![]() |
| Giữ lợi nhuận từ mùa rau. |
Tăng trưởng cần đến được với người sản xuất
GDP cả nước 9 tháng năm 2026 ước tăng 9,01% so với cùng kỳ năm trước, riêng quý III tăng 9,95%. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,02%, tiếp tục đóng góp vào đà tăng trưởng chung. Những kết quả này tạo nền tảng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh trong những tháng cuối năm.
Tuy nhiên, từ những con số tăng trưởng đến thu nhập của người sản xuất vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết. Nông sản tiêu thụ nhiều hơn, doanh thu tăng lên nhưng phần lợi nhuận còn lại có thể không tăng tương ứng. Tiền vật tư, điện, nhiên liệu, vận chuyển và lãi vay đều tác động trực tiếp đến giá thành.
Trong tài liệu “Kinh tế Việt Nam 9 tháng đầu năm 2026: Một số vấn đề đối với doanh nghiệp trước biến động tỷ giá, lãi suất và giá năng lượng” do TS. Nguyễn Đức Hiển đề cập yêu cầu chuyển nguồn lực đầu tư thành năng lực sản xuất và giá trị gia tăng thực tế. Những điểm nghẽn về hạ tầng, công nghệ, hiệu quả sử dụng vốn và sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước tiếp tục được đặt ra.
Nhìn vào nông nghiệp, các điểm nghẽn ấy có thể xuất hiện ngay trên đồng ruộng và kéo dài đến khâu tiêu thụ. Thiếu nước làm tăng chi phí tưới. Thiếu thiết bị sơ chế, bảo quản khiến nông sản hao hụt sau thu hoạch. Hàng bán chậm làm vốn bị đọng, trong khi người sản xuất vẫn phải thanh toán vật tư và chuẩn bị cho vụ mới.
Theo Cục Thống kê, chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất trong 9 tháng năm 2026 tăng 5,12% so với cùng kỳ. Dù đây là chỉ số chung của nền kinh tế, mức tăng này cho thấy sức ép đầu vào cần được tính kỹ trong từng phương án sản xuất.
Bởi vậy, đánh giá hiệu quả một mùa vụ cần tính đủ chi phí và phần thu nhập người nông dân giữ lại. Khoản tích lũy ấy quyết định khả năng tái đầu tư, chăm sóc đất và duy trì sản xuất trong những vụ tiếp theo.
Làm hữu cơ phải tính chắc đầu ra
Với nông nghiệp hữu cơ, bài toán hiệu quả cần được giải quyết ngay từ khi xây dựng kế hoạch chuyển đổi. Người sản xuất phải điều chỉnh kỹ thuật, kiểm soát đầu vào, ghi chép quá trình canh tác và đáp ứng yêu cầu của tiêu chuẩn áp dụng. Chi phí chứng nhận, duy trì giám sát và đưa sản phẩm đến người mua cũng cần được tính vào giá thành.
Nếu mở rộng diện tích khi chưa xác định rõ thị trường, cơ sở sản xuất có thể chịu áp lực lớn về vốn. Sản phẩm làm ra dù đáp ứng yêu cầu chất lượng vẫn có nguy cơ tiêu thụ chậm nếu chưa phù hợp với nhu cầu, khả năng chi trả hoặc điều kiện thu mua của khách hàng.
Vì thế, kế hoạch sản xuất cần bắt đầu từ đầu ra: khách hàng là ai, yêu cầu tiêu chuẩn nào, có thể tiêu thụ bao nhiêu và thanh toán trong thời gian nào?. Giá bán dự kiến có đủ bù đắp chi phí, kể cả những khoản phát sinh trong giai đoạn chuyển đổi?.
Làm rõ những vấn đề này sẽ giúp người sản xuất lựa chọn quy mô phù hợp. Với doanh nghiệp, hợp tác xã còn hạn chế về vốn và kinh nghiệm quản lý, triển khai từng bước, theo dõi kết quả rồi mới mở rộng là cách giảm áp lực tài chính và hạn chế rủi ro.
Cùng với đầu ra, sự minh bạch về chất lượng là điều kiện để giữ khách hàng lâu dài. Sản phẩm đang chuyển đổi hoặc mới áp dụng một số kỹ thuật theo phương pháp hữu cơ cần được giới thiệu đúng thực tế. Thông tin chứng nhận phải rõ về tiêu chuẩn áp dụng, phạm vi và thời hạn hiệu lực. Người mua cần có căn cứ để tin vào sản phẩm. Hồ sơ sản xuất đầy đủ, nguồn gốc rõ ràng và chất lượng ổn định qua từng lô hàng sẽ giúp cơ sở sản xuất xây dựng uy tín, từng bước củng cố thị trường.
Vốn phải phù hợp với mùa vụ
Chi phí vốn và khả năng quản lý dòng tiền là những nội dung được nhấn mạnh trong tài liệu kinh tế 9 tháng năm 2026. Đối với nông nghiệp, hiệu quả sử dụng vốn gắn chặt với mùa vụ và thời gian thu hồi của từng khoản đầu tư.
Vốn thu mua nông sản có vòng quay khác với vốn cải tạo đất, xây dựng nhà sơ chế hay phát triển vùng nguyên liệu. Khi lịch trả nợ đến trước thời điểm có doanh thu, doanh nghiệp và hợp tác xã có thể thiếu tiền duy trì hoạt động, dù phương án sản xuất vẫn đang triển khai đúng tiến độ.
Bởi vậy, việc xây dựng phương án vay cần dựa trên dòng tiền thực tế. Thời gian đầu tư, thời điểm thu hoạch, lịch giao hàng và điều kiện thanh toán phải được tính cùng nhau. Hợp đồng tiêu thụ, hồ sơ vùng nguyên liệu và lịch sử thực hiện các cam kết cũng cần được làm rõ để có cơ sở đánh giá khả năng trả nợ.
Về phía doanh nghiệp và hợp tác xã, muốn tiếp cận và sử dụng vốn hiệu quả phải bắt đầu từ quản trị. Sổ sách thiếu nhất quán, không tách được chi phí từng công đoạn hoặc chưa xác định mức doanh thu đủ bù chi phí sẽ khiến việc quyết định đầu tư thiếu căn cứ.
Trước khi vay thêm để mở rộng sản xuất, mỗi đơn vị cần tính cả tình huống bất lợi. Nếu giá bán giảm, khách hàng thanh toán chậm hoặc chi phí vận chuyển tăng, nguồn tiền hiện có đủ duy trì hoạt động đến đâu? Chuẩn bị được phương án ứng phó sẽ giúp cơ sở sản xuất chủ động hơn khi thị trường biến động.
Đầu tư đúng chỗ để giữ giá trị nông sản
Yêu cầu nâng năng suất và giá trị gia tăng chỉ có thể trở thành kết quả khi nguồn lực được đưa vào đúng khâu đang hạn chế hiệu quả sản xuất.
Mỗi vùng nguyên liệu cần xác định rõ phần giá trị bị mất ở đâu. Nông sản hư hỏng sau thu hoạch thì ưu tiên sơ chế, bảo quản. Chất lượng thiếu đồng đều thì củng cố quy trình kỹ thuật và kiểm soát nội bộ. Hàng hóa tiêu thụ chậm thì rà soát giá bán, kênh phân phối và khả năng đáp ứng yêu cầu của người mua.
Cách lựa chọn công nghệ cũng cần xuất phát từ nhu cầu cụ thể ấy. Thiết bị giảm hao hụt, hệ thống tưới tiết kiệm hay công cụ ghi chép thuận tiện đều cần được đánh giá bằng chi phí vận hành và hiệu quả mang lại. Đầu tư phù hợp với năng lực sử dụng sẽ giúp doanh nghiệp, hợp tác xã tránh lãng phí và giảm gánh nặng vốn.
Liên kết chuỗi cũng phải được cụ thể hóa bằng những cam kết có thể thực hiện. Người sản xuất cần biết rõ yêu cầu chất lượng, lịch thu mua và thời hạn thanh toán. Doanh nghiệp cần nguồn hàng ổn định, truy xuất được. Hợp đồng cần quy định cách xác định giá và trách nhiệm của các bên khi phát sinh rủi ro.
Khi lợi ích và trách nhiệm được làm rõ, người nông dân có thêm cơ sở để đầu tư cho chất lượng, còn doanh nghiệp có điều kiện xây dựng nguồn cung lâu dài. Đó là nền tảng để nâng giá trị nông sản và phân chia thành quả hợp lý hơn trong chuỗi.
Đà tăng trưởng của nền kinh tế đang mở ra cơ hội cho nông nghiệp. Để tận dụng được cơ hội ấy, từng khoản đầu tư cần mang lại hiệu quả, từng kế hoạch mở rộng phải có căn cứ thị trường. Với nông nghiệp hữu cơ, kết quả cần được nhìn ở chất lượng sản phẩm, khả năng duy trì độ phì của đất và thu nhập của người làm ra nông sản.
Sau mỗi mùa vụ, người nông dân có lãi và đủ nguồn lực bước vào vụ mới, nông nghiệp mới có nền tảng để phát triển bền vững.