Thứ ba 23/06/2026 10:12Thứ ba 23/06/2026 10:12 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Nghiên cứu chọn lọc cặp lai tằm thầu dầu lá sắn thích hợp nuôi ở vùng Tây Nguyên

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Để lựa chọn được cặp lai tằm thầu dầu lá sắn (viết tắt là tằm sắn) thích ứng với điều kiện nóng ẩm vào mùa mưa của các tỉnh Tây Nguyên, thí nghiệm đã tiến hành đánh giá 6 cặp lai tằm sắn trong điều kiện nhiệt ẩm độ cao.
Ảnh minh họa.
Ảnh minh họa.

TÓM TẮT

Để lựa chọn được cặp lai tằm thầu dầu lá sắn (viết tắt là tằm sắn) thích ứng với điều kiện nóng ẩm vào mùa mưa của các tỉnh Tây Nguyên, thí nghiệm đã tiến hành đánh giá 6 cặp lai tằm sắn trong điều kiện nhiệt ẩm độ cao, cụ thể thời kỳ tằm con (tuổi 1, 2, 3) nhiệt độ 32±1℃ và độ ẩm 92±1%, thời kỳ tằm lớn (tuổi 4, 5) nhiệt độ 30±1℃ và độ ẩm 87±1%. Kết quả thí nghiệm cho thấy 5 cặp lai có sức sống tằm cao (91,92 – 98,58%) gồm GL2 x GL1, YB x GL1, GL2 x TN, YB x TN, YB x GL2; 4 cặp lai có năng suất kén cao (702,5 – 765,0 g/300 tuổi 4) gồm YB x GL1, GL2 x TN, YB x TN, YB x GL2. Kết hợp với đánh giá ưu thế lai một số tính trạng của cặp lai đã chọn ra chọn ra được cặp lai YB x GL1 có năng suất kén/300 tằm đếm tuổi 4 là 765 g, tổng số quả trứng 462 quả trứng/ổ; tỷ lệ bệnh thấp; tỷ lệ tằm sống cao 98,08%; tỷ lệ nhộng sống đạt 91,92%; tỷ lệ vỏ kén đạt 13,60% được xác định là cặp lai tốt nhất trong 6 cặp lai.

Từ khóa: Tằm sắn, nhiệt ẩm độ cao, cặp lai, ưu thế lai

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Tằm thầu dầu lá sắn (viết tắt là tằm sắn) có tên khoa học là Samia cynthia ricini B. hay Philosamia ricini, thuộc họ ngài trời (Saturniinae). Chúng thuộc tằm đa hệ 5-7 lứa/năm (Nguyễn Thị Đảm và cộng sự, 2011) [1]. Tằm sắn là loài đa thực, có khả năng thích nghi cao với nhiều loại thức ăn như lá thầu dầu, lá sắn, lá sếu, lá mùi, lá thông, lá bách… và do đó dễ dàng nuôi hơn so với tằm dâu (chỉ có nguồn thức ăn chính là lá dâu tằm), (Bin Zhou and Huiling Wang, 2020) [5]. Độ ưa thích lá thức ăn của tằm sắn theo thứ tự là: thầu dầu > sắn > đu đủ > barkesseru > gulancha (Subramanianan KN, Sakthivel and SMH Qadri 2013) [7]. Chất lượng của lá là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự phát triển của tằm và chất lượng kén tằm (Fangleng Narzary and Dulur Brahma 2021) [6].

Tây Nguyên có diện tích trồng sắn lớn nhất cả nước 172,5ha chiếm hơn 32% tổng diện tích cả nước (Cục Trồng trọt, 2022), đây là nguồn thức ăn dồi dào của tằm sắn. Khác với các tỉnh phía Bắc chỉ trồng sắn và nuôi tằm sắn theo mùa vụ, Tây Nguyên cây sắn được trồng quanh năm, điều này có nghĩa là việc nuôi tằm được thực hiện liên tục. Tuy nhiên trên thực tế, nuôi tằm sắn ở vùng Tây Nguyên không phát triển, chủ yếu là tự phát, quy mô nhỏ manh mún, phân bố ở vùng sâu vùng xa. Đặc biệt, trứng giống do người dân tự sản xuất nên không đảm bảo khâu chất lượng, giống bị thoái hoá và phát sinh nhiều bệnh tật (đặc biệt là bệnh gai).

Từ thực tế trên, để tạo ra nguồn con giống chất lượng, thích ứng với điều kiện nóng ẩm vào mùa mưa của các tỉnh Tây Nguyên và biến đổi khí hậu nóng dần lên của trái đất, phù hợp với tập quán canh tác lâu đời của người dân địa phương, nhóm nghiên cứu chúng tôi tiến hành chọn lọc cặp lai tằm thầu dầu lá sắn phục vụ cho Tây Nguyên

II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Vật liệu nghiên cứu

6 cặp lai tằm sắn bao gồm: TN x GL1, GL2 x GL1, YB x GL1, GL2 x TN, YB x TN, YB x GL2.

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Bố trí thí nghiệm

Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên (CRD). Nuôi 6 cặp lai, mỗi cặp lai là một công thức, mỗi công thức gồm 6 ổ trứng, tằm dậy 4 tiến hành đếm tằm cố định, mỗi công thức 6 lần nhắc lại, mỗi lần nhắc lại 300 tằm. Thí nghiệm được tiến hành qua 2 lứa nuôi 02/03/2025 và 20/04/2025.

Điều kiện nuôi tằm: sử dụng các thiết bị máy sưởi, quạt điện, máy tạo ẩm để điều chỉnh nhiệt ẩm độ phòng nuôi đạt điều kiện: thời kỳ tằm con (tuổi 1, 2, 3) nhiệt độ 32±1℃ và độ ẩm 92±1%, thời kỳ tằm lớn (tuổi 4, 5) nhiệt độ 30±1℃ và độ ẩm 87±1%.

Các yếu tố phi thí nghiệm như kỹ thuật chăn nuôi, số lượng và chất lượng thức ăn cho tằm... đảm bảo đồng đều giữa các cặp lai.

2.2.2. Phương pháp đánh giá

Sử dụng phương pháp đánh giá ưu thế lai một số tính trạng của tằm sắn

Ưu thế lai trung bình (HMP): Giá trị một tính trạng nào đó của con lai (F1) so với giá trị trung bình của bố mẹ (MP)

HMP (%) = ( F1-MP/MP) x 100

Ưu thế lai thực (HBP): Giá trị một tính trạng nào đó của con lai (F1) so với giá trị bố mẹ tốt nhất (BP)

HMP (%) = ( F1-MP/MP) x 100

2.2.3. Chỉ tiêu theo dõi

Tỷ lệ sống thời kỳ tằm con (%), tỷ lệ sống thời kì tằm lớn (tằm tuổi 4-5) (%), tỷ lệ nhộng sống (%), năng suất kén của 300 con tằm tuổi 4 (g), khối lượng toàn kén (Ptk), khối lượng vỏ kén (Pvk) và tỷ kệ vỏ kén (%).

2.2.4. Phương pháp tính toán các chỉ tiêu và xử lý số liệu

- Các chỉ tiêu theo dõi, tính toán áp dụng theo TCVN 10737: 2015 và TCVN 13474-2-2022 do Cục Chăn nuôi biên soạn

- Số liệu được tổng hợp bằng phần mềm Excel và xử lý thống kê bằng phần mềm SAS 9.1.3. Portable.

2.5. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 01 đến tháng 06 năm 2025 tại Trung tâm nghiên cứu thực nghiệm nông lâm nghiệp Lâm Đồng.

III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Nghiên cứu khả năng chống chịu của các cặp lai với điều kiện nóng ẩm

Đặc điểm hình thái của các cặp lai thể hiện trong bảng 1 cho thấy tất cả các cặp lai đều là tằm trơn, khi tằm chín da tằm có màu vàng, kén dạng hình thoi và có màu trắng ngà.

Bảng 1. Một số đặc điểm hình thái của các cặp lai

STT

Cặp lai

Màu sắc trứng

Đặc điểm da tằm

Màu sắc tằm chín

Màu sắc kén

Hình dạng kén

1

TN x GL1

Vàng

Tằm trơn

Vàng

Trắng ngà

Hình thoi

2

GL2 x GL1

Vàng

Tằm trơn

Vàng

Trắng ngà

Hình thoi

3

YB x GL1

Vàng

Tằm trơn

Vàng

Trắng ngà

Hình thoi

4

GL2 x TN

Vàng

Tằm trơn

Vàng

Trắng ngà

Hình thoi

5

YB x TN

Vàng

Tằm trơn

Vàng

Trắng ngà

Hình thoi

6

YB x GL2

Vàng

Tằm trơn

Vàng

Trắng ngà

Hình thoi

Các cặp lai được nuôi trong điều kiện nhiệt ẩm độ cao hơn so với điều kiện tiêu chuẩn của chúng để đánh giá lựa chọn các cặp lai có khả năng thích ứng tốt nhất với điều kiện nóng ẩm vào mùa mưa ở Tây Nguyên. Các chỉ tiêu sinh học của các cặp lai được thể hiện trong bảng 2

Bảng 2: Ảnh hưởng của điều kiện nuôi tới một số chỉ tiêu sinh học của các cặp lai

STT

Cặp lai

Tổng số quả trứng (quả/ổ)

Tỷ lệ trứng nở hữu hiệu (%)

Thời gian phát dục (giờ)

Tỷ lệ tằm sống (%)

Tỷ lệ nhộng sống (%)

1

TN x GL1

439,08b

97,17c

431,00

89,58f

90,58c

2

GL2 x GL1

454,00a

98,25a

432,00

91,92e

90,75c

3

YB x GL1

462,00a

98,17ab

433,00

98,08b

91,92a

4

GL2 x TN

452,00a

97,25c

431,00

94,75d

91,42b

5

YB x TN

457,00a

97,08c

432,00

96,00c

91,67ab

6

YB x GL2

459,00a

97,83b

432,00

98,58a

92,00a

5%LSD

11,218

0,380

0,380

0,480

Ghi chú: Trong cùng một cột các giá trị chữ cái khác nhau thể hiện sự sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05).

Bảng 2 cho thấy, tổng số quả trứng/ổ của các cặp lai dao động từ 439,08 - 462,00 quả, trong đó cặp TN x GL1 có tổng số quả trứng/ổ thấp nhất (439,08 quả/ổ) còn 5 cặp lai còn lại đều có tổng số quả trứng/ổ trên 450 quả. Tỷ lệ trứng nở hữu hiệu của cả 6 cặp lai đều cao, dao động từ 97,08-98,25%. Cặp lai có tỷ lệ trứng nở hữu hiệu cao nhất là GL2 x GL1 (98,25%) tuy nhiên tỷ lệ không có sự sai khác về mặt thống kê so với cặp YB x GL1 (98,17%). Tỷ lệ trứng thấp nhất được thấy ở YB x TN (97,08%) nhưng không có sự sai khác về mặt thống kê với các cặp lai TN x GL1 (97,17%), GL2 x TN (97,25%).

Thời gian phát dục giai đoạn tằm của các cặp lai biến động không lớn từ 431 đến 433 giờ, trong đó thời gian phát dục của TN x GL1 và GL2 x TN thấp nhất 431giờ. Ba cặp lai GL2 x GL1, YB x TN và YB x GL2 đều có thời gian phát dục giai đoạn tằm là 432 giờ, riêng YB x GL1 là 433 giờ.

Tỷ lệ tằm sống, tỷ lệ nhộng sống là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá cặp lai. Tỷ lệ tằm sống dao động từ 89,58 đến 98,58%, thứ tự các cặp lai có sức sống tằm từ thấp đến cao lần lượt là TN x GL1, GL2 x GL1, GL2 x TN, YB x TN, YB x GL1, YB x GL2. Tỷ lệ nhộng sống của tất cả các cặp lai đều trên 90%. Trong đó tỷ lệ nhộng sống của YB x GL2 (92,00%) cao nhất và không có sự sai khác về mặt thống kê với YB x GL1 (91,92%). Tỷ lệ nhộng sống thấp nhất được thấy ở TN x GL1 (90,58%) và giữa TN x GL1 và GL2 x GL1 (90,75%) không có sự sai khác về mặt thống kê.

Nghiên cứu chọn lọc cặp lai tằm thầu dầu lá sắn thích hợp nuôi ở vùng Tây Nguyên
Hình 1: Tỷ lệ tằm sống, tỷ lệ nhộng sống của các cặp lai trong điều kiện nóng ẩm

Để đưa được cặp lai tằm ra sản xuất thì cặp lai đó ngoài việc có sức sống tốt còn phải đảm bảo có năng suất và chất lượng tơ kén cao.

Bảng 3: Ảnh hưởng của điều kiện nuôi tới năng suất và chất lượng kén của các cặp lai

STT

Cặp lai

NSK/300 tằm tuổi 4 (g)

Khối lượng toàn kén (g)

Khối lượng vỏ kén (g)

Tỷ lệ vỏ kén (%)

1

TN x GL1

660,00e

2,70a

0,374a

13,84a

2

GL2 x GL1

670,00d

2,69a

0,351c

13,04b

3

YB x GL1

765,00a

2,69a

0,366b

13,60a

4

GL2 x TN

702,50c

2,65b

0,350c

13,22b

5

YB x TN

710,00c

2,63b

0,363b

13,78a

6

YB x GL2

720,00b

2,56c

0,331d

12,92b

5%LSD

8,672

0,029

0,004

0,380

Ghi chú: Trong cùng một cột các giá trị chữ cái khác nhau thể hiện sự sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05).

Năng suất kén/300 tằm tuổi 4 của các cặp lai dao động từ 660 – 765g. Bốn cặp lai có năng suất kén/300 tằm tuổi 4 trên 700g gồm YB x GL1, GL2 x TN , YB x TN, YB x GL2 trong đó cao nhất ở YB x GL1 (765g). Hai cặp lai có năng suất kén/300 tằm tuổi 4 thấp hơn là GL2 x GL1 (670g) và thấp nhất ở TN x GL1 (660g).

Nghiên cứu chọn lọc cặp lai tằm thầu dầu lá sắn thích hợp nuôi ở vùng Tây Nguyên
Hình 2: Năng suất kén/300 tằm tuổi 4 của các cặp lai trong điều kiện nóng ẩm

Khối lượng toàn kén dao động từ 2,56-270g, cao nhất TN x GL1 (2,70g) tuy nhiên không có sự sai khác về mặt thống kê với GL2 x GL1 (2,69) và YB x GL1 (2,69). Khối lượng toàn kén thấp nhất ở YB x GL2 (2,56g).

Khối lượng vỏ kén dao động từ 0,33g (YB x GL2) đến 0,37g (TN x GL1). Tỷ lệ vỏ kén dao động từ 12,92 – 13,84%, trong đó tỷ lệ vỏ kén cao nhất TN x GL1 (13,84g) nhưng không có sự sai khác về mặt thống kê với YB x TN (13,78%) và YB x GL1 (13,60%). Tỷ lệ vỏ kén thấp nhất ở YB x GL2 (12,92%) tuy nhiên tỷ lệ này không có sự sai khác về mặt thống kê với GL2 x GL1 (13,04%) và GL2 x TN (13,22%).

Như vậy, trong điều kiện nhiệt độ và độ ẩm cao khả năng chống chịu của 6 cặp lai tằm rất tốt. Tỷ lệ tằm sống, tỷ lệ nhộng sống đều trên 85%, 4 cặp lai có năng suất kén/300 tằm tuổi 4 trên 700g gồm YB x GL1, GL2 x TN , YB x TN, YB x GL2.

3.2. Ưu thế lai của các cặp lai

Lựa chọn một số chỉ tiêu chính về tỷ lệ tằm sống, tỷ lệ nhộng sống, năng suất kén, khối lượng toàn kén, khối lượng vỏ kén và tỷ lệ vỏ kén để đánh giá các cặp lai. Chỉ số đánh giá ưu thế lai dương chứng tỏ con lai có ưu thế hơn bố mẹ, chỉ số đánh giá ưu thế lai âm thì con lai kém hơn bố mẹ.

Bảng 4: Ưu thế lai trung bình một số chỉ tiêu của các cặp lai

Cặp lai

Tỷ lệ tằm sống (%)

Tỷ lệ nhộng sống (%)

NSK/300 tằm tuổi 4 (%)

Khối lượng toàn kén (%)

Khối lượng vỏ kén (%)

Tỷ lệ vỏ kén (%)

TN x GL1

0,01

0,07

3,13

2,48

2,37

0,10

GL2 x GL1

1,00

0,09

3,88

4,01

1,89

2,05

YB x GL1

7,33

0,73

18,60

4,33

5,32

0,99

GL2 x TN

4,77

0,64

8,91

1,09

0,27

1,25

YB x TN

5,81

0,59

10,08

0,91

2,65

1,78

YB x GL2

6,76

0,59

10,77

0,04

0,54

0,61

Từ kết quả bảng 4 cho thấy, tất cả các chỉ tiêu của các cặp lai đều có HMP dương chứng tỏ các cặp lai đều có các tính trạng vượt trội hơn so với bố mẹ, chỉ số HMP càng lớn thì cặp lai càng vượt trội hơn so với bố mẹ của nó. Trong đó YB x GL1 có HMP cao hơn các tổ hợp lai khác ở hầu hết các chỉ tiêu như tỷ lệ tằm sống, tỷ lệ nhộng sống, năng suất kén/300 tằm tuổi 4, khối lượng toàn kén và khối lượng vỏ kén. Chỉ riêng chỉ tiêu tỷ lệ vỏ kén YB x GL1 đứng ở vị trí thứ 4 sau GL2 x GL1, YB x TN và GL2 x TN.

Quan sát bảng 5 ta thấy rằng, ở các chỉ tiêu tỷ lệ tằm sống và tỷ lệ nhộng sống, năng suất kén, tỷ lệ vỏ kén của tất cả các cặp lai đều có giá trị HBP dương. Khối lượng toàn kén chỉ có GL2 x GL1 và YB x GL1 có giá trị HBP dương và giá trị HBP của GL2 x GL1 cao hơn so với YB x GL1. Tuy nhiên ở chỉ tiêu khối lượng vỏ kén chỉ còn YB x GL1 có giá trị HBP dương.

Bảng 5: Ưu thế lai thực một số chỉ tiêu của các cặp lai

Cặp lai

Tỷ lệ tằm sống (%)

Tỷ lệ nhộng sống (%)

NSK/300 tằm tuổi 4 (%)

Khối lượng toàn kén (%)

Khối lượng vỏ kén (%)

Tỷ lệ vỏ kén (%)

TN x GL1

1,47

0,76

0,00

-1,77

-2,94

2,05

GL2 x GL1

0,74

1,24

1,52

1,51

-3,77

7,58

YB x GL1

4,63

0,49

12,50

1,05

0,27

0,76

GL2 x TN

2,49

1,10

6,44

-3,75

-9,19

8,00

YB x TN

2,49

0,49

4,41

-4,28

-5,79

0,92

YB x GL2

5,69

0,49

5,88

-3,76

-5,63

1,98

Từ kết quả bảng 5 cho thấy YB x GL1 là cặp lai duy nhất có giá trị HBP dương ở tất cả các chỉ tiêu và một số chỉ tiêu như năng suất kén/300 tằm tuổi 4 và khối lượng vỏ kén đều có giá trị HBP cao hơn các cặp lai khác.

Tóm lại, từ kết quả so sánh các chỉ tiêu của các cặp lai kết hợp với đánh giá ưu thế lai trung bình, ưu thế lai thực đã chọn ra được YB x GL1 là cặp lai tốt nhất trong 6 cặp lai.

IV. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

4.1. Kết luận

Kết quả so sánh 6 cặp lai trong điều kiện nhiệt ẩm độ cao kết hợp với đánh giá ưu thế lai đã chọn ra YB x GL1 là cặp lai tốt nhất, có các chỉ tiêu vượt trội hơn bố mẹ và các cặp lai khác. Năng suất kén/300 tằm đếm tuổi 4 của cặp lai YB x GL1 (765 g), tổng số quả trứng 462 quả trứng/ổ; tỷ lệ bệnh thấp; tỷ lệ tằm sống cao 98,08%; tỷ lệ nhộng sống đạt 91,92%; tỷ lệ vỏ kén đạt 13,60%.

4.2. Đề nghị

Cặp lai YB x GL1 là cặp lai tằm có triển vọng đề nghị được đưa ra khảo nghiệm.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Cục trồng trọt, 2022. Báo cáo hiện trạng và định hướng phát triển sắn bền vững tại Việt Nam

2. Nguyễn Thị Đảm và cộng sự (2011), ‘‘Thuyết minh tổng thể đề tài nghiên cứu Nghiên cứu chọn tạo giống tằm sắn cho các tỉnh miền núi phía Bắc’’, Trung tâm nghiên cứu dâu tằm tơ TW, tr. 13-19.

3. TCVN 10737: 2015, Tiêu chuẩn Việt Nam vể Trứng tằm giống. Yêu cầu kỹ thuật

4. TCVN 13474-2-2022, Tiêu chuẩn Việt Nam vể Quy trình khảo nghiệm, kiểm định giống vật nuôi

5. Bin Zhou and Huiling Wang (2020), ‘‘Structure and Functions of Cocoons Constructed by Eri Silkworm”, Polymers 2020,12,2701, pp. 1-18.

6. Fangleng Narzary and Dulur Brahma (2021), “Effect of different seasons on the rearing of Eri silkworm, Samia ricini on Gmelina arborea leaves”, Journal of Entomology and Zoology Studies, Vol. 9, Issue 4, pp. 313-315.

7. Subramanianan, K., N. Sakthivel and S. M. H. Qadri (2013), “Rearing technology of Eri silkworm (Samia Cynthia Ricini) under varied seasonal and host plant conditions in Tamil Nadu”, International Journal of Life Sciences Biotechnology and Pharma Research, Vol. 2, No. 2, pp. 130-141.

Selection of Suitable Eri Silkworm (Samia ricini) Hybrids for Cultivation in the Central Highlands of Vietnam

Le Quy Tuy1, Le Thi Tho1, Phan Thuy Thuy Bao Anh1

1 Lam Dong Agro-forestry experimental research Center

Abstract

To select Eri silkworm (Samia ricini) hybrids capable of adapting to the hot and humid conditions of the rainy season in the Central Highlands of Vietnam, this study evaluated six silkworm hybrids under high temperature and humidity levels. Specifically, the young instar stages (1st, 2nd, and 3rd instars) were maintained at 32±1℃ with 92±1%, relative humidity (RH), while the late instar stages (4th and 5th instars) were kept at 30±1℃ with 87±1% RH. The experimental results indicated that five hybrids exhibited high viability rates (91,92 – 98,58%), namely GL2 x GL1, YB x GL1, GL2 x TN, YB x TN, and YB x GL2. Furthermore, four hybrids demonstrated superior cocoon yield (702,5 – 765,0 g per 300 larvae at the 4th instar), including YB x GL1, GL2 x TN, YB x TN, and YB x GL2. By combining these findings with an evaluation of heterosis for key traits, YB x GL1 was identified as the optimal hybrid among the six tested combinations. This hybrid achieved a cocoon yield of 765g per 300 larvae (counted at the 4th instar), a total fecundity of 462 eggs per laying, a low disease incidence, a high larval survival rate (98.08%), a pupation rate of 91.92%, and a shell ratio of 13.60%.

Bài liên quan

Quảng Ngãi đầu tư 2.350 tỷ nâng cấp QL24 Ba Tơ – Kon Plông

Quảng Ngãi đầu tư 2.350 tỷ nâng cấp QL24 Ba Tơ – Kon Plông

Quảng Ngãi phê duyệt dự án 2.350 tỷ đồng nâng cấp QL24 đoạn Ba Tơ – Kon Plông dài 48,4 km, tăng kết nối Măng Đen và thúc đẩy phát triển vùng Tây Nguyên.
KD Green Farm đặt “nền móng” vững chắc cho nông nghiệp công nghệ cao trên đại ngàn Tây Nguyên

KD Green Farm đặt “nền móng” vững chắc cho nông nghiệp công nghệ cao trên đại ngàn Tây Nguyên

Giữa những vùng đất sét phèn khắc nghiệt tại Buôn Kruễ, xã Vụ Bổn, tỉnh Đắk Lắk, một hành trình phi thường đã biến những mảng màu xám xịt của vùng đất cằn thành sắc xanh mướt mắt của những nông trường chuối bạt ngàn. KD Green Farm (KDGF) không chỉ viết nên câu chuyện về kinh tế, mà còn là bản hùng ca về ý chí con người chinh phục thiên nhiên bằng công nghệ và trái tim tử tế. Họ đã biến thách thức thành cơ hội, đặt nền móng vững chắc cho nền nông nghiệp công nghệ cao tại đại ngàn Tây Nguyên.
Thủ tướng quyết định hỗ trợ khẩn cấp 1.100 tỷ đồng cho 4 tỉnh Khánh Hòa, Lâm Đồng, Gia Lai và Đắk Lắk

Thủ tướng quyết định hỗ trợ khẩn cấp 1.100 tỷ đồng cho 4 tỉnh Khánh Hòa, Lâm Đồng, Gia Lai và Đắk Lắk

Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Đức Phớc vừa ký Quyết định số 2572/QĐ-TTg ngày 23/11/2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ trợ khẩn cấp kinh phí cho các tỉnh: Khánh Hòa, Lâm Đồng, Gia Lai và Đắk Lắk để khắc phục thiệt hại do mưa lũ gây ra.
Đắk Lắk: Ba người chết, hàng trăm ngôi nhà hư hại do bão số 13

Đắk Lắk: Ba người chết, hàng trăm ngôi nhà hư hại do bão số 13

Ngày 7/11, tại Sở Chỉ huy tiền phương đặt ở Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Gia Lai, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia, chủ trì cuộc họp trực tiếp kết hợp trực tuyến triển khai khẩn cấp công tác khắc phục hậu quả bão số 13 và ứng phó ngập lụt.
Hành trình “quả vàng hữu cơ” giữa đại ngàn Tây Nguyên

Hành trình “quả vàng hữu cơ” giữa đại ngàn Tây Nguyên

Giữa đại ngàn Tây Nguyên nắng gió, nơi những dải đất đỏ bazan cuồn cuộn trải dài, một câu chuyện nông nghiệp đầy cảm hứng đang được viết nên. Đó không phải câu chuyện của phép màu, mà là kết tinh từ ý chí, tầm nhìn và khát vọng bền vững. Nhân vật chính là Công ty TNHH Nông nghiệp sạch Sài Gòn - Tây Nguyên, doanh nghiệp đã chọn cho mình hướng đi khác biệt: Xây dựng hệ sinh thái nông nghiệp sạch, hữu cơ, với thông điệp rõ ràng qua slogan “Vì sức khỏe gia đình bạn”.
Tây Nguyên ứng dụng công nghệ viễn thám để cảnh báo hạn hán

Tây Nguyên ứng dụng công nghệ viễn thám để cảnh báo hạn hán

Trước tình hình hạn hán đang diễn biến phức tạp tại Tây Nguyên, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ phối hợp với Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO) triển khai dự án "Đánh giá tác động của hạn hán vùng Tây Nguyên" bằng công nghệ viễn thám. Dự án này được kỳ vọng mang lại giải pháp hiệu quả trong việc giám sát, dự báo và ứng phó với hạn hán, góp phần bảo vệ sản xuất nông nghiệp của khu vực.

CÁC TIN BÀI KHÁC

"Tam nông" khơi thông nguồn lực thúc đẩy nông thôn phát triển bền vững

"Tam nông" khơi thông nguồn lực thúc đẩy nông thôn phát triển bền vững

Nông nghiệp, nông dân, nông thôn – còn gọi là “tam nông” luôn giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, nhất là đối với tỉnh miền núi như Cao Bằng, nơi có hơn 83% dân cư sinh sống ở khu vực nông thôn và phụ thuộc chủ yếu vào sản xuất nông nghiệp. Phát triển “tam nông” không chỉ tăng trưởng kinh tế mà còn đảm bảo an sinh xã hội, giữ vững ổn định chính trị và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc. Giai đoạn 2020 – 2025, Cao Bằng đã triển khai nhiều giải pháp trong lĩnh vực này đạt được những kết quả tích cực, góp phần khơi thông nguồn lực, thúc đẩy phát triển nông nghiệp, cải thiện sinh kế người dân, từng bước xây dựng nông thôn mới (XDNTM) bền vững.
Báo chí bứt phá cùng nông nghiệp xanh, hữu cơ, tuần hoàn

Báo chí bứt phá cùng nông nghiệp xanh, hữu cơ, tuần hoàn

Việt Nam đang bước vào giai đoạn tăng tốc của tiến trình hiện đại hóa nông nghiệp theo hướng bền vững. Trên hành trình ấy, báo chí không chỉ dừng lại ở vai trò “người ghi tin”, mà đã thực sự bứt phá để trở thành một mắt xích không thể tách rời, một động lực thúc đẩy hệ sinh thái nông nghiệp xanh, hữu cơ và tuần hoàn.
Vai trò mới của báo chí trong phát triển nông nghiệp xanh

Vai trò mới của báo chí trong phát triển nông nghiệp xanh

Trong dòng chảy chuyển đổi của ngành nông nghiệp Việt Nam, báo chí không chỉ dừng lại ở việc phản ánh mùa vụ, giá cả hay những mô hình sản xuất mới. Trước yêu cầu phát triển nông nghiệp xanh, hữu cơ, tuần hoàn và có trách nhiệm với môi trường, báo chí đang đứng trước một vai trò rộng hơn: diễn giải chính sách, phát hiện vấn đề, lan tỏa mô hình tốt, kết nối các chủ thể trong chuỗi giá trị và bảo vệ những người làm nông nghiệp tử tế.
Truyền thông và sứ mệnh lan tỏa nhận thức đúng về nông nghiệp hữu cơ

Truyền thông và sứ mệnh lan tỏa nhận thức đúng về nông nghiệp hữu cơ

Trong tiến trình chuyển đổi sang nền nông nghiệp xanh, trong đó có sản xuất hữu cơ, tuần hoàn và phát thải thấp, báo chí không chỉ phản ánh đời sống sản xuất. Bằng năng lực truyền dẫn chính sách, kết nối tri thức và kiểm chứng thông tin, báo chí góp phần lan tỏa giá trị thật, bảo vệ người làm thật và củng cố niềm tin thị trường.
Khi ngòi bút trở thành hạt mầm cho nông nghiệp tương lai

Khi ngòi bút trở thành hạt mầm cho nông nghiệp tương lai

Báo chí đã tự thân vươn mình, trở thành một “mắt xích” chiến lược trong hệ sinh thái nông nghiệp hữu cơ, vì một Việt Nam xanh và bền vững cho muôn đời sau.
Ảnh hưởng của chế phẩm sinh học đến năng suất và chất lượng cây ăn quả hữu cơ

Ảnh hưởng của chế phẩm sinh học đến năng suất và chất lượng cây ăn quả hữu cơ

Trong sản xuất cây ăn quả hữu cơ, chế phẩm sinh học đang được xem là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao năng suất và chất lượng nông sản. Nghiên cứu cho thấy việc sử dụng chế phẩm sinh học giúp tăng tỷ lệ đậu quả, cải thiện giá trị dinh dưỡng, giảm chi phí sản xuất và góp phần phát triển nông nghiệp bền vững.
Sứ mệnh và tầm nhìn mới

Sứ mệnh và tầm nhìn mới

Trong bức tranh tổng thể của nền kinh tế toàn cầu thế kỷ XXI, “xanh hóa” không còn là một khái niệm xa xỉ hay một phong trào nhất thời, mà đã trở thành kim chỉ nam cho mọi chiến lược phát triển bền vững. Tại Việt Nam, nông nghiệp hữu cơ chính là “trái tim” của chiến lược kinh tế xanh. Trong hoàn cảnh đó, Tạp chí Hữu cơ Việt Nam đang đứng trước những vận hội và thách thức chưa từng có, đóng vai trò là cơ quan ngôn luận, là người định hướng và là cầu nối quan trọng thúc đẩy tư duy sản xuất sạch cho cộng đồng.
Kỷ nguyên số mở ra cơ hội nào cho báo chí nông nghiệp Việt Nam?

Kỷ nguyên số mở ra cơ hội nào cho báo chí nông nghiệp Việt Nam?

Sự bùng nổ của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và nền tảng mạng xã hội đang tạo ra một bước ngoặt lớn với báo chí Việt Nam. Trong dòng chảy ấy, báo chí nông nghiệp đứng trước cơ hội chưa từng có để mở rộng độc giả, tăng tốc truyền tải tri thức sản xuất và trở thành cầu nối dữ liệu giữa nông dân với thị trường. Nếu trước đây thông tin nông nghiệp thường gắn với những trang báo chuyên ngành có phạm vi tiếp cận hẹp, thì nay chỉ bằng một chiếc điện thoại thông minh, người nông dân có thể tiếp cận tin tức mùa vụ, giá cả, công nghệ canh tác và xu hướng xuất khẩu gần như theo thời gian thực.
Sức lan tỏa của nông nghiệp hữu cơ thông qua báo chí

Sức lan tỏa của nông nghiệp hữu cơ thông qua báo chí

Báo chí đóng vai trò quan trọng trong việc lan tỏa các giá trị của nông nghiệp hữu cơ, một trụ cột quan trọng của kinh tế xanh, thông qua việc cung cấp thông tin, tạo diễn đàn đối thoại, tôn vinh điển hình và giáo dục cộng đồng. Vượt qua thách thức, báo chí kiến tạo nhận thức và thúc đẩy hành động vì một tương lai nông nghiệp hữu cơ bền vững.
Nông nghiệp hữu cơ trước những yêu cầu mới của "tam nông"

Nông nghiệp hữu cơ trước những yêu cầu mới của "tam nông"

Trong dòng chảy đổi mới tư duy phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn (gọi tắt là tam nông), nông nghiệp hữu cơ không còn là câu chuyện riêng của một nhóm người sản xuất tiên phong. Trước những yêu cầu thực tiễn về tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi số, nâng cao đời sống nông dân và xây dựng nông thôn hiện đại, hữu cơ đang đứng trước một vai trò rộng lớn hơn: trở thành một phương thức tổ chức lại sản xuất, thị trường và không gian sống ở nông thôn theo hướng bền vững.
Báo chí đồng hành cùng nông nghiệp hữu cơ Việt Nam bước vào kỷ nguyên xanh

Báo chí đồng hành cùng nông nghiệp hữu cơ Việt Nam bước vào kỷ nguyên xanh

Nhân kỷ niệm 101 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21/6/1925 - 21/6/2026), Tạp chí Hữu cơ Việt Nam đã có cuộc trao đổi với TSKH. Hà Phúc Mịch, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khoá XI, Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam (VOAA) về vai trò của báo chí nói chung, báo chí số nói riêng trong phát triển nông nghiệp xanh, hữu cơ, tuần hoàn. Theo Chủ tịch VOAA, trong giai đoạn mới, báo chí không chỉ là kênh truyền tải thông tin, mà còn là lực lượng kiến tạo nhận thức, bảo vệ niềm tin thị trường và thúc đẩy hành động xã hội vì một nền nông nghiệp minh bạch, trách nhiệm, bền vững.
Ngọn đuốc soi đường cho báo chí cách mạng Việt Nam

Ngọn đuốc soi đường cho báo chí cách mạng Việt Nam

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt nền móng cho báo chí cách mạng Việt Nam bằng việc sáng lập báo Thanh Niên (1925), định hướng tuyên truyền vì độc lập dân tộc, đào tạo lớp nhà báo đầu tiên và chỉ rõ tôn chỉ, mục đích phụng sự cách mạng, nhân dân.
XEM THÊM
dam-ca-mau-chi-vi-hoa
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2025 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính