở 3 huyện M’Đrăk, Ea Kar và Lăk phân bố ở độ cao từ 450-600m.

Mật độ trồng mắc ca biến động theo phương thức trồng. Trồng thuần, mật độ phổ biến từ 278-400 cây/ha, trồng xen phổ biến với mật độ từ 70-278cây/ha, trong đó tập trung chủ yếu là 2 mật độ trồng thuần là 278 cây/ha (khoảng cách trồng 6x9m) và trồng xen 185 cây/ha (khoảng cách trồng 6x9m).

Khảo sát cho thấy, năng suất trung bình trên cây đạt cao nhất tại huyện Krông Năng, cây trên 10 năm tuổi đạt được 21,5 kg hạt tươi/cây, tiếp đến là các huyện Ea H’leo, Krông Búk cho năng suất trung bình cây trên 10 năm tuổi đạt 16,4 kg hạt/cây và 13,9 kg hạt/cây. Tại các huyện M’Đrăk, Ea Kar, Lắk năng suất mắc ca đạt thấp hơn, trung bình cây 10 năm tuổi đạt từ 5 kg hạt/cây đến dưới 10 kg hạt/cây, thấp nhất là tại huyện Lắk.

Về cơ cấu giống mắc ca trồng tại Đắk Lắk cho thấy có 19 giống mắc ca được trồng trên địa bàn (246, 344, 508, 695, 741 788, 800, 816, 842, 849, 856, A4, A16, A38, A268, DaD, H2, OC, QN1) Các giống được trồng chính là: OC và QN1 (6/6 huyện); 695, 788, H2 (5/6 huyện); A38 và 842 (4/6 huyện).

Bảng 4. Tổng hợp năng suất trung các giống mắc ca theo vùng trồng

TT

Giống

EaH'leo

Krông Búk

Krông Năng

Ea Kar

M’Đrắk

Lắk

NS TB/cây

(kg)

1

246

9,4

9,4

2

344

7,6

7,6

3

508

9,5

9,5

4

695

5,6

4,8

8,4

5,5

6,1

5

741

7,8

7,8

6

788

8,3

10,7

7,2

4,9

7,8

7

800

9,8

6,5

8,2

8

816

5,3

9,3

7,3

9

842

10,5

8,5

5,6

8,2

10

849

11,9

11,9

11

856

11,1

11,9

8,2

10,4

12

A4

5,6

5,6

13

A16

10,0

11,3

10,7

14

A38

12,4

10,8

13,2

10,9

11,8

15

A268

10,5

10,5

16

DAD

7,5

6,1

6,8

17

OC

15,5

17,6

16,4

15,3

16,8

7,3

14,8

18

QN1

12,7

13,9

11,9

13,2

12,9

19

H2

9,4

9,4

Kết quả cho thấy, năng suất trung bình trên cây của các giống mắc ca ở thời kỳ thu hoạch chính (>7 năm tuổi) biến động từ 5,6 kg hạt/cây/năm đến 14,8 kg hạt/cây/năm. Trong số 19 giống mắc ca được khảo sát có 5 giống cho năng suất hơn 10 kg hạt/cây/năm là: OC, QN1, A38, A268, 849 và 856. Sự chênh lệch về năng suất hạt phụ thuộc chính vào đặc điểm của các giống và một phần ở đặc điểm sinh thái của khu vực trồng. Nhìn chung, các giống mắc ca trồng tại khu vực huyện Krông Năng và Krông Búk cho năng suất cao hơn so với các vùng trồng khác trong tỉnh Đắk Lắk.

Việc đánh giá hiệu quả kinh tế của việc trồng mắc ca trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk được tính toán dựa trên số liệu thu thập trong 2 năm 2022 và 2023 của 10 vườn trồng xen và 10 vườn trồng thuần, ở độ tuổi 7-10 năm.

Bảng 5. Hiệu quả kinh tế của cây mắc ca tại các huyện điều tra tỉnh Đắk Lắk

Phương thức trồng

Huyện

Năng suất (kg)

Giá bán (đ/kg)

Tổng thu (đ)

Chi phí (đ)

Lợi nhuận (đ)

Trồng thuần

Ea H’Leo

2.700

90.000

243.000.000

42.425.000

200.575.000

Krông Búk

2.375

81.000

192.375.000

43.850.000

148.525.000

Krông Năng

4.235

89.500

379.032.500

48.741.667

330.290.833

M’Đrăk

1.625

82.500

134.062.500

39.600.000

94.462.500

Ea Kar

2.900

88.500

256.650.000

43.500.000

213.150.000

Trồng xen

Ea H’Leo

1.769

84.500

149.480.500

34.750.000

114.730.500

Krông Búk

2.200

85.000

187.000.000

20.125.000

166.875.000

Krông Năng

2.294

91.000

208.754.000

29.750.000

179.004.000

M’Đrăk

2.075

81.500

169.112.500

22.050.000

147.062.500

Ea Kar

1.100

86.000

94.600.000

16.000.000

78.600.000

Lăk

750

84.250

63.187.500

20.625.000

42.562.500

Kết quả cho thấy: Lợi nhuận thu được từ 1 ha mắc ca từ năm thứ 7 trở đi biến động khá lớn, từ 94,4 triệu đồng đến 330,2 triệu đồng/ha/năm đối với vườn trồng thuần và đạt 42,5 triệu đồng đến 179,0 triệu đồng/ha/năm với vườn trồng xen. Trong đó, tại huyện Krông Năng cây mắc ca cho lợi nhuận kinh tế đạt cao nhất ở cả mô hình trồng xen và trồng thuần, địa phương trồng mắc ca cho lợi nhuận thấp nhất là huyện M’Đrắk (với vườn trồng thuần) và huyện Lắk (với vườn trồng xen).

3.2. Nghiên cứu đề xuất giải pháp kỹ thuật phù hợp để phát triển bền vững cây mắc ca tại Đắk Lắk

  • Phân tích SWOT về hiện trạng phát triển cây mắc ca tại Đắk Lắk

Điểm mạnh (S)

Điểm yếu (W)

  • Một số huyện của tỉnh Đắk Lắk (Krông Năng, Krông Búk, Ea H’Leo …) có điều kiện tự nhiên phù hợp với cây mắc ca.
  • Tập đoàn giống đa dạng nên có cơ hội để lựa chọn được những giống phù hợp điều kiện sinh thái của Đắk Lắk.
  • Cây mắc ca phù hợp với trồng xen trong vườn cà phê.
  • Thu hoạch sản phẩm và tiêu thụ khá dễ dàng.
  • Kết quả phân tích thành phần dinh dưỡng trong nhân hạt mắc ca trồng tại Đắk Lắk cho chất lượng khá tốt so với vùng nguyên sản.
  • Sản phẩm đa dạng (hạt sấy, nhân sấy, dầu …) nên có thể đáp ứng được nhiều lựa chọn cho người tiêu dùng tại chỗ.
  • Cây mắc ca có yêu cầu sinh thái đặc thù nên bị giới hạn về vùng trồng trên địa bàn tỉnh.
  • Nguồn gốc và chất lượng cây giống không đảm bảo;
  • Chưa xác định được giống mắc ca phù hợp.
  • Một số diện tích trồng bằng giống thực sinh, năng suất thấp.
  • Người sản xuất chưa nắm bắt tốt về kỹ về thuật canh tác mắc ca.
  • Chất lượng sản phẩm chưa ổn định (do nhiều giống nên độ đồng đều về kích cỡ hạt không cao).
  • Tình trạng thu hái quả chưa đạt độ già, chất lượng nhân kém (giá bán đầu vụ cao hơn chính vụ, sợ mất trộm)
  • Chưa tiếp cận được với nhiều thị trường, cũng như thông tin về giá cả, cơ bản phụ thuộc vào thương lái.
  • Sản phẩm chưa có thương hiệu
  • Chưa có liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.

Cơ hội (O)

Thách thức (T)

  • Việc hội nhập sâu rộng vào kinh tế thế giới và các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới được ký kết tạo cơ hội thuận lợi hơn cho sản phẩm mắc ca của Việt Nam tiếp cận được các thị trường mới.
  • Hạt mắc ca có thị trường rộng lớn nhu cầu tiêu thụ cao, vùng trồng hẹp do yêu cầu sinh thái (nên Đắk Lắk, Việt Nam có cơ hội).
  • Tác động của biến đổi khí hậu cực đoan ảnh hưởng đến quá trình ra hoa đậu quả của cây mắc ca.
  • Sự cạnh tranh lớn từ các loại cây trồng khác trong giai đoạn hiện nay.
  • Gió mạnh trong mùa khô gây nứt thân, chảy nhựa; gãy đổ, bong gốc cũng gây thiệt hại cho người trồng.
  • Sâu bệnh hại trên cây mắc ca đặc biệt là bệnh thối rễ, thối hoa, thối quả làm giảm năng suất, chất lượng và tuổi thọ vườn cây
  • Đề xuất giải pháp phát triển bền vững cây mắc ca trên địa bàn Đắk Lắk

Trên cơ sở kết quả phân tích kinh tế và kết quả phân tích SWOT đối với hiện trạng phát triển cây mắc ca tại Đắk Lắk, cần tập trung vào các nhóm giải pháp chính như sau:

(1) Quy hoạch vùng trồng

Rà soát quỹ đất phù hợp với yêu cầu sinh thái của cây mắc ca và phù hợp với kế hoạch sử dụng đất theo từng giai đoạn của tỉnh để phát triển bền vững cây mắc ca. Quy hoạch vùng trồng mắc ca ưu tiên phát triển theo hướng trồng xen mắc ca với loài cây trồng khác trên đất trồng cây công nghiệp, chú ý đến quỹ đất quy hoạch phát triển rừng sản xuất có điều kiện sinh thái phù hợp với cây mắc ca để hình thành các vùng chuyên canh và sản xuất có chứng nhận trên một số địa bàn trọng điểm của tỉnh (Krông Năng, Krông Búk, Ea H’Leo, M’Đrăk) của tỉnh Đắk Lắk.

(2) Phát triển sản xuất

- Chọn trồng các giống phù hợp, từng bước cải tạo và thay thế dần diện tích giống không phù hợp bằng giống mới có năng suất và chất lượng tốt. Kết quả đề xuất các giống mắc ca phù hợp theo vùng trồng được khảo sát cụ thể như sau:

Bảng đề xuất giống mắc ca theo vùng trồng chính

Địa điểm

Giống đề xuất

Ea H’Leo

856, A16, A38, OC, QN1

Krông Búk

OC, QN1, A38, 849, A16

Krông Năng

788, 849, 856, A16, A38, OC, QN1

Ea Kar

A38, OC, 788

M’Đrăk

695, 842, 856, A38, A268, OC, QN1

Lắk

OC, A38

- Phát triển mắc ca theo chuỗi giá trị, xây dựng và phát triển các liên kết trong sản xuất và kinh doanh sản phẩm mắc ca qua việc thúc đẩy thành lập các tổ hợp tác, hợp tác xã sản xuất, chế biến, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm mắc ca trên địa bàn.

- Xây dựng các mô hình phát triển mắc ca theo tiêu chuẩn VietGAP, tiêu chuẩn hữu cơ, từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, đáp ứng yêu cầu thị trường xuất khẩu.

(3)Thương mại và tiêu thụ sản phẩm

- Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm. Tăng cường các hoạt động đầu tư chế biến sản phẩm như dầu mắc ca, sữa mắc ca ....

- Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, quảng bá hình ảnh sản phẩm mắc ca Đắk Lắk; khuyến khích các doanh nghiệp kinh doanh mắc ca, hợp tác xã, tổ hợp tác tham gia các lễ hội, festival trong và ngoài tỉnh, từng bước xây dựng thương hiệu mắc ca Đắk Lắk.

- Tạo điều kiện cho doanh nghiệp và các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng các cơ sở sơ chế, chế biến, nhà máy chế biến sâu gắn với vùng trồng nguyên liệu.

- Đối với thị trường trong nước: cần hỗ trợ xây dựng thương hiệu sản phẩm mắc ca Đắk Lắk gắn với chỉ dẫn địa lý; thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại, tuyên truyền, giới thiệu để người tiêu dùng trong nước có đủ thông tin về sản phẩm mắc ca.

- Đối với thị trường xuất khẩu: phối hợp chặt chẽ với các doanh nghiệp thực hiện các biện pháp mở rộng thị trường xuất khẩu, tập trung thực hiện các biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu chính ngạch sản phẩm nhân và hạt mắc ca nguyên vỏ và các sản phẩm mắc ca chế biến sâu.

(4) Nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ về cây mắc ca

- Hỗ trợ công tác nghiên cứu chọn tạo giống mắc ca theo hướng năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao, chống chịu sâu bệnh hại, thích nghi với các tiểu vùng sinh thái.

- Xây dựng hệ thống vườn cây đầu dòng, để có đủ nguồn vật liệu sản xuất giống; nâng cao năng lực hệ thống sản xuất giống nhằm cung cấp đủ giống đúng tiêu chuẩn, phục vụ trồng sản xuất.

- Tăng cường công tác đào tạo, tập huấn, phổ biến các tiến bộ kỹ thuật trong việc trồng, thu hái, bảo quản, chế biến sản phẩm mắc ca.

4. Kết luận

Diện tích mắc ca tại Đắk Lắk tính đến cuối năm 2024 ước đạt 5.000 ha, sản lượng đạt trên 10.000 tấn hạt/năm. Hiện có 19 giống mắc ca được trồng trên địa bàn, trong đó các giống trồng phổ biến là OC, QN1, A38, 695, 788, 842. Các giống cho năng suất hơn 10 kg hạt/cây/năm là: OC, QN1, A38, A268, 849 và 856

Lợi nhuận thu được từ 1 ha mắc ca từ năm thứ 7 trở đi biến động khá lớn, từ 94,4 triệu đồng đến 330,2 triệu đồng/ha/năm đối với vườn trồng thuần và đạt 42,5 triệu đồng đến 179,0 triệu đồng/ha/năm với vườn trồng xen.

Ứng dụng khoa học và công nghệ chọn giống, nhân giống một số dòng Mắc ca Ứng dụng khoa học và công nghệ chọn giống, nhân giống một số dòng Mắc ca

Chiều 20/11, Sở Khoa học và Công nghệ (KH&CN) tỉnh Cao Bằng tổ chức họp Hội đồng tư vấn đánh giá, nghiệm thu cấp tỉnh ...

Mắc ca - Cây đến “muộn” với vùng đất Thạch Thành Mắc ca - Cây đến “muộn” với vùng đất Thạch Thành

Hơn 10 năm trước, nói đến cây mắc ca dường như những người dân không mặn mà về hiệu quả kinh tế của nó. Tuy ...

Thúc đẩy liên kết “3 nhà”, xây dựng chuỗi giá trị và ra mắt nhãn hiệu “Mắc ca Lâm Đồng” Thúc đẩy liên kết “3 nhà”, xây dựng chuỗi giá trị và ra mắt nhãn hiệu “Mắc ca Lâm Đồng”

Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lâm Đồng vừa phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức hội thảo kết nối “3 ...

Lâm Đồng nâng cao chất lượng sản xuất mắc ca Lâm Đồng nâng cao chất lượng sản xuất mắc ca

Sau 5 năm triển khai Đề án phát triển bền vững mắc ca giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 theo Quyết định số ...

Điện Biên siết chặt quản lý chất lượng giống cà phê, mắc ca trước mùa trồng mới Điện Biên siết chặt quản lý chất lượng giống cà phê, mắc ca trước mùa trồng mới

Bước vào mùa trồng mới, tỉnh Điện Biên đang tăng cường kiểm soát chất lượng cây giống cà phê và mắc ca trong bối cảnh ...

Bài liên quan

Phân bón Cà Mau khẳng định thương hiệu robusta Việt từ chất lượng vùng trồng

Phân bón Cà Mau khẳng định thương hiệu robusta Việt từ chất lượng vùng trồng

Việt Nam giữ vị thế quốc gia sản xuất Robusta lớn nhất thế giới, đóng góp hơn 43% sản lượng toàn cầu. Đồng hành cùng ngành cà phê Việt, Phân bón Cà Mau góp phần nâng cao chất lượng vùng trồng, hướng tới phát triển bền vững và gia tăng giá trị Robusta Việt trên thị trường quốc tế.
BVTW Huế: Chuẩn hóa an toàn tiêm truyền vì người bệnh hướng tới chuẩn Quốc tế JCI

BVTW Huế: Chuẩn hóa an toàn tiêm truyền vì người bệnh hướng tới chuẩn Quốc tế JCI

Bệnh viện Trung ương Huế đẩy mạnh an toàn tiêm truyền, chuẩn hóa liệu pháp truyền tĩnh mạch, nâng chất lượng chăm sóc, điều trị và hướng tới chuẩn JCI...
Lan tỏa tri thức, sức trẻ đến cùng thanh thiếu nhi vùng biên giới A Lưới

Lan tỏa tri thức, sức trẻ đến cùng thanh thiếu nhi vùng biên giới A Lưới

Đại học Huế và Thành đoàn Huế đồng hành cùng thanh thiếu nhi biên giới A Lưới, lan tỏa tri thức, sức trẻ, tình nguyện vì cộng đồng, phát triển bền vững...
Chủ tịch VOAA gửi lời chúc mừng Ngày Doanh nhân Việt Nam

Chủ tịch VOAA gửi lời chúc mừng Ngày Doanh nhân Việt Nam

Nhân Ngày Doanh nhân Việt Nam (13/10/2026), TSKH. Hà Phúc Mịch, Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam (VOAA), gửi lời chúc mừng tới cộng đồng doanh nhân Việt Nam cùng các doanh nhân, doanh nghiệp nông nghiệp sinh thái, tuần hoàn, hữu cơ.
Tp. Huế: Mưa lớn vẫn còn tiếp diễn, cảnh báo nguy cơ lũ quét, sạt lở đất

Tp. Huế: Mưa lớn vẫn còn tiếp diễn, cảnh báo nguy cơ lũ quét, sạt lở đất

Tp. Huế tiếp tục cảnh báo mưa lớn tiếp diễn, nguy cơ lũ quét, sạt lở đất. Chủ động phòng, chống thiên tai, bảo vệ sản xuất, môi trường, hướng tới bền vững...
Tp. Huế đẩy mạnh tiêm phòng LMLM, chủ động phòng chống dịch bệnh gia súc

Tp. Huế đẩy mạnh tiêm phòng LMLM, chủ động phòng chống dịch bệnh gia súc

Tp. Huế triển khai tiêm phòng Lở mồm long móng đợt II năm 2026, bảo vệ đàn gia súc, chủ động phòng chống dịch bệnh, xây dựng chăn nuôi an toàn, bền vững...

CÁC TIN BÀI KHÁC

Đưa khoa học nông nghiệp từ phòng thí nghiệm ra đồng ruộng

Đưa khoa học nông nghiệp từ phòng thí nghiệm ra đồng ruộng

Từ kết quả nghiên cứu đến ứng dụng trong sản xuất vẫn còn khoảng cách đáng kể. Thu hẹp khoảng cách ấy không chỉ đòi hỏi công nghệ tiên tiến, mà còn cần cơ chế phù hợp, sự tham gia của doanh nghiệp và người nông dân, cùng những giải pháp bảo đảm hiệu quả kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
Làm thế nào khơi thông nguồn lực để phát triển nông nghiệp?

Làm thế nào khơi thông nguồn lực để phát triển nông nghiệp?

Nông nghiệp Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn chuyển đổi quan trọng. Từ nền sản xuất dựa nhiều vào đất đai, lao động và kinh nghiệm truyền thống, ngành nông nghiệp đang từng bước chuyển sang mô hình dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, dữ liệu, liên kết chuỗi và kinh tế xanh. Trong quá trình đó, khơi thông và huy động hiệu quả các nguồn lực trở thành yếu tố quyết định để nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam.
Ứng dụng công nghệ số trong quản lý sản xuất nông nghiệp hữu cơ và giải pháp phát triển bền vững

Ứng dụng công nghệ số trong quản lý sản xuất nông nghiệp hữu cơ và giải pháp phát triển bền vững

Nông nghiệp hữu cơ đối mặt nhiều thách thức về chi phí giám sát, rủi ro dịch bệnh và tính minh bạch. Việc ứng dụng công nghệ số như IoT, AI, Blockchain, Big Data và UAV tạo ra bước ngoặt giúp tối ưu hóa quản lý, kiểm soát tiêu chuẩn nghiêm ngặt và công khai chuỗi giá trị. Bài viết phân tích thực trạng, hạ tầng công nghệ, tác động kinh tế - sinh thái, rào cản cốt lõi và đề xuất giải pháp phát triển bền vững.
Nước tưới hoạt hóa bằng khoáng chất và ánh sáng mặt trời giúp năng suất cây trồng tăng tới hơn 100%

Nước tưới hoạt hóa bằng khoáng chất và ánh sáng mặt trời giúp năng suất cây trồng tăng tới hơn 100%

Các thử nghiệm đồng ruộng quy mô lớn trải dài từ Hắc Long Giang đến Hải Nam cho thấy nước tưới được xử lý bằng khoáng chất tự nhiên hoạt hóa dưới ánh nắng có thể nâng năng suất lúa tới 40,6%, mía 45,7% và khoai lang 109,5%, theo nhóm nhà khoa học thuộc Đại học Bắc Kinh.
Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 3: Từ nhận thức đến hành động

Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 3: Từ nhận thức đến hành động

Chuyển đổi hệ thống lương thực – thực phẩm không thể thành công nếu chỉ trông chờ vào một chính sách, một ngành, một doanh nghiệp hay một nhóm người. Việt Nam đã có Kế hoạch hành động quốc gia theo Quyết định 300/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, nhưng trong quá trình thực hiện vẫn gặp những khó khăn về nguồn lực, hướng dẫn, dữ liệu và năng lực của các bên. Điều quan trọng lúc này là biến mục tiêu lớn thành những việc cụ thể, để Nhà nước, địa phương, người sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp, nhà khoa học, truyền thông và người tiêu dùng cùng tạo ra thay đổi. Chuyển đổi chỉ thực sự xảy ra khi mỗi mắt xích nhận rõ trách nhiệm và cùng hành động.
Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 2: Từ cánh đồng đến thị trường

Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 2: Từ cánh đồng đến thị trường

Một nền nông nghiệp có thể tạo ra hàng triệu tấn lương thực, thực phẩm mỗi năm nhưng vẫn còn những điểm nghẽn trên hành trình từ cánh đồng đến bàn ăn. Người sản xuất có thể làm ra sản phẩm nhưng chưa chắc có thị trường ổn định, doanh nghiệp có thể có đơn hàng nhưng chưa chắc có vùng nguyên liệu bền vững, sản phẩm có chất lượng nhưng vẫn có thể mất giá trị nếu bảo quản, chế biến và logistics chưa đáp ứng. Vì vậy, bài toán của hệ thống lương thực - thực phẩm không chỉ là “sản xuất được bao nhiêu”, mà còn là sản xuất như thế nào, kết nối ra sao và giá trị được tạo ra, phân bổ như thế nào trong toàn chuỗi.
Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 1: Từ bàn ăn nhìn ra cả hệ thống

Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 1: Từ bàn ăn nhìn ra cả hệ thống

Mỗi ngày, một bữa cơm gia đình bắt đầu từ những điều rất quen thuộc: Hạt gạo, bó rau, con cá, quả trứng hay miếng thịt. Nhưng để những thực phẩm ấy xuất hiện trên bàn ăn là cả một hành trình dài, với sự tham gia của người sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp, nhà khoa học, cơ quan quản lý, hệ thống phân phối và chính người tiêu dùng. Phía sau mỗi món ăn còn là đất, nước, lao động, công nghệ, thị trường, chính sách và môi trường. Hiểu được hành trình ấy chính là bước đầu tiên để mỗi người nhận ra mình đang ở đâu và có thể làm gì để cùng xây dựng một hệ thống lương thực - thực phẩm minh bạch, trách nhiệm và bền vững.
Khả năng hấp thụ carbon của hệ thống nông nghiệp hữu cơ

Khả năng hấp thụ carbon của hệ thống nông nghiệp hữu cơ

Nông nghiệp hữu cơ đang mở ra hướng tiếp cận mới trong ứng phó biến đổi khí hậu khi không chỉ giảm phụ thuộc vào vật tư hóa học mà còn góp phần gia tăng carbon trong đất. Thông qua đa dạng hóa cây trồng, sử dụng phân hữu cơ, cây che phủ, luân canh và giảm làm đất, hệ thống này có thể nâng cao khả năng lưu giữ carbon, cải thiện sức khỏe đất và phát triển nông nghiệp bền vững.
Phát triển nông nghiệp sinh thái: Từ mô hình riêng lẻ đến chuyển đổi cả hệ thống

Phát triển nông nghiệp sinh thái: Từ mô hình riêng lẻ đến chuyển đổi cả hệ thống

Chuyển đổi sang nông nghiệp sinh thái, xanh, tuần hoàn cần được thực hiện đồng bộ từ tổ chức sản xuất, ứng dụng khoa học công nghệ đến liên kết thị trường và chia sẻ lợi ích. Tại hội thảo khoa học tổ chức ngày 30/9 ở Ninh Bình, các nhà quản lý, chuyên gia, doanh nghiệp và hợp tác xã nhấn mạnh yêu cầu để người nông dân được hưởng lợi xứng đáng từ những giá trị sinh thái mà họ tạo ra.
AOLC 2026: Lan tỏa những sáng kiến nông nghiệp sinh thái và hữu cơ

AOLC 2026: Lan tỏa những sáng kiến nông nghiệp sinh thái và hữu cơ

Ngày 30/9, tại Hà Nội, Khóa tập huấn Lãnh đạo Nông nghiệp Sinh thái và Hữu cơ năm 2026 (AOLC 2026) chính thức bế mạc, ghi nhận 27 học viên hoàn thành chương trình và vinh danh bốn đề án phát triển tiêu biểu. Từ những sáng kiến về thực phẩm học đường, sinh kế cộng đồng đến kết nối thị trường, khóa học mở ra kỳ vọng lan tỏa các thực hành nông nghiệp sinh thái, hữu cơ vào đời sống.
Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tiêu dùng thực phẩm hữu cơ

Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tiêu dùng thực phẩm hữu cơ

Quyết định tiêu dùng thực phẩm hữu cơ không chỉ chịu tác động bởi nhận thức về sức khỏe và an toàn thực phẩm mà còn liên quan đến giá cả, chất lượng, niềm tin, kiến thức, khả năng tiếp cận và các chuẩn mực xã hội. Việc nhận diện đầy đủ những yếu tố này có ý nghĩa quan trọng trong xây dựng chính sách, phát triển thị trường và thúc đẩy tiêu dùng thực phẩm hữu cơ bền vững tại Việt Nam.
Cần Thơ ban hành quy định mới về canh tác trên vùng hữu cơ

Cần Thơ ban hành quy định mới về canh tác trên vùng hữu cơ

Từ đất, nước, không khí, thời gian chuyển đổi đến vật tư đầu vào, phòng trừ sinh vật gây hại, thu hoạch, bảo quản và truy xuất nguồn gốc, từng khâu trong canh tác trên vùng hữu cơ tại Cần Thơ được quy định cụ thể.
XEM THÊM
dam-ca-mau-chi-vi-hoa
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2026 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính