ki-niem-15-voaa
Thứ ba 03/11/2026 06:34Thứ ba 03/11/2026 06:34 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Kết nối tiêu thụ, tạo động lực cho sản phẩm nông sản Tân Lạc

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Ngày 3/8, đoàn công tác của Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam (VOAA) đã khảo sát các vùng sản xuất, cơ sở chế biến và hợp tác xã tại xã Tân Lạc, tỉnh Phú Thọ. Chuyến đi không chỉ nhận diện lợi thế bản địa mà còn đặt ra hàng loạt yêu cầu cụ thể về quy trình sản xuất, kiểm soát chất lượng, vùng nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc và thị trường tiêu thụ.
Đoàn công tác của Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam do TSKH. Hà Phúc Mịch, Chủ tịch Hiệp hội, làm Trưởng đoàn khảo sát các vùng sản xuất và cơ sở chế biến tại xã Tân Lạc, tỉnh Phú Thọ.
Đoàn công tác của Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam do TSKH. Hà Phúc Mịch, Chủ tịch Hiệp hội, làm Trưởng đoàn khảo sát các vùng sản xuất và cơ sở chế biến tại xã Tân Lạc, tỉnh Phú Thọ.

Hoạt động nằm trong Chương trình “Kết nối tiêu thụ sản phẩm hữu cơ PGS Tân Lạc, Phú Thọ”, với sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học, đơn vị kiểm soát chất lượng, doanh nghiệp xuất khẩu và hệ thống phân phối. Đây là hoạt động trong khuôn khổ dự án KVP1052, hợp tác giữa Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam và Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Đức Naturland, được tổ chức với sự phối hợp của Hội Nông dân tỉnh Phú Thọ.

VOAA cho biết, chương trình nhằm giới thiệu thực tế vùng sản xuất, sản phẩm tiềm năng, năng lực cung ứng và cơ chế kiểm soát chất lượng của các hợp tác xã, tổ hợp tác và nhóm nông dân áp dụng Hệ thống bảo đảm có sự tham gia, gọi tắt là PGS, tại xã Tân Lạc. Đồng thời, hoạt động tạo cơ hội để các bên trao đổi nhu cầu thị trường, khả năng hợp tác, mở rộng đầu ra và thúc đẩy ký kết hợp đồng tiêu thụ giữa người sản xuất với doanh nghiệp, đơn vị phân phối phù hợp.

Chương trình diễn ra trong hai ngày 3 và 4/8 tại xã Tân Lạc, tỉnh Phú Thọ. Đoàn công tác do TSKH. Hà Phúc Mịch, Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam, làm trưởng đoàn, cùng một số đại diện doanh nghiệp, chuyên gia và thành viên của VOAA.

Đoàn công tác khảo sát vườn bưởi đỏ 14 năm tuổi của Hợp tác xã Dịch vụ tổng hợp và Phát triển nông thôn Bình Minh.
Đoàn công tác khảo sát vườn bưởi đỏ 14 năm tuổi của Hợp tác xã Dịch vụ tổng hợp và Phát triển nông thôn Bình Minh.

Bưởi đỏ Tân Lạc: Chất lượng sẵn có nhưng phải đồng nhất quy trình

Điểm khảo sát đầu tiên của đoàn là vườn bưởi đỏ 14 năm tuổi của bà Vũ Thị Oanh, Giám đốc Hợp tác xã Dịch vụ tổng hợp và Phát triển nông thôn Bình Minh, tại xóm Tân Tiến, xã Tân Lạc.

Dẫn đoàn đi giữa những hàng bưởi đang mang quả, bà Oanh cho biết hợp tác xã sử dụng phân chuồng, phân bón sinh học và các sản phẩm bảo vệ thực vật an toàn. Hoạt động chăm sóc được giao cho bộ phận kỹ thuật theo dõi, có sổ ghi chép từng lần phun, bón và tưới nước.

Tuy nhiên, bà Oanh cũng thẳng thắn nhìn nhận vườn hiện chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của sản xuất hữu cơ. Hợp tác xã đang hoàn thiện quy trình, tham gia hệ thống PGS và mong muốn từng bước chuyển đổi sang sản xuất hữu cơ trong thời gian tới.

Tại vườn, những quả được bọc sẽ được lựa chọn cho đơn hàng xuất khẩu, trong khi số quả không bọc chủ yếu cung cấp cho siêu thị, nhà hàng và thị trường trong nước. Bưởi không đạt yêu cầu về hình thức, kích thước sẽ được nghiên cứu tận dụng để chế biến trà, rượu bưởi hoặc tinh dầu, qua đó hạn chế lãng phí và nâng giá trị trên cùng một vùng nguyên liệu.

Theo bà Oanh, các đơn hàng xuất khẩu trước đây thường lựa chọn quả có trọng lượng từ khoảng 0,8 đến 1,2 kg. Bưởi được bán theo quả thay vì bán theo cân. Giá xuất khẩu bình quân trong vụ trước đạt khoảng 16.000 đồng một quả. Từ năm 2023, doanh nghiệp thu mua trực tiếp hái bưởi tại vườn, sau đó đưa về cơ sở riêng để sơ chế và đóng thùng.

Bà Vũ Thị Oanh, Giám đốc Hợp tác xã Dịch vụ tổng hợp và Phát triển nông thôn Bình Minh, giới thiệu quy trình chăm sóc, phân loại và tiêu thụ bưởi đỏ.
Bà Vũ Thị Oanh, Giám đốc Hợp tác xã Dịch vụ tổng hợp và Phát triển nông thôn Bình Minh, giới thiệu quy trình chăm sóc, phân loại và tiêu thụ bưởi đỏ.

Thời gian thu hoạch bưởi đỏ chủ yếu rơi vào tháng 10 và tháng 11 âm lịch. Nếu để trong điều kiện thông thường, quả có thể giữ chất lượng khoảng một tháng đến một tháng rưỡi. Đối với lượng bưởi cần bảo quản qua Tết, người dân phải rửa sạch, phơi khô, bọc lại và đặt trong khu vực thoáng mát.

Hiện hợp tác xã tập trung vùng sản xuất khoảng 20 ha. Năng suất phổ biến đạt từ 20 đến 22 tấn trên mỗi ha, những năm thuận lợi có thể đạt khoảng 25 tấn trên mỗi ha. Tuy nhiên, bà Oanh cho biết vụ năm nay quả phát triển chậm, kích thước nhỏ hơn mọi năm, khiến sản lượng tính theo trọng lượng có thể giảm dù số lượng quả trên cây không thấp.

Đoàn công tác dành nhiều thời gian trao đổi về việc sử dụng phân chuồng. Theo bà Oanh, phân trâu và phân bò thường được ủ khoảng một năm trước khi bón. Riêng phân gà phải được xử lý kỹ và có thể được ủ tới hai năm do lo ngại tồn dư kháng sinh, mầm bệnh và nguy cơ làm nóng bộ rễ.

Kết nối tiêu thụ, tạo động lực cho sản phẩm nông sản Tân Lạc

Các thành viên trong đoàn lưu ý rằng việc ủ phân không chỉ phụ thuộc vào thời gian mà còn cần đúng quy trình, có sự phối hợp phù hợp giữa nhiệt độ, độ ẩm và vi sinh vật. Phân chưa được xử lý triệt để có thể ảnh hưởng đến sức khỏe cây, làm tăng nguy cơ nấm bệnh và rút ngắn thời gian bảo quản quả sau thu hoạch.

Bà Oanh cho biết vùng sản xuất đã có mã số vùng trồng phục vụ một số hoạt động xuất khẩu, đồng thời đã thực hiện kiểm tra mẫu đất và nước. Hợp tác xã cũng đang đăng ký mã số phục vụ thị trường Trung Quốc. Đây được xem là một bước chuẩn bị quan trọng trong bối cảnh doanh nghiệp ngày càng yêu cầu rõ về nguồn gốc, quy trình và khả năng truy xuất của từng lô sản phẩm.

Đoàn công tác khảo sát vườn bưởi gần 20 năm tuổi của ông Đặng Minh Dung, thành viên Hợp tác xã Trồng bưởi hữu cơ và Dịch vụ nông nghiệp Tân Đông.
Đoàn công tác khảo sát vườn bưởi gần 20 năm tuổi của ông Đặng Minh Dung, thành viên Hợp tác xã Trồng bưởi hữu cơ và Dịch vụ nông nghiệp Tân Đông.

Rời vườn bưởi của Hợp tác xã Bình Minh, đoàn tiếp tục khảo sát vườn của ông Đặng Minh Dung, thành viên Hợp tác xã Trồng bưởi hữu cơ và Dịch vụ nông nghiệp Tân Đông.

Đại diện hợp tác xã cho biết các hộ trồng bưởi được tổ chức thành ba nhóm trong hệ thống PGS Tân Lạc. Vườn của ông Dung thuộc nhóm Tân Lai và được giám sát theo hình thức nhóm thay vì chứng nhận riêng từng hộ. Trước đây, các nhóm tham gia một liên nhóm thuộc PGS Việt Nam. Do địa bàn cách xa, hoạt động giám sát gặp khó khăn nên Ban Điều phối PGS Tân Lạc được tổ chức riêng. Hiện hệ thống đang được sắp xếp, bàn giao để tiếp tục hoạt động trong địa giới tỉnh Phú Thọ.

Ông Đặng Minh Dung cho biết, vườn bưởi của ông được trồng từ năm 2007, đến nay nhiều cây đã có tuổi đời gần 20 năm. Trước đây, khu vườn rộng khoảng 10.000 m², với khoảng 350 cây. Do tuổi cao, hiện hai ông bà trực tiếp chăm sóc khoảng 120 cây, phần diện tích còn lại giao cho người thân quản lý.

Ông Đặng Minh Dung giới thiệu quá trình chăm sóc vườn bưởi được gia đình trồng từ năm 2007.
Ông Đặng Minh Dung giới thiệu quá trình chăm sóc vườn bưởi được gia đình trồng từ năm 2007.

Ông Dung tham gia Hợp tác xã Trồng bưởi hữu cơ và Dịch vụ nông nghiệp Tân Đông từ năm 2019. Theo ông, vụ năm nay bưởi mất mùa và kích thước quả nhỏ hơn mọi năm. Tuy vậy, vườn lâu nay vẫn được khách hàng tại Hà Nội đặt mua nhờ hương vị đặc trưng.

Sau mỗi vụ thu hoạch, gia đình tiến hành tỉa cành, vệ sinh vườn và bón phân để phục hồi cây. Phân trâu hoặc phân lợn được ủ mục cùng vôi, sau đó bón vào khoảng tháng 1 và tháng 2 dương lịch, kết hợp tưới nước để kích thích cây ra hoa. Mỗi chu kỳ sản xuất, vườn được bón phân từ ba đến bốn lần.

Trao đổi tại vườn, các thành viên đoàn công tác cho rằng phân chuồng là nguồn hữu cơ quan trọng nhưng khó cung cấp cân đối toàn bộ dưỡng chất cho cây bưởi. Người trồng có thể nghiên cứu bổ sung kali từ thân chuối, chuối rừng hoặc tro thực vật; bổ sung canxi từ vỏ trứng đã qua xử lý; tận dụng cá tạp để ủ cùng đường và men vi sinh thành dịch dinh dưỡng. Tuy nhiên, quá trình ủ và sử dụng phải được hướng dẫn kỹ thuật, tránh áp dụng tùy tiện.

Ông Nguyễn Văn Lưu, Tổng Giám đốc Công ty Nông nghiệp Công nghệ cao Đồng Tâm, nhận định bưởi muốn tiếp cận thị trường xuất khẩu phải đồng đều về kích thước, chất lượng và quy trình canh tác.
Ông Nguyễn Văn Lưu, Tổng Giám đốc Công ty Nông nghiệp Công nghệ cao Đồng Tâm nhận định, quả bưởi muốn tiếp cận thị trường xuất khẩu phải đồng đều về kích thước, chất lượng và quy trình canh tác.

Ông Nguyễn Văn Lưu, Tổng Giám đốc Công ty Nông nghiệp Công nghệ cao Đồng Tâm, đánh giá chất lượng quả hiện tại chưa đáp ứng yêu cầu của một số thị trường xuất khẩu do kích thước nhỏ và chưa đồng đều.

Theo ông Lưu, thị trường châu Âu thường yêu cầu bưởi có trọng lượng khoảng 0,8 đến 1,2 kg, một số đơn hàng có thể chấp nhận đến 1,3 kg. Trong khi đó, nhiều cây tại vườn đang để quá nhiều quả nên cây không đủ sức nuôi quả đạt kích thước cần thiết.

“Nếu một cây đang để khoảng 300 quả thì ngay từ khi quả còn nhỏ cần lựa chọn, giảm xuống còn khoảng 150 quả. Sau thu hoạch cũng phải cắt tỉa cành, khống chế sản lượng để cây tập trung nuôi thân và bộ rễ. Khi bà con làm đúng quy trình và quả đạt trọng lượng, doanh nghiệp sẵn sàng bao tiêu”, ông Lưu trao đổi.

Ông Nguyễn Tiến Hưng, đại diện Chuỗi cửa hàng thực phẩm sạch BigGreen, cho rằng bưởi từ những cây lâu năm vẫn có cơ hội tại thị trường nội địa nếu bảo đảm chất lượng và minh bạch nguồn gốc.
Ông Nguyễn Tiến Hưng, giám đốc Chuỗi cửa hàng thực phẩm sạch BigGreen cho rằng, quả bưởi từ những cây lâu năm vẫn có cơ hội tại thị trường nội địa nếu bảo đảm chất lượng và minh bạch nguồn gốc.

Ở góc độ thị trường trong nước, ông Nguyễn Tiến Hưng, giám đốc Chuỗi cửa hàng thực phẩm sạch BigGreen cho rằng, không phải toàn bộ số quả nhỏ đều mất cơ hội tiêu thụ. Với những cây lâu năm, quả có thể nhỏ nhưng hương vị thường đậm hơn. Nếu sản phẩm không phù hợp với phân khúc xuất khẩu, hệ thống bán lẻ trong nước vẫn có thể tiếp nhận khi chất lượng quả tốt, nguồn gốc rõ ràng và nguồn cung ổn định.

Ông Hưng đồng thời lưu ý sức khỏe cây trong vườn chưa đồng đều, một số cây có dấu hiệu vàng lá và xuất hiện sinh vật gây hại. Với địa hình dốc, người trồng không nên làm sạch toàn bộ cỏ trên bề mặt vì sẽ làm tăng nguy cơ rửa trôi và xói mòn. Thay vào đó, có thể duy trì thảm cỏ được kiểm soát và đào các rãnh nhỏ để giữ đất, giữ nước cùng lượng dinh dưỡng bị cuốn theo dòng chảy.

Từ hai vườn bưởi, bài toán thị trường hiện lên khá rõ. Để đi vào xuất khẩu, sản phẩm phải đồng đều về kích thước, quy trình và khả năng truy xuất. Với thị trường nội địa, hương vị, độ chín, câu chuyện vùng trồng và sự minh bạch lại có thể trở thành lợi thế. Điều quan trọng là các hợp tác xã phải phân loại sản phẩm ngay từ vườn và lựa chọn đúng kênh tiêu thụ, thay vì bán chung tất cả sản phẩm theo một mức giá.

Đoàn công tác thăm Hợp tác xã Dệt thổ cẩm truyền thống và Dịch vụ tổng hợp Đông Lai (nay là xã Tân Lạc), tỉnh Phú Thọ.
Đoàn công tác thăm Hợp tác xã Dệt thổ cẩm truyền thống và Dịch vụ tổng hợp Đông Lai (nay là xã Tân Lạc), tỉnh Phú Thọ.

Giữ nghề thổ cẩm Mường bằng một chuỗi giá trị mới

Điểm dừng chân tiếp theo là Hợp tác xã Dệt thổ cẩm truyền thống và Dịch vụ tổng hợp Đông Lai (nay là xã Tân Lạc), tỉnh Phú Thọ.

Giám đốc hợp tác xã Bùi Văn Khoa cho biết, nghề dệt thổ cẩm ở xóm Cóm được truyền lại qua nhiều thế hệ. Trước đây, phụ nữ Mường muốn lập gia đình phải biết thêu, làm gối, may trang phục và dệt chăn bông. Kỹ năng dệt không chỉ phục vụ sinh hoạt mà còn được xem như một tiêu chí thể hiện sự khéo léo, đảm đang của người phụ nữ.

Theo ông Khoa, đến năm 2015, nghề dệt thổ cẩm tại địa phương được hỗ trợ khôi phục và công nhận là làng nghề truyền thống. Năm 2023, Hợp tác xã Dệt thổ cẩm truyền thống và Dịch vụ tổng hợp Đông Lai được thành lập nhằm tổ chức lại sản xuất, hỗ trợ pháp lý, tìm kiếm thị trường và tiếp tục gìn giữ bản sắc văn hóa Mường.

Ông Bùi Văn Khoa, Giám đốc Hợp tác xã Dệt thổ cẩm truyền thống và Dịch vụ tổng hợp Đông Lai, giới thiệu lịch sử hình thành và định hướng phát triển của hợp tác xã.
Ông Bùi Văn Khoa, Giám đốc Hợp tác xã Dệt thổ cẩm truyền thống và Dịch vụ tổng hợp Đông Lai, giới thiệu lịch sử hình thành và định hướng phát triển của hợp tác xã.

Hợp tác xã hiện có 54 thành viên, trong đó 53 người là phụ nữ. Nhiều thành viên đã ở tuổi trung niên và cao tuổi, một số người trên 80 tuổi vẫn tiếp tục gắn bó với khung cửi.

Từ những sản phẩm truyền thống, hợp tác xã đã phát triển thêm túi, ví, chăn, gối, khăn trải bàn và các mặt hàng lưu niệm. Thông tin từ Hội Nông dân tỉnh Phú Thọ cho biết tổng vùng nguyên liệu của hợp tác xã rộng khoảng 10 ha, gồm 5 ha trồng bông và 5 ha trồng dâu nuôi tằm. Các công đoạn từ trồng nguyên liệu, se sợi đến dệt vải được thực hiện thủ công.

Năm 2025, sản phẩm thổ cẩm Đông Lai được công nhận sản phẩm OCOP 3 sao cấp tỉnh, với lượng tiêu thụ trên 10.000 sản phẩm mỗi năm. Nghề dệt tạo thêm thu nhập khoảng 3 đến 4 triệu đồng mỗi tháng cho nhiều phụ nữ Mường, đồng thời góp phần gìn giữ “Nghệ thuật tạo hoa văn cạp váy của người Mường”, Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Kết nối tiêu thụ, tạo động lực cho sản phẩm nông sản Tân LạcKết nối tiêu thụ, tạo động lực cho sản phẩm nông sản Tân LạcKết nối tiêu thụ, tạo động lực cho sản phẩm nông sản Tân LạcKết nối tiêu thụ, tạo động lực cho sản phẩm nông sản Tân Lạc

Tuy nhiên, hợp tác xã không muốn chỉ dừng lại ở những sản phẩm dệt truyền thống. Một chuỗi giá trị mới đang được định hình từ cây dâu, con tằm và những phụ phẩm của quá trình sản xuất.

Lá dâu được sử dụng nuôi tằm, phần ngọn được nghiên cứu chế biến trà, thân cây có thể làm chuỗi hạt hoặc đồ lưu niệm. Bông sau thu hoạch được phơi, kéo thành sợi và dệt thành sản phẩm. Một số loại lá cây địa phương được sử dụng để tạo màu nhuộm tự nhiên.

Ông Khoa cho biết hợp tác xã mong muốn khôi phục không gian văn hóa Mường, kết hợp trình diễn nghề dệt, giới thiệu sản phẩm và phát triển du lịch trải nghiệm. Đại diện hợp tác xã từng tham gia một chuyến học tập kinh nghiệm tại Malaysia, nơi một số cộng đồng dân tộc đã biến nghề thủ công, trang phục và không gian văn hóa thành sản phẩm du lịch.

Kết nối tiêu thụ, tạo động lực cho sản phẩm nông sản Tân Lạc
Đoàn công tác được trải nghiệm dệt thổ cẩm tại hợp tác xã.

Dù có nhiều ý tưởng, Hợp tác xã Đông Lai vẫn gặp khó khăn về trụ sở, máy móc, thiết bị và đất sản xuất. Tổng diện tích vùng nguyên liệu được hình thành từ những phần đất nhỏ của từng hộ nên chưa tập trung. Khi một hộ trồng dâu nhưng khu vực lân cận sử dụng hóa chất, việc kiểm soát vùng nguyên liệu sẽ gặp khó khăn.

Sản phẩm trà lá dâu cũng mới ở giai đoạn phát triển. Tại buổi làm việc, đại diện hợp tác xã chia sẻ một số kinh nghiệm sử dụng lá dâu trong dân gian và thông tin tham khảo về tác dụng của sản phẩm. Đoàn công tác đề nghị hợp tác xã khai thác câu chuyện truyền thống nhưng đồng thời phải kiểm nghiệm, chuẩn hóa quy trình chế biến, hoàn thiện hồ sơ sản phẩm và có căn cứ rõ ràng trước khi công bố bất kỳ tác dụng nào liên quan đến sức khỏe.

Câu chuyện của Đông Lai cho thấy bảo tồn nghề truyền thống không thể tách rời thị trường. Khi người thợ có thu nhập, sản phẩm có đầu ra và lớp trẻ nhìn thấy cơ hội sinh kế, những kỹ thuật dệt lâu đời mới có điều kiện tiếp tục được trao truyền.

Ông Bùi Văn Tường, Giám đốc Hợp tác xã Sản xuất và Kinh doanh nông nghiệp 0789, giới thiệu vùng trồng giống ổi bản địa được Hợp tác xã 0789 phát triển để thu búp và lá non làm trà.
Ông Bùi Văn Tường, Giám đốc Hợp tác xã Sản xuất và Kinh doanh nông nghiệp 0789, giới thiệu vùng trồng giống ổi bản địa được Hợp tác xã 0789 phát triển để thu búp và lá non làm trà.

Hợp tác xã 0789 và cách tận dụng cây bản địa, phụ phẩm nông nghiệp

Buổi chiều, đoàn khảo sát Hợp tác xã Sản xuất và Kinh doanh nông nghiệp 0789. Ông Bùi Văn Tường, Giám đốc hợp tác xã, cho biết đơn vị được thành lập năm 2020, hoạt động chính ban đầu là sản xuất giống cây trồng.

Trong khoảng ba năm trở lại đây, hợp tác xã bắt đầu phát triển thêm các sản phẩm dựa trên nguồn nguyên liệu sẵn có tại địa phương, gồm trà lá ổi, trà búp tía tô và tinh dầu tía tô.

Đối với cây ổi, hợp tác xã lựa chọn một giống bản địa có quả nhỏ, ruột đỏ, từng mọc tự nhiên trong khu vực. Theo ông Tường, giống ổi này sinh trưởng khỏe, ít sâu bệnh hơn một số giống được đưa từ nơi khác về. Trước đây, hợp tác xã phải thu mua lá từ những cây mọc rải rác trong dân nhưng nguồn cung không ổn định, vì vậy đã nhân giống và hình thành vùng trồng khoảng 1 ha.

Cây ổi được trồng với mục đích chính là thu búp và lá non để chế biến trà, không tập trung nuôi quả. Sau khoảng ba đến bốn tháng, cây bắt đầu ra ngọn mới và được bấm ngọn thường xuyên để tạo nguồn nguyên liệu.

Với cây tía tô, hợp tác xã tận dụng khoảng thời gian đất trồng keo chưa khép tán. Khi một diện tích keo vừa được trồng lại, hạt tía tô được gieo vào khoảng đất trống để thu lá, búp và thân trong vài tháng đầu. Khi keo lớn, hợp tác xã chuyển sang khu vực khác vừa khai thác xong.

Lá và búp tía tô được chế biến thành trà. Phần thân được đưa vào chưng cất tinh dầu để cung cấp nguyên liệu cho các cơ sở chế biến. Sau chưng cất, phần nước còn lại được tiếp tục cô thành cao, trong khi bã thực vật được băm nhỏ, ủ thành phân và đưa trở lại vùng trồng.

Ông Tường cho rằng cách làm này giúp hợp tác xã tận dụng gần như toàn bộ nguyên liệu, hạn chế chất thải và từng bước hình thành chu trình sản xuất tuần hoàn. Trước đó, 1 ha tía tô của bốn thành viên Hợp tác xã 0789 đã được trao chứng nhận sản xuất hữu cơ PGS.

Đoàn công tác khảo sát vùng trồng giống ổi bản địa được Hợp tác xã 0789 phát triển.
Đoàn công tác khảo sát vùng trồng giống ổi bản địa được Hợp tác xã 0789 phát triển.

Trao đổi về hiệu quả kinh tế của vùng ổi, ông Nguyễn Văn Lưu đề nghị hợp tác xã nghiên cứu thêm những giống có thể vừa thu lá vừa thu quả. Theo ông, một số giống ổi có thể cho thu hoạch quả sau khoảng bảy tháng. Nếu tổ chức được vùng trồng khoảng 10 ha, Công ty Nông nghiệp Công nghệ cao Đồng Tâm có thể nghiên cứu bao tiêu quả, trong khi hợp tác xã vẫn khai thác búp và lá để chế biến trà.

Ông Lưu cho biết doanh nghiệp hiện xuất khẩu khoảng 14 container ổi cấp đông mỗi tháng sang thị trường Trung Quốc, nguyên liệu chủ yếu được thu mua tại khu vực miền Đông và miền Tây Nam Bộ. Việc phát triển thêm vùng nguyên liệu ở phía Bắc có thể mở ra một nguồn cung mới nếu sản phẩm đáp ứng yêu cầu.

Đoàn công tác cũng nhận thấy một số khu vực đất trồng đang để trống bề mặt và thiếu lớp phủ. Các thành viên đề nghị hợp tác xã trồng cây họ đậu để bổ sung sinh khối, giữ ẩm, hạn chế xói mòn và cải thiện đất, thay vì chỉ giảm đầu vào mà không bù lại lượng dinh dưỡng cây đã lấy đi.

Đoàn công tác khảo sát vùng trồng tràm trà và tràm năm gân được Hợp tác xã 0789 sử dụng để chưng cất tinh dầu và nhân giống.
Đoàn công tác khảo sát vùng trồng tràm trà và tràm năm gân được Hợp tác xã 0789 sử dụng để chưng cất tinh dầu và nhân giống.

Tại khu vực trồng tràm, ông Tường giới thiệu hai giống gồm tràm trà và tràm năm gân, có nguồn giống từ Australia và đã được nhân tại Việt Nam. Sau ba năm khảo nghiệm, vùng cây được bàn giao cho hợp tác xã để chưng cất tinh dầu, nhân giống và tiếp tục theo dõi khả năng thích nghi.

Khu vực này trước đây là đất bỏ hoang, thường bị úng. Cây tràm có khả năng sinh trưởng trong điều kiện đất ẩm và chịu úng tương đối tốt. Sau năm đầu, cây có thể được cắt để thu nguyên liệu, những năm tiếp theo tiếp tục tái sinh và cho thu hoạch.

Các thành viên đoàn công tác đề nghị nghiên cứu khả năng cung cấp giống tràm cho một số trang trại, đồng thời đánh giá cụ thể hiệu quả sử dụng tinh dầu và cây trồng trong kiểm soát côn trùng. Việc phát triển phải dựa trên kết quả thử nghiệm, nhu cầu thực tế và quy trình kỹ thuật phù hợp, tránh mở rộng chỉ dựa trên cảm nhận ban đầu.

Ông Đỗ Trọng Hiệp, sáng lập viên Hợp tác xã Tân Lạc Sơn, giới thiệu quá trình phát triển sản phẩm trà giảo cổ lam.
Ông Đỗ Trọng Hiệp, sáng lập viên Hợp tác xã Tân Lạc Sơn, giới thiệu quá trình phát triển sản phẩm trà giảo cổ lam.

Tân Lạc Sơn và bài toán vùng nguyên liệu cho trà giảo cổ lam

Điểm khảo sát cuối trong ngày của đoàn là Hợp tác xã Tân Lạc Sơn. Ông Đỗ Trọng Hiệp, sáng lập viên hợp tác xã, cho biết đơn vị được thành lập năm 2014 với mong muốn đồng hành cùng người dân địa phương phát triển sinh kế.

Ngay từ đầu, nhóm sáng lập lựa chọn phát triển sản phẩm khô để có thể vận chuyển đi xa, kéo dài thời gian tiêu thụ và giảm áp lực phải bán ngay sau thu hoạch. Sản phẩm trà giảo cổ lam đã được ông Hiệp kinh doanh từ năm 2012. Khi hợp tác xã ra đời, mẫu nhãn và bao bì cơ bản đã được hình thành, đến nay vẫn giữ khoảng 90% thiết kế ban đầu.

Từ trà giảo cổ lam dạng thô, hợp tác xã phát triển thêm trà túi lọc, mỗi bịch gồm 75 gói. Đơn vị cũng nhận gia công sản phẩm theo yêu cầu và nhãn riêng của đối tác.

Khó khăn lớn nhất hiện nay là vùng nguyên liệu. Mỗi năm, hợp tác xã thu mua khoảng 20 đến 30 tấn giảo cổ lam tươi tại khu vực Phú Vinh và Phú Cường cũ. Do nguồn cung tại Tân Lạc chưa đáp ứng nhu cầu, đơn vị phải bổ sung nguyên liệu từ Mộc Châu.

Theo ông Hiệp, diện tích có hoạt động thu hái tại khu vực xã Phú Vinh cũ được thống kê khoảng 450 ha, nhưng phần lớn là cây mọc tự nhiên. Diện tích do hộ dân chủ động trồng mới chỉ chiếm khoảng 2 đến 3%.

Cây mọc trong tự nhiên có thể dài từ 5 đến 7 m nhưng phần búp non phù hợp để sao trà lại không nhiều. Điều này khiến hợp tác xã khó phát triển dòng trà búp có giá trị cao. Muốn làm sản phẩm tương tự trà sao, hợp tác xã phải hình thành vùng trồng, kiểm soát cách chăm sóc và thu hái từ đầu.

“Chúng tôi đang thiếu nguyên liệu. Trước đây đã có một số dự án thử nghiệm trồng giảo cổ lam nhưng chưa duy trì được. Tới đây, hợp tác xã sẽ phải trực tiếp cùng bà con xây dựng vùng trồng”, ông Hiệp chia sẻ.

Đầu ra của sản phẩm cũng chưa rộng. Tại Hà Nội, hợp tác xã mới có một đơn vị phân phối thường xuyên là Tâm Đạt. Ngoài ra, cơ sở nhận gia công cho một số đối tác tại các địa phương. Ông Hiệp mong muốn được kết nối thêm với hệ thống cửa hàng và đơn vị phân phối để mở rộng thị trường.

Về chất lượng, ông Hiệp cho biết vùng nguyên liệu rộng, chủ yếu thu hái tự nhiên nên chưa thể chứng nhận toàn bộ. Trong khi đó, việc mua nguyên liệu từ nhiều hộ khiến chất lượng có nguy cơ không đồng đều.

Các chuyên gia và doanh nghiệp trao đổi với Hợp tác xã Tân Lạc Sơn về kiểm soát vi sinh, kim loại nặng, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và truy xuất nguồn nguyên liệu.
Các chuyên gia và doanh nghiệp trao đổi với Hợp tác xã Tân Lạc Sơn về kiểm soát vi sinh, kim loại nặng, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và truy xuất nguồn nguyên liệu.

Quy trình hiện nay vẫn mang tính truyền thống. Giảo cổ lam sau thu hoạch được nhặt bỏ rác và những cây không đúng loại, sau đó băm và sao, không trải qua công đoạn rửa. Theo ông Hiệp, cây ngậm nhiều nước và rất mềm, nếu rửa nhưng không xử lý ngay có thể bị hỏng chỉ sau nửa ngày.

Đại diện một số doanh nghiệp cho rằng đặc điểm này càng đặt ra yêu cầu kiểm soát vi sinh, kim loại nặng, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và điều kiện vệ sinh trong toàn bộ quá trình thu mua, vận chuyển, sơ chế. Nếu muốn đưa sản phẩm vào hệ thống phân phối cao cấp, hợp tác xã phải chứng minh được chất lượng đồng đều giữa các lô hàng.

Đồng thời, đoàn công tác khuyến nghị hợp tác xã không nên chờ đến khi kiểm soát được toàn bộ diện tích hàng trăm ha. Đơn vị có thể lựa chọn trước một số khu vực từ một đến vài ha, xây dựng quy trình thống nhất, lập hồ sơ vùng trồng và thực hiện truy xuất nguồn gốc. Khi mô hình nhỏ vận hành tốt, diện tích mới tiếp tục được mở rộng.

Tiến sĩ Trần Thị Thanh Bình, Giám đốc Trung tâm Nông nghiệp Hữu cơ cho biết, Trung tâm Nông nghiệp Hữu cơ và đơn vị chuyên môn đã hỗ trợ Hợp tác xã Tân Lạc Sơn xây dựng bản đồ số cho vùng trồng, vùng khai thác rộng hơn 400 ha; đồng thời hướng dẫn cải tạo cơ sở, đầu tư máy móc và phát triển sản phẩm trà túi lọc.

Mẫu trà đã được đưa đi phân tích một số chỉ tiêu về vi sinh, kim loại, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và vi khuẩn E. coli. Theo Tiến sĩ Trần Thị Thanh Bình, kết quả các chỉ tiêu được kiểm tra đều đáp ứng yêu cầu.

Tiến sĩ Trần Thị Thanh Bình trao giấy chứng nhận cơ sở chế biến rộng 175 m² đáp ứng tiêu chuẩn PGS cho Hợp tác xã Tân Lạc Sơn.
Tiến sĩ Trần Thị Thanh Bình trao giấy chứng nhận cơ sở chế biến rộng 175 m² đáp ứng tiêu chuẩn PGS cho Hợp tác xã Tân Lạc Sơn.

Tại buổi khảo sát, Tiến sĩ Trần Thị Thanh Bình đã trao giấy chứng nhận cơ sở chế biến rộng 175 m² của Hợp tác xã Tân Lạc Sơn đáp ứng tiêu chuẩn PGS. Việc chứng nhận chỉ áp dụng đối với phạm vi cơ sở chế biến được đánh giá, không đồng nghĩa toàn bộ vùng nguyên liệu tự nhiên rộng hàng trăm ha đã được chứng nhận.

Bà Bình đồng thời đề nghị hợp tác xã hướng dẫn người dân thu hái có trách nhiệm, chỉ cắt phần thân và chừa lại gốc để cây tiếp tục tái sinh, không nhổ cả rễ hoặc khai thác tận diệt. Đây là yêu cầu quan trọng để vừa duy trì nguồn nguyên liệu, vừa bảo vệ hệ sinh thái tự nhiên.

Giấy chứng nhận được trao ngay tại cơ sở là sự ghi nhận cho những thay đổi bước đầu của Hợp tác xã Tân Lạc Sơn. Tuy nhiên, đây chưa phải điểm kết thúc. Muốn phát triển sản phẩm trà giảo cổ lam thành hàng hóa có thị trường ổn định, hợp tác xã vẫn phải giải quyết đồng thời bài toán vùng trồng, quy trình thu hái, chất lượng nguyên liệu, chế biến, truy xuất và phân phối.

Đại diện Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam và Hợp tác xã Tân Lạc Sơn chụp ảnh lưu niệm tại lễ trao giấy chứng nhận cơ sở chế biến đáp ứng tiêu chuẩn PGS.
Đại diện Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam và Hợp tác xã Tân Lạc Sơn chụp ảnh lưu niệm tại lễ trao giấy chứng nhận cơ sở chế biến đáp ứng tiêu chuẩn PGS.

Từ khảo sát thực địa đến những điều kiện hợp tác cụ thể

Qua một ngày làm việc tại Tân Lạc, đoàn công tác đã tiếp cận một hệ sản phẩm đa dạng, từ bưởi đỏ, thổ cẩm, dâu tằm, trà lá ổi, tía tô, tràm đến giảo cổ lam. Mỗi sản phẩm đều có lợi thế riêng về điều kiện tự nhiên, tri thức bản địa hoặc câu chuyện văn hóa.

Chuyến khảo sát đã giúp người sản xuất nghe trực tiếp yêu cầu của thị trường ngay tại vườn, còn doanh nghiệp có điều kiện nhìn rõ năng lực, hạn chế và điều kiện sản xuất thực tế. Đây là nền tảng để phiên tọa đàm, kết nối giao thương và ký kết tiêu thụ trong ngày tiếp theo đi vào những nội dung cụ thể, thay vì chỉ dừng ở các cam kết mang tính định hướng.

Từ những vườn bưởi lâu năm đến cơ sở chế biến trà giảo cổ lam, câu chuyện chung của Tân Lạc không phải là thiếu sản phẩm. Vấn đề nằm ở cách tổ chức lại vùng nguyên liệu, kiểm soát chất lượng và kết nối đúng thị trường để những giá trị bản địa thực sự chuyển thành thu nhập bền vững cho người sản xuất.

Bưởi Hòa Bình tiếp tục chinh phục thị trường quốc tế Bưởi Hòa Bình tiếp tục chinh phục thị trường quốc tế

Lô bưởi đỏ Tân Lạc và bưởi da xanh đầu tiên của Hòa Bình đã chính thức lên đường sang thị trường EU, đánh dấu ...

Tân Lạc (Hòa Bình) giảm nghèo bền vững, nâng cao đời sống vùng cao Tân Lạc (Hòa Bình) giảm nghèo bền vững, nâng cao đời sống vùng cao

Tân Lạc triển khai đồng bộ nhiều giải pháp giảm nghèo, tập trung hỗ trợ sinh kế, giáo dục, y tế. Tỷ lệ hộ nghèo ...

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, hướng tới nền trồng trọt hiện đại và bền vững Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, hướng tới nền trồng trọt hiện đại và bền vững

Năm 2025 được xem là một dấu mốc đáng chú ý của ngành trồng trọt tỉnh Phú Thọ khi những khó khăn từ thời tiết ...

Cây chuối mở hướng phát triển kinh tế ở Lai Đồng, tỉnh Phú Thọ Cây chuối mở hướng phát triển kinh tế ở Lai Đồng, tỉnh Phú Thọ

Những năm gần đây, cùng với chuyển đổi cơ cấu cây trồng, xã Lai Đồng, tỉnh Phú Thọ từng bước hình thành và phát triển ...

Đất cội nguồn Đất cội nguồn "thức giấc" dòng chảy xanh

Từ tư duy sản xuất thuần túy sang kinh tế tuần hoàn, nông nghiệp vùng đất Tổ đang kiến tạo một hệ sinh thái bền ...

Bài liên quan

Tìm lời giải cho bài toán nông nghiệp thích ứng với xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long

Tìm lời giải cho bài toán nông nghiệp thích ứng với xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long

Xâm nhập mặn, hạn hán và những biến động khó lường của nguồn nước đang đặt sản xuất nông nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long trước nhiều thách thức. Tại hội thảo ở TP Cần Thơ, các chuyên gia, nhà quản lý và đối tác quốc tế cùng trao đổi giải pháp thích ứng, từ quản lý nguồn nước, điều chỉnh phương thức canh tác đến phát triển chuỗi giá trị, hướng đến mục tiêu nâng cao hiệu quả sản xuất và bảo đảm sinh kế cho người nông dân.
Hải Phòng: Dấu ấn chung kết cuộc thi tiếng Hàn lần thứ 12

Hải Phòng: Dấu ấn chung kết cuộc thi tiếng Hàn lần thứ 12

Đóng vai trò là "chìa khóa" mở ra sự hiểu biết và đồng điệu giữa hai dân tộc, Chiều 1/11 Chung kết Cuộc thi tiếng Hàn lần thứ 12 - Hải Phòng 2026 đã để lại những dư âm sâu sắc về sự kết nối tri thức và văn hóa. Việc duy trì và phát triển cuộc thi qua hơn một thập kỷ không chỉ thắp sáng niềm đam mê ngôn ngữ trong thế hệ trẻ đất Cảng, mà còn củng cố nền tảng xã hội vững chắc, gia cố bệ phóng cho các hoạt động hợp tác kinh tế - văn hóa và ngoại giao nhân dân Việt - Hàn ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất.
Tp Huế lấy nông nghiệp hữu cơ làm hướng đi chủ đạo, nâng cao giá trị sản phẩm

Tp Huế lấy nông nghiệp hữu cơ làm hướng đi chủ đạo, nâng cao giá trị sản phẩm

Tp Huế định hướng lấy nông nghiệp hữu cơ làm hướng đi chủ đạo, phát triển kinh tế tuần hoàn gắn với liên kết chuỗi giá trị, nâng cao chất lượng nông sản...
Hải Phòng: Khai trương tuyến phố thương mại, văn hóa và ẩm thực số 53 Lạch Tray

Hải Phòng: Khai trương tuyến phố thương mại, văn hóa và ẩm thực số 53 Lạch Tray

Trong không khí rực rỡ và nhộn nhịp của thành phố Cảng khi lên đèn, chiều tối 30/10, không gian số 53 Lạch Tray trở thành tâm điểm chú ý khi UBND phường Gia Viên chính thức khai trương tuyến phố thương mại, văn hóa và ẩm thực đêm. Việc đưa vào vận hành tuyến phố không chỉ kiến tạo một "điểm hẹn" thưởng thức văn hóa ẩm thực và giải trí mới mẻ, mang đậm chất sống phóng khoáng của đất Cảng, mà còn thổi luồng sinh khí tươi trẻ vào nhịp sống đô thị về đêm. Ông Đỗ Thành Trung, Chủ tịch UBND thành phố đã tới dự, chứng kiến mốc khởi đầu đầy ấn tượng của không gian văn hóa - thương mại này
Nâng tầm chè Thái Nguyên bằng hệ sinh thái tích hợp đa giá trị

Nâng tầm chè Thái Nguyên bằng hệ sinh thái tích hợp đa giá trị

Tại Diễn đàn Kinh tế chè quốc tế 2026, yêu cầu đổi mới tư duy phát triển ngành chè được đặt ra với trọng tâm kiến tạo hệ sinh thái kết nối văn hóa, khoa học công nghệ, du lịch và thị trường. Phát triển chè chất lượng cao, chè đạt tiêu chuẩn hữu cơ là một nội dung được đề cập nhằm nâng cao giá trị sản phẩm, bảo vệ môi trường và sinh kế của người trồng chè.
Từ quyết sách đúng đến chuyển biến thực chất trong phát triển nông nghiệp

Từ quyết sách đúng đến chuyển biến thực chất trong phát triển nông nghiệp

Từ những quyết sách chiến lược về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và đổi mới phương thức lãnh đạo, yêu cầu đặt ra là phải tạo chuyển biến cụ thể trong thực tiễn. Tại Tuyên Quang, tinh thần đổi mới đang được cụ thể hóa bằng những hành động ở cơ sở, trong đó phát triển kinh tế nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và từng bước hình thành các mô hình sản xuất bền vững là những nhiệm vụ quan trọng.

CÁC TIN BÀI KHÁC

Nông nghiệp tri thức đưa nông sản Việt vươn tầm quốc tế

Nông nghiệp tri thức đưa nông sản Việt vươn tầm quốc tế

Chuyển đổi số và khoa học công nghệ đang trở thành động lực cốt lõi giúp ngành trồng trọt Việt Nam tối ưu hóa chi phí, nâng cao chất lượng và chinh phục thị trường toàn cầu.
Nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam

Nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam

Mới đây, tại Hà Nội, Hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề “Quản lý tài nguyên bền vững và thúc đẩy chuỗi giá trị nông sản – thực phẩm minh bạch, trách nhiệm trong bối cảnh mới” do Khoa Bất động sản và Kinh tế tài nguyên (Đại học Kinh tế Quốc dân) tổ chức với sự phối hợp của Trường Đại học Mỏ – Địa chất, Trường Đại học Thủ đô Hà Nội và Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam và hướng tới mô hình phát triển kinh tế xanh, minh bạch, có trách nhiệm.
Gỡ nút thắt vật tư nông nghiệp hữu cơ - Kỳ 2: Giải pháp từ chính sách đến thị trường

Gỡ nút thắt vật tư nông nghiệp hữu cơ - Kỳ 2: Giải pháp từ chính sách đến thị trường

Chuẩn hóa nguyên liệu, nâng cao chất lượng phân bón, phát triển chế phẩm sinh học và tăng cường liên kết sản xuất là những giải pháp được đặt ra từ thực tiễn doanh nghiệp. Để các giải pháp phát huy hiệu quả, cần có sự phối hợp giữa cơ quan quản lý, đơn vị nghiên cứu, doanh nghiệp và người sản xuất hữu cơ.
Cố Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn - người tiên phong đưa cây mắc ca từ Australia về Việt Nam

Cố Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn - người tiên phong đưa cây mắc ca từ Australia về Việt Nam

Trong hành trình đổi mới nông nghiệp Việt Nam, có những con người không chỉ để lại dấu ấn qua những quyết sách trong thời gian đương chức, mà còn được nhớ đến bởi tầm nhìn vượt trước thời gian. Cố Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn là một trong những người như vậy. Gắn bó với lĩnh vực nông nghiệp trong nhiều năm, ông quan tâm đến việc tìm kiếm những giống cây trồng mới, có giá trị kinh tế cao, phù hợp với điều kiện sinh thái nước ta. Trong câu chuyện phát triển cây mắc ca ở Việt Nam, tên tuổi ông gắn với những nỗ lực vận động, nghiên cứu và thúc đẩy đưa loại cây có nguồn gốc từ Australia này vào sản xuất.
Gỡ nút thắt vật tư nông nghiệp hữu cơ - Kỳ 1: Những rào cản từ thực tiễn

Gỡ nút thắt vật tư nông nghiệp hữu cơ - Kỳ 1: Những rào cản từ thực tiễn

Vật tư đầu vào đáp ứng tiêu chuẩn, giá thành hợp lý và phát huy hiệu quả trên đồng ruộng đang là mối quan tâm của nhiều doanh nghiệp sản xuất hữu cơ. Tại hội nghị về vật tư đầu vào tổ chức ngày 17/10 ở TP. Hồ Chí Minh, những khó khăn từ khâu sản xuất phân bón đến sử dụng chế phẩm sinh học đã được đặt ra, cho thấy yêu cầu tháo gỡ các rào cản trong chuỗi cung ứng vật tư phục vụ nông nghiệp hữu cơ.
Phú Thọ tăng cường hợp tác phát triển các sản phẩm nông nghiệp giá trị kinh tế cao

Phú Thọ tăng cường hợp tác phát triển các sản phẩm nông nghiệp giá trị kinh tế cao

Đồng chí Phạm Đại Dương - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Phú Thọ đã chủ trì hội nghị trao đổi hợp tác với Viện Di truyền Nông nghiệp Việt Nam về phát triển các sản phẩm nông nghiệp giá trị kinh tế cao giai đoạn 2026 - 2035.
Thúc đẩy nông nghiệp hữu cơ và sinh thái: Tháo gỡ điểm nghẽn, kết nối thị trường

Thúc đẩy nông nghiệp hữu cơ và sinh thái: Tháo gỡ điểm nghẽn, kết nối thị trường

Từ vật tư đầu vào, tiêu chuẩn, chứng nhận đến tổ chức sản xuất, chế biến và tiêu thụ, nhiều vấn đề thực tiễn được các nhà khoa học, doanh nghiệp, hợp tác xã đưa ra tại Hội thảo “Thúc đẩy phát triển nông nghiệp hữu cơ và sinh thái ở Việt Nam”. Nhìn lại chặng đường 15 năm hình thành và phát triển của Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam (VOAA) (2011 - 2026), các đại biểu đề xuất những giải pháp để mở rộng sản xuất, củng cố niềm tin thị trường và nâng cao giá trị cho người làm hữu cơ.
Làm sạch thị trường phân bón Việt Nam - Kỳ 3: Phân bón giả và cái giá phải trả của người nông dân

Làm sạch thị trường phân bón Việt Nam - Kỳ 3: Phân bón giả và cái giá phải trả của người nông dân

Thị trường phân bón liên tiếp phát hiện các vụ sản xuất, kinh doanh hàng giả với quy mô lớn, cho thấy công tác kiểm soát chất lượng vật tư nông nghiệp cần được siết chặt. Tình trạng này không chỉ ảnh hưởng đến chi phí, năng suất và hiệu quả mùa vụ của người nông dân mà còn tác động đến uy tín của doanh nghiệp chân chính và tính minh bạch của thị trường.
Phụ nữ Bằng Lăng - Tự tin, sáng tạo, chung sức xây dựng nông nghiệp hữu cơ

Phụ nữ Bằng Lăng - Tự tin, sáng tạo, chung sức xây dựng nông nghiệp hữu cơ

Từ những nương cà phê không thuốc cỏ, những luống rau xanh nói không với hóa chất đến vai trò giữ bình yên thôn bản, phụ nữ thôn Bằng Lăng đang khẳng định hình ảnh người phụ nữ Tây Nguyên thời đại mới - tự chủ kinh tế và giữ màu xanh cho đất.
Làm sạch thị trường phân bón Việt Nam - Kỳ 2: Cần giải pháp đồng bộ

Làm sạch thị trường phân bón Việt Nam - Kỳ 2: Cần giải pháp đồng bộ

Muốn ngăn chặn hiệu quả phân bón giả, phân bón kém chất lượng, không thể chỉ dừng ở việc phát hiện và xử phạt những vụ vi phạm riêng lẻ. Yêu cầu đặt ra là phải kiểm soát từ nguồn sản xuất, minh bạch chuỗi phân phối, nâng cao năng lực kiểm nghiệm và xác lập trách nhiệm phối hợp giữa Nhà nước, hiệp hội, doanh nghiệp trong bảo vệ quyền lợi người nông dân.
Áp lực cạnh tranh và giảm giá nông sản: Đâu là cốt lõi?

Áp lực cạnh tranh và giảm giá nông sản: Đâu là cốt lõi?

Trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, nông sản Việt Nam đứng trước cơ hội mở rộng thị trường nhưng cũng phải đối mặt với áp lực cạnh tranh gay gắt về giá cả, chất lượng và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn. Tình trạng được mùa mất giá, giá bán bấp bênh, chi phí đầu vào tăng cao vẫn là nỗi lo thường trực của người sản xuất. Vậy đâu là nguyên nhân cốt lõi và giải pháp nào giúp nông sản Việt thoát khỏi vòng luẩn quẩn cạnh tranh bằng giá rẻ?
Thúc đẩy giáo dục STEAM, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Thúc đẩy giáo dục STEAM, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Đại học Huế thúc đẩy giáo dục STEAM, tăng hợp tác doanh nghiệp, mở rộng thực tập và phát triển nhân lực chất lượng cao, hướng đến phát triển bền vững...
XEM THÊM
phu-my
dam-ca-mau-15-nam-vi-hoa
cuoc-thi-viet
dam-ca-mau-chi-vi-hoa
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2026 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính