![]() |
| Mô hình trồng rau trong nhà kính tại xã Vân Hồ. |
Đổi cách làm, tăng hiệu quả
Tại bản Hang Trùng 1, xã Vân Hồ, mô hình trồng rau trên diện tích gần 7 ha tập trung vào những loại cây phù hợp với khí hậu địa phương như cải kale, bắp cải, súp lơ, su hào, đậu Hà Lan và dưa chuột. Người dân chú trọng sử dụng phân hữu cơ, chế phẩm sinh học và hạn chế thuốc bảo vệ thực vật hóa học.
Theo ông Lưu Tùng Định, Giám đốc HTX Nông Xanh, nhu cầu về nông sản an toàn, có nguồn gốc rõ ràng đòi hỏi người sản xuất phải thay đổi cách làm. HTX hiện liên kết với hơn 60 hộ nông dân, tổ chức sản xuất trên khoảng 40 ha rau.
Các hộ tham gia được hướng dẫn canh tác theo quy trình thống nhất, ghi chép nhật ký sản xuất và áp dụng các biện pháp quản lý sâu bệnh. Hệ thống tưới nhỏ giọt bán tự động được đầu tư để cung cấp nước, dinh dưỡng phù hợp với nhu cầu cây trồng.
Liên kết tiêu thụ giúp các hộ chủ động bố trí thời vụ, điều tiết sản lượng theo nhu cầu thị trường. Theo thông tin từ mô hình, lợi nhuận bình quân đạt hơn 300 triệu đồng/ha/vụ.
Tại phường Chiềng Sinh, Công ty cổ phần Thương mại Duy Khánh đầu tư sản xuất trên diện tích gần 10 ha với các loại cây như cà phê, na, nhãn, nho hạ đen và chanh leo. Tổng kinh phí đầu tư nhà màng, hệ thống tưới tự động và các hạng mục phục vụ sản xuất gần 4 tỷ đồng.
Ông Đào Duy Khánh, Giám đốc Công ty, cho biết doanh nghiệp kết hợp sản xuất với hoạt động tham quan, trải nghiệm tại vườn để giới thiệu sản phẩm và mở rộng kênh tiêu thụ. Mô hình hiện mang lại lợi nhuận trên 2 tỷ đồng/năm, tạo việc làm thường xuyên cho 5 lao động và khoảng 20 lao động thời vụ. Vườn nho hạ đen là một trong những điểm phục vụ khách trải nghiệm.
Những cách làm này cho thấy hiệu quả của việc kết hợp kỹ thuật canh tác với tổ chức thị trường. Sản xuất theo quy trình, quản lý tốt đầu vào và có kế hoạch tiêu thụ giúp người làm nông chủ động hơn trong đầu tư.
![]() |
| Mô hình trồng chanh leo trong nhà màng tại phường Chiềng Sinh. |
Mở rộng hữu cơ phải gắn với thị trường
Theo số liệu được cung cấp, Sơn La có gần 300 ha được chứng nhận hữu cơ và trên 815 ha đang trong quá trình chuyển đổi. Toàn tỉnh có 5 doanh nghiệp, 4 HTX và gần 1.600 hộ tham gia sản xuất, chế biến nông nghiệp hữu cơ, tập trung vào rau, cây ăn quả, chè và cà phê.
Tuy nhiên, quá trình phát triển còn nhiều trở ngại. Diện tích sản xuất nhỏ lẻ, phân tán khiến việc tổ chức quy trình và kiểm soát chất lượng gặp khó khăn. Chi phí chuyển đổi, chứng nhận cũng tạo áp lực cho người sản xuất. Một số sản phẩm chưa có thương hiệu, thiếu kênh tiêu thụ riêng nên giá bán chưa tương xứng với chi phí đầu tư.
Để hỗ trợ người dân, giai đoạn 2021–2025, tỉnh đã triển khai các chương trình khuyến nông, tập huấn và chuyển giao kỹ thuật về sử dụng phân hữu cơ, chế phẩm sinh học, xử lý phụ phẩm nông nghiệp và quản lý sâu bệnh.
Nguồn vốn phục vụ sản xuất cũng được quan tâm. Đến tháng 7/2026, Quỹ Hỗ trợ phát triển HTX tỉnh đã ủy thác 17,3 tỷ đồng qua Ngân hàng Chính sách xã hội để các HTX vay phục vụ sản xuất, kinh doanh.
![]() |
| Người dân sử dụng bẫy côn trùng để hạn chế sâu bệnh gây hại trên cây trồng tại phường Chiềng An. |
Trong chương trình hợp tác với Tập đoàn Quế Lâm, Sơn La đã triển khai 24 mô hình đối với 10 loại sản phẩm, với sự tham gia của 83 HTX và 6 doanh nghiệp. Ngày 17/8/2026, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Kết luận số 728-KL/TU về tiếp tục thực hiện chương trình hợp tác giai đoạn 2026–2030 với Tập đoàn Quế Lâm, Hội Nông nghiệp tuần hoàn Việt Nam và Hội Người cao tuổi Việt Nam. Trọng tâm là nhân rộng mô hình nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ.
Theo ông Dương Gia Định, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, việc mở rộng sản xuất hữu cơ cần căn cứ vào nhu cầu thị trường và khả năng tổ chức sản xuất của từng địa phương. Ngành sẽ rà soát, lựa chọn cây trồng, vùng sản xuất phù hợp; hướng dẫn hoàn thiện quy trình, đáp ứng yêu cầu chứng nhận và truy xuất nguồn gốc. Đồng thời, tăng cường kết nối với đơn vị thu mua, chế biến để ổn định đầu ra.
Từ các mô hình tại Vân Hồ, Chiềng Sinh đến những vùng đang chuyển đổi, yêu cầu đặt ra là duy trì chất lượng và tính hiệu quả khi mở rộng sản xuất. Diện tích được chứng nhận cần được phân biệt rõ với diện tích chuyển đổi hoặc canh tác theo phương pháp hữu cơ, giúp người mua có thông tin chính xác và bảo vệ uy tín của người sản xuất.
Giá trị nông sản Sơn La sẽ được củng cố khi quy trình canh tác được kiểm soát, chất lượng được chứng minh và sản phẩm có nơi tiêu thụ ổn định. Đó cũng là điều kiện để người dân yên tâm đầu tư, giữ gìn môi trường sản xuất và nâng cao thu nhập.