ki-niem-15-voaa
Thứ sáu 23/10/2026 14:15Thứ sáu 23/10/2026 14:15 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Cố Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn - người tiên phong đưa cây mắc ca từ Australia về Việt Nam

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Trong hành trình đổi mới nông nghiệp Việt Nam, có những con người không chỉ để lại dấu ấn qua những quyết sách trong thời gian đương chức, mà còn được nhớ đến bởi tầm nhìn vượt trước thời gian. Cố Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn là một trong những người như vậy. Gắn bó với lĩnh vực nông nghiệp trong nhiều năm, ông quan tâm đến việc tìm kiếm những giống cây trồng mới, có giá trị kinh tế cao, phù hợp với điều kiện sinh thái nước ta. Trong câu chuyện phát triển cây mắc ca ở Việt Nam, tên tuổi ông gắn với những nỗ lực vận động, nghiên cứu và thúc đẩy đưa loại cây có nguồn gốc từ Australia này vào sản xuất.
Cố Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn - người tiên phong đưa cây mắc ca từ Australia về Việt Nam
Cố PTT Nguyễn Công Tạn người tiên phong đưa "nữ hoàng hạt cứng" từ Úc về Việt Nam

Mắc ca ngày nay được biết đến như một loại cây có giá trị kinh tế, có triển vọng tại một số vùng trung du, miền núi và Tây Nguyên. Nhưng để loại cây ấy từng bước bén rễ trên đất Việt, phía sau là cả một quá trình tìm tòi, thử nghiệm và đánh giá lâu dài. Nhìn lại chặng đường ấy cũng là dịp nhắc nhớ đóng góp của những người sớm nhận ra tiềm năng của nông nghiệp hàng hóa, trong đó có cố Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn.

Tầm nhìn từ một loại cây có giá trị cao

Nguyễn Công Tạn là nhà quản lý có nhiều năm gắn bó với ngành nông nghiệp, từng đảm nhiệm cương vị Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, sau đó là Phó Thủ tướng Chính phủ. Trong quá trình công tác, ông quan tâm đến việc đổi mới cơ cấu cây trồng, nâng cao hiệu quả sử dụng đất và tìm kiếm những hướng phát triển mới cho nông nghiệp Việt Nam.

Trong bối cảnh nông nghiệp nước ta chuyển dần từ mục tiêu bảo đảm lương thực sang nâng cao chất lượng, giá trị và sức cạnh tranh của sản phẩm, việc tìm kiếm những cây trồng có giá trị hàng hóa cao trở thành yêu cầu quan trọng. Mắc ca là một hướng đi đáng chú ý bởi loại cây này cho hạt có giá trị dinh dưỡng, có thể chế biến thành nhiều sản phẩm thực phẩm và có thị trường tiêu thụ quốc tế.

Theo tài liệu của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, mắc ca có nguồn gốc từ vùng Queensland và phía bắc New South Wales của Australia. Hai loài có giá trị thương mại chủ yếu là Macadamia integrifolia và Macadamia tetraphylla. Nhân hạt chứa hàm lượng chất béo cao, phần lớn là chất béo không bão hòa đơn, đồng thời có protein và các chất dinh dưỡng khác.

Đối với Việt Nam, một quốc gia có diện tích đất đồi núi rộng lớn, điều kiện khí hậu đa dạng và hàng triệu hộ dân sinh sống dựa vào sản xuất nông, lâm nghiệp, mắc ca mở ra khả năng bổ sung một loại cây lâu năm có giá trị vào cơ cấu sản xuất ở những vùng thích hợp.

Tuy nhiên, một giống cây có giá trị trên thế giới không đồng nghĩa sẽ thành công ở mọi vùng đất Việt Nam. Cây phải thích nghi với khí hậu, thổ nhưỡng, khả năng cung cấp nước, kỹ thuật chăm sóc và điều kiện thị trường. Bởi vậy, đưa mắc ca vào Việt Nam không đơn thuần là nhập giống, mà còn là bài toán về khoa học, tổ chức sản xuất và hiệu quả kinh tế lâu dài.

Cố Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn - người tiên phong đưa cây mắc ca từ Australia về Việt Nam
Cây Macca đã có mặt ở nhiều nơi trong cả nước

Người trực tiếp khởi xướng đưa mắc ca về trồng thử nghiệm

Một dấu mốc đáng chú ý trong lịch sử phát triển cây mắc ca ở Việt Nam là năm 2002. Theo thông tin được Đài Tiếng nói Việt Nam đăng tải trong bài viết về ông Nguyễn Công Tạn, sau khi nghiên cứu tài liệu, ông đã nhờ một người bạn ở Australia nhập về khoảng 10.000 cây mắc ca để trồng thử nghiệm.

Đây là quyết định thể hiện tinh thần chủ động tìm kiếm giống cây mới từ những quốc gia có nền nông nghiệp phát triển. Thay vì chỉ dựa vào những cây trồng quen thuộc, ông quan tâm đến khả năng tiếp thu thành tựu quốc tế, đưa giống mới về nghiên cứu trong điều kiện Việt Nam rồi lựa chọn hướng phát triển phù hợp.

Điều đáng nói là mắc ca không phải loại cây có thể mang lại hiệu quả kinh tế ngay sau khi trồng. Là cây thân gỗ lâu năm, mắc ca cần thời gian kiến thiết cơ bản, chăm sóc đúng kỹ thuật và điều kiện sinh thái thích hợp mới có thể cho năng suất ổn định. Đầu tư vào loại cây này đồng nghĩa với việc chấp nhận một chu kỳ sản xuất dài và những rủi ro chưa thể đánh giá đầy đủ ở giai đoạn ban đầu.

Vì thế, đưa hàng nghìn cây giống về trồng thử không chỉ là một hoạt động nhập giống thông thường. Đó còn là bước khởi đầu cho quá trình tìm hiểu khả năng thích nghi, sinh trưởng, ra hoa, đậu quả và triển vọng kinh tế của một loại cây mới.

Trong một bài viết về ông Nguyễn Công Tạn, VOV dẫn lại quan điểm của ông rằng nông nghiệp có thể tiếp nhận những giống đã được nghiên cứu ở nước ngoài, sau đó tổ chức khảo nghiệm trong nước; nếu phù hợp thì mới nhân rộng. Cách tiếp cận này phản ánh sự kết hợp giữa tư duy thực tiễn và yêu cầu tôn trọng cơ sở khoa học trong phát triển nông nghiệp.

Đối với mắc ca, nguyên tắc ấy đặc biệt quan trọng. Một giống cây có thể phát triển tốt ở Australia chưa chắc sẽ cho kết quả tương tự tại Tây Bắc, Tây Nguyên hay vùng trung du Bắc Bộ. Mỗi vùng có chế độ mưa, nhiệt độ, đất đai và điều kiện canh tác khác nhau. Muốn phát triển bền vững phải bắt đầu từ khảo nghiệm và tích lũy kinh nghiệm thực tế.

Cố Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn - người tiên phong đưa cây mắc ca từ Australia về Việt Nam
Trong những năm gần đây cây Macca trở thành cây chủ lực ở một số vùng

Từ những cây mắc ca đầu tiên đến nền tảng nghiên cứu khoa học

Cần nhìn nhận lịch sử cây mắc ca ở Việt Nam như một quá trình có sự đóng góp của nhiều cá nhân, cơ quan nghiên cứu và địa phương. Trước thời điểm ông Nguyễn Công Tạn thúc đẩy nhập cây giống vào năm 2002, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã có hoạt động nghiên cứu, trồng thử mắc ca từ năm 1994 tại Ba Vì, Hà Nội.

Theo tài liệu của Viện, một số cây trồng thử đã bắt đầu cho quả năm 1999; đến năm 2002, có cây đạt sản lượng khoảng 7 kg hạt. Cũng trong năm 2002, Trung tâm Nghiên cứu Giống cây rừng thuộc Viện tiếp tục nhập chín dòng mắc ca từ Australia và hai dòng từ Trung Quốc để phục vụ nghiên cứu, khảo nghiệm.

Những dữ kiện này cho thấy quá trình phát triển mắc ca không bắt đầu từ một sự kiện đơn lẻ. Nghiên cứu khoa học của các cơ quan chuyên môn và những nỗ lực đưa giống cây mới vào Việt Nam đã diễn ra song song, bổ sung cho nhau.

Trong bối cảnh đó, đóng góp của ông Nguyễn Công Tạn có ý nghĩa ở khía cạnh thúc đẩy việc tiếp cận nguồn giống, mở rộng sự quan tâm đối với cây mắc ca và góp phần đưa loại cây này vào chương trình tìm kiếm hướng phát triển nông nghiệp có giá trị cao.

Từ cây giống ban đầu đến một ngành hàng nông sản cần nhiều bước chuyển tiếp: khảo nghiệm các dòng giống, xác định vùng trồng thích hợp, hoàn thiện quy trình chăm sóc, tổ chức sản xuất, xây dựng cơ sở sơ chế và chế biến, rồi phát triển thị trường. Không có những khâu này, cây mắc ca khó có thể trở thành nguồn thu ổn định cho người nông dân.

Đến năm 2011, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành các quyết định công nhận một số dòng mắc ca là giống tiến bộ kỹ thuật. Trong đó, các dòng được Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam nghiên cứu, tuyển chọn có vùng áp dụng tại Krông Năng, Đắk Lắk và những nơi có điều kiện sinh thái tương tự; một số dòng khác được khảo nghiệm tại Ba Vì. Đây là những bước tiến cho thấy mắc ca đã đi từ giai đoạn tìm hiểu, trồng thử sang quá trình chọn giống và xác định vùng sinh thái phù hợp.

Cố Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn - người tiên phong đưa cây mắc ca từ Australia về Việt Nam
Hat Macca được chế biến và tiêu thụ trog nước và xuất khẩu

Mắc ca và triển vọng kinh tế của vùng trung du, miền núi

Một trong những lý do khiến mắc ca thu hút sự quan tâm là khả năng tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng từ đất đai, đặc biệt tại những địa bàn có điều kiện phù hợp để phát triển cây lâu năm.

Hạt mắc ca được sử dụng trong chế biến bánh kẹo, chocolate, kem, thực phẩm đóng gói và nhiều sản phẩm khác. Theo hướng dẫn kỹ thuật của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, nhân mắc ca có tỷ lệ dầu cao, khoảng 71–80%. Đây là đặc điểm góp phần tạo nên giá trị thương mại của loại hạt này.

Ở Việt Nam, Tây Nguyên và một số tỉnh miền núi phía Bắc được quan tâm phát triển mắc ca nhờ những khu vực có điều kiện sinh thái thích hợp. Nếu được lựa chọn giống đúng, tổ chức chăm sóc tốt và kết nối với cơ sở thu mua, chế biến, cây có thể góp phần đa dạng hóa nguồn thu của hộ nông dân.

Tuy nhiên, không nên nhìn mắc ca như một loại cây có thể làm giàu nhanh chóng. Cây cần thời gian dài mới bước vào giai đoạn kinh doanh; hiệu quả phụ thuộc vào giống, mật độ trồng, kỹ thuật chăm sóc, tỷ lệ đậu quả, năng suất thực thu và giá bán. Những vườn trồng trên đất không phù hợp hoặc sử dụng giống kém chất lượng có thể phải đối mặt với rủi ro lớn.

Hướng dẫn kỹ thuật của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khuyến nghị mắc ca thích hợp nhất ở vùng có nhiệt độ bình quân khoảng 20–25°C, lượng mưa bình quân năm 1.600–2.500 mm và đất có tầng canh tác đủ dày, thoát nước tốt. Những nơi thường xuyên chịu gió phơn, sương muối hoặc mưa phùn kéo dài cần được cân nhắc kỹ.

Vì vậy, bài học từ việc đưa mắc ca vào Việt Nam không chỉ nằm ở việc tìm ra một cây trồng mới. Quan trọng hơn là phải xây dựng được quy trình đánh giá điều kiện đất đai, khí hậu và hiệu quả kinh tế trước khi đầu tư trên diện rộng.

Đối với các địa phương miền núi, phát triển mắc ca cần gắn với quy hoạch vùng trồng, bảo vệ đất và nguồn nước, liên kết giữa nông dân với hợp tác xã, doanh nghiệp thu mua và cơ sở chế biến. Trồng cây theo phong trào, thiếu thị trường đầu ra hoặc thiếu vốn chăm sóc trong những năm đầu có thể làm giảm hiệu quả của cả một chương trình phát triển.

Cố Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn - người tiên phong đưa cây mắc ca từ Australia về Việt Nam
Macca trở thành cây "sinh kế" của nhiều nông dân

Dấu ấn của một nhà quản lý nặng lòng với nông nghiệp

Nhìn lại sự nghiệp của cố Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn, có thể thấy việc tìm kiếm và đưa các giống cây trồng, vật nuôi mới vào Việt Nam là một nét nổi bật trong cách ông tiếp cận công việc. Ông quan tâm đến lúa lai, các giống vật nuôi mới và nhiều hướng ứng dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất nông nghiệp.

Trong bài viết về ông, Đài Tiếng nói Việt Nam nhắc đến những nỗ lực của ông trong việc đưa các giống vật nuôi từ nước ngoài về nghiên cứu, nhân rộng, đồng thời ghi nhận câu chuyện nhập khoảng 10.000 cây mắc ca từ Australia năm 2002.

Tháng 10/2024, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam giới thiệu cuốn sách Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn, những ký ức và kỷ niệm. Tại sự kiện, những đóng góp của ông đối với nhiều lĩnh vực nông nghiệp tiếp tục được nhắc lại, từ trồng trọt, chăn nuôi đến lâm nghiệp và ứng dụng khoa học kỹ thuật.

Điều đáng nhớ ở những người làm nông nghiệp có tầm nhìn dài hạn là họ không chỉ quan tâm đến kết quả trước mắt. Họ tìm kiếm những khả năng mới, chấp nhận những bước thử nghiệm ban đầu và tạo điều kiện để các thế hệ sau tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện.

Câu chuyện mắc ca cũng cho thấy một thực tế: để một cây trồng mới trở thành ngành hàng, cần sự kiên trì của nhiều thế hệ. Người đưa giống về có thể mở ra cánh cửa, nhưng để cánh cửa ấy dẫn đến thành công, các nhà khoa học phải chọn giống, cán bộ kỹ thuật phải hoàn thiện quy trình, người nông dân phải tích lũy kinh nghiệm, còn doanh nghiệp phải đầu tư chế biến và thị trường phải tạo ra sức tiêu thụ ổn định.

Cố Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn - người tiên phong đưa cây mắc ca từ Australia về Việt Nam
Ở Điện Biên cây Macca thành vùng chiyên canh rộng lớn. Đây là điểm cố PTT Nguyễn Công Tạn và doanh nghiệp trồng thí điểm. Ảnh DBP.vn

Từ một quyết định ban đầu đến bài học cho nông nghiệp hôm nay

Hơn hai thập niên sau dấu mốc nhập cây mắc ca từ Australia năm 2002, câu chuyện này vẫn gợi ra nhiều suy ngẫm về con đường phát triển nông nghiệp Việt Nam. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, cạnh tranh thị trường và yêu cầu nâng cao thu nhập nông thôn, tìm kiếm giống cây mới vẫn là một nhiệm vụ cần thiết. Nhưng đổi mới không đồng nghĩa với chạy theo những cây trồng đang có giá cao. Mỗi quyết định đầu tư phải dựa trên điều kiện sinh thái, chất lượng giống, khả năng tiêu thụ và lợi ích lâu dài của người sản xuất.

Với mắc ca, yêu cầu đặt ra hiện nay là tiếp tục nâng cao chất lượng giống, hoàn thiện kỹ thuật canh tác, kiểm soát chất lượng hạt, phát triển chế biến sâu và mở rộng thị trường. Cây mắc ca chỉ thực sự đóng góp vào kinh tế xanh khi được phát triển phù hợp với điều kiện địa phương, sử dụng tài nguyên hiệu quả và mang lại sinh kế bền vững cho người dân.

Cố Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn đã qua đời, nhưng những câu chuyện về tinh thần tìm tòi, dám thử nghiệm và chủ động tiếp thu tiến bộ nông nghiệp vẫn có ý nghĩa đối với hôm nay. Việc ông thúc đẩy đưa mắc ca từ Australia về Việt Nam là một dấu mốc đáng ghi nhớ trong hành trình tìm kiếm cây trồng có giá trị kinh tế mới.

Từ những cây giống ban đầu đến các vùng trồng, từ những thử nghiệm đầu tiên đến quá trình nghiên cứu và tuyển chọn giống, mắc ca là minh chứng cho chặng đường dài của khoa học và thực tiễn nông nghiệp. Và trong hành trình ấy, dấu ấn của những người đi trước như ông Nguyễn Công Tạn nhắc nhở chúng ta rằng: muốn tạo ra giá trị mới cho nông nghiệp, cần có tầm nhìn, tri thức, sự kiên trì và trách nhiệm với người nông dân./.

Bài liên quan

CÁC TIN BÀI KHÁC

Gỡ nút thắt vật tư nông nghiệp hữu cơ - Kỳ 1: Những rào cản từ thực tiễn

Gỡ nút thắt vật tư nông nghiệp hữu cơ - Kỳ 1: Những rào cản từ thực tiễn

Vật tư đầu vào đáp ứng tiêu chuẩn, giá thành hợp lý và phát huy hiệu quả trên đồng ruộng đang là mối quan tâm của nhiều doanh nghiệp sản xuất hữu cơ. Tại hội nghị về vật tư đầu vào tổ chức ngày 17/10 ở TP. Hồ Chí Minh, những khó khăn từ khâu sản xuất phân bón đến sử dụng chế phẩm sinh học đã được đặt ra, cho thấy yêu cầu tháo gỡ các rào cản trong chuỗi cung ứng vật tư phục vụ nông nghiệp hữu cơ.
Phú Thọ tăng cường hợp tác phát triển các sản phẩm nông nghiệp giá trị kinh tế cao

Phú Thọ tăng cường hợp tác phát triển các sản phẩm nông nghiệp giá trị kinh tế cao

Đồng chí Phạm Đại Dương - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Phú Thọ đã chủ trì hội nghị trao đổi hợp tác với Viện Di truyền Nông nghiệp Việt Nam về phát triển các sản phẩm nông nghiệp giá trị kinh tế cao giai đoạn 2026 - 2035.
Thúc đẩy nông nghiệp hữu cơ và sinh thái: Tháo gỡ điểm nghẽn, kết nối thị trường

Thúc đẩy nông nghiệp hữu cơ và sinh thái: Tháo gỡ điểm nghẽn, kết nối thị trường

Từ vật tư đầu vào, tiêu chuẩn, chứng nhận đến tổ chức sản xuất, chế biến và tiêu thụ, nhiều vấn đề thực tiễn được các nhà khoa học, doanh nghiệp, hợp tác xã đưa ra tại Hội thảo “Thúc đẩy phát triển nông nghiệp hữu cơ và sinh thái ở Việt Nam”. Nhìn lại chặng đường 15 năm hình thành và phát triển của Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam (VOAA) (2011 - 2026), các đại biểu đề xuất những giải pháp để mở rộng sản xuất, củng cố niềm tin thị trường và nâng cao giá trị cho người làm hữu cơ.
Làm sạch thị trường phân bón Việt Nam - Kỳ 3: Phân bón giả và cái giá phải trả của người nông dân

Làm sạch thị trường phân bón Việt Nam - Kỳ 3: Phân bón giả và cái giá phải trả của người nông dân

Thị trường phân bón liên tiếp phát hiện các vụ sản xuất, kinh doanh hàng giả với quy mô lớn, cho thấy công tác kiểm soát chất lượng vật tư nông nghiệp cần được siết chặt. Tình trạng này không chỉ ảnh hưởng đến chi phí, năng suất và hiệu quả mùa vụ của người nông dân mà còn tác động đến uy tín của doanh nghiệp chân chính và tính minh bạch của thị trường.
Phụ nữ Bằng Lăng - Tự tin, sáng tạo, chung sức xây dựng nông nghiệp hữu cơ

Phụ nữ Bằng Lăng - Tự tin, sáng tạo, chung sức xây dựng nông nghiệp hữu cơ

Từ những nương cà phê không thuốc cỏ, những luống rau xanh nói không với hóa chất đến vai trò giữ bình yên thôn bản, phụ nữ thôn Bằng Lăng đang khẳng định hình ảnh người phụ nữ Tây Nguyên thời đại mới - tự chủ kinh tế và giữ màu xanh cho đất.
Làm sạch thị trường phân bón Việt Nam - Kỳ 2: Cần giải pháp đồng bộ

Làm sạch thị trường phân bón Việt Nam - Kỳ 2: Cần giải pháp đồng bộ

Muốn ngăn chặn hiệu quả phân bón giả, phân bón kém chất lượng, không thể chỉ dừng ở việc phát hiện và xử phạt những vụ vi phạm riêng lẻ. Yêu cầu đặt ra là phải kiểm soát từ nguồn sản xuất, minh bạch chuỗi phân phối, nâng cao năng lực kiểm nghiệm và xác lập trách nhiệm phối hợp giữa Nhà nước, hiệp hội, doanh nghiệp trong bảo vệ quyền lợi người nông dân.
Áp lực cạnh tranh và giảm giá nông sản: Đâu là cốt lõi?

Áp lực cạnh tranh và giảm giá nông sản: Đâu là cốt lõi?

Trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, nông sản Việt Nam đứng trước cơ hội mở rộng thị trường nhưng cũng phải đối mặt với áp lực cạnh tranh gay gắt về giá cả, chất lượng và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn. Tình trạng được mùa mất giá, giá bán bấp bênh, chi phí đầu vào tăng cao vẫn là nỗi lo thường trực của người sản xuất. Vậy đâu là nguyên nhân cốt lõi và giải pháp nào giúp nông sản Việt thoát khỏi vòng luẩn quẩn cạnh tranh bằng giá rẻ?
Thúc đẩy giáo dục STEAM, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Thúc đẩy giáo dục STEAM, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Đại học Huế thúc đẩy giáo dục STEAM, tăng hợp tác doanh nghiệp, mở rộng thực tập và phát triển nhân lực chất lượng cao, hướng đến phát triển bền vững...
Làm sạch thị trường phân bón Việt Nam - Kỳ 1: Phân bón giả và những “lỗ hổng” trong quản lý

Làm sạch thị trường phân bón Việt Nam - Kỳ 1: Phân bón giả và những “lỗ hổng” trong quản lý

Phân bón giả, phân bón kém chất lượng không chỉ gây thiệt hại cho người nông dân, làm tổn hại uy tín doanh nghiệp mà còn đặt ra những thách thức đối với công tác quản lý vật tư nông nghiệp. Những vụ việc được phát hiện gần đây cho thấy, bên cạnh thủ đoạn gian lận ngày càng tinh vi, vẫn còn những bất cập cần được nhận diện và khắc phục từ khâu sản xuất đến lưu thông, phân phối.
Tháo gỡ điểm nghẽn vật tư đầu vào cho nông nghiệp hữu cơ

Tháo gỡ điểm nghẽn vật tư đầu vào cho nông nghiệp hữu cơ

Vật tư đầu vào đạt chuẩn có vai trò quan trọng đối với chất lượng nông sản hữu cơ, song nguồn cung, giá thành và khả năng kiểm soát chất lượng vẫn là những thách thức đối với người sản xuất. Tháo gỡ các điểm nghẽn này đòi hỏi sự phối hợp giữa doanh nghiệp, hiệp hội và nông dân nhằm xây dựng chuỗi cung ứng vật tư minh bạch, ổn định và đáp ứng yêu cầu sản xuất hữu cơ.
Tăng cường phối hợp, ngăn chặn phân bón giả, làm sạch thị trường phân bón Việt Nam

Tăng cường phối hợp, ngăn chặn phân bón giả, làm sạch thị trường phân bón Việt Nam

Ngày 16/10/2026, tại Hà Nội, Hiệp hội Phân bón Việt Nam tổ chức Hội thảo “Phân bón giả – Nhận diện, ngăn chặn và xử lý”, với chủ đề “Tăng cường phối hợp Nhà nước - Hiệp hội - Doanh nghiệp trong việc làm sạch thị trường phân bón Việt Nam”. Hội thảo tập trung đánh giá thực trạng, nhận diện những bất cập và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả phòng, chống phân bón giả, phân bón kém chất lượng.
Thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển hệ thống thực phẩm bền vững

Thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển hệ thống thực phẩm bền vững

Food Innovation Day 2026 tại Huế là sự kiện thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, giảm lãng phí thực phẩm và kết nối nguồn lực vì nông nghiệp bền vững...
XEM THÊM
dam-ca-mau-chi-vi-hoa
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2026 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính