Thứ năm 29/01/2026 09:58Thứ năm 29/01/2026 09:58 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

HTX tận dụng vỏ cà phê, biến phế phẩm thành giá trị kinh tế tuần hoàn

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Nhiều HTX đang đẩy mạnh chế biến vỏ cà phê thành phân bón hữu cơ và sản phẩm giá trị gia tăng, giúp tiết kiệm chi phí sản xuất, giảm phát thải và hoàn thiện mô hình nông nghiệp xanh, tuần hoàn trong bối cảnh yêu cầu bền vững ngày càng cao.
HTX tận dụng vỏ cà phê, biến phế phẩm thành giá trị kinh tế tuần hoàn
Cà phê phơi trong nhà kính đạt độ chín từ 95% trở lên.

Theo Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam (VICOFA), tổng sản lượng cà phê năm 2025 ước đạt khoảng 1,8-2 triệu tấn (tăng 9% so với niên vụ trước). Xuất khẩu cà phê của Việt Nam năm 2025 đạt 1,59 triệu tấn, trị giá 8,9 tỷ USD. Ngành hàng cà phê đang tạo việc làm và thu nhập cho nhiều nông dân, thành viên HTX.

Tận dụng vỏ cà phê làm phân bón

Tuy nhiên, theo tính toán của các nhà chuyên môn, nếu sản xuất và chế biến 1 tấn cà phê nhân sẽ đưa ra môi trường khoảng 0,5-0,6 tấn vỏ khô. Còn theo Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Bộ NN&MT), vẫn có khoảng 70% - 80% lượng vỏ cà phê tại một số địa phương chuyên trồng loại cây này chưa được xử lý triệt để, bị đổ thải tự nhiên hoặc đốt lộ thiên, gây ô nhiễm môi trường và phát thải khí nhà kính.

Có thể thấy, ngành hàng cà phê đang mang lại giá trị kinh tế không hề nhỏ, nhưng đi liền với đó là áp lực về giải quyết bài toán môi trường và nâng cao giá trị kinh tế.

Trong một tọa đàm gần đây, ông Imai Toshiro - Tổng Giám đốc Công ty TNHH Phúc Lai (Flix) Communication, cũng cho rằng mặc dù đã có những tiến bộ nhưng mức đầu tư vào chế biến sâu của cà phê Việt Nam vẫn còn hạn chế so với quy mô sản xuất. Nếu không nâng cao đáng kể về chế biến sâu đi đôi với sản xuất bền vững, cà phê Việt Nam có nguy cơ bị mắc kẹt trong vai trò “nhà cung cấp sản lượng lớn” thay vì trở thành bên “tạo ra giá trị gia tăng”.

Trước áp lực thị trường, dưới góc nhìn của nhiều HTX, vỏ cà phê không chỉ đơn thuần là phế phụ phẩm mà đây còn là một mỏ vàng cần được tận dụng khai thác. Nhất là khi kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn đang được coi trọng và cả vấn đề NetZero đang nóng trên toàn cầu. Nếu các HTX muốn xuất khẩu cà phê thuận lợi thì vấn đề giảm phát thải nhà kính từ khâu trồng trọt, xử lý chất thải từ vỏ cà phê cần được coi trọng.

Chính vì vậy, thời gian gần đây, HTX Nông trại Sa Mù (Quảng Trị) đã chú trọng sản xuất theo chuỗi khi tận dụng vỏ cà phê để ủ thành phân hữu cơ vi sinh. Việc sử dụng chế phẩm sinh học phân giải vỏ cà phê làm phân hữu cơ vi sinh phục vụ sản xuất nông nghiệp tại chỗ được các thành viên HTX đánh giá là dễ áp dụng, tiết kiệm chi phí phân bón cho người dân. Cách làm này của HTX cũng mang lại nhiều hiệu quả kinh tế, môi trường sinh thái và môi trường sản xuất. Đồng thời qua đó làm thay đổi nhận thức của nông dân trong sản xuất nông nghiệp gắn với bảo vệ môi trường và sản xuất bền vững.

Tương tự, tại HTX nông nghiệp dịch vụ công bằng Ea Tu (Đắk Lắk) cũng đã tận dụng vỏ cà phê để ủ với phân chuồng và men vi sinh tạo thành phân hữu cơ. Phân hữu cơ này được dùng để bón cho vùng trồng cà phê. Đối với những khu vực bón phân hữu cơ từ vỏ cà phê thì đất tơi xốp, giun sinh sống rất tốt so với bón phân hóa học.

HTX tận dụng vỏ cà phê, biến phế phẩm thành giá trị kinh tế tuần hoàn
Vỏ cà phê nếu không được xử lý sẽ gây ô nhiễm môi trường.

Tại Sơn La, HTX Thái Việt ngoài chú trọng xử lý nước thải từ quá trình chế biến cà phê còn tiến hành ủ vỏ cà phê thành phân hữu cơ vi sinh. Cách làm này giúp HTX tiết kiệm chi phí bón phân và cho kết quả tốt hơn về môi trường, tăng tính chủ động trong quản lý chất thải.

Có thể thấy, giá phân bón vô cơ hiện nay biến động liên tục trên thị trường khiến các HTX, người dân trồng cà phê gặp nhiều khó khăn. Nhưng khi các HTX chủ động áp dụng khoa học công nghệ vào ủ vỏ cà phê thành phân vi sinh, có thể giúp giảm tới 20- 30% chi phí canh tác. Đây là bước đi hiệu quả giúp giảm chi phí đầu vào, nâng cao sức cạnh tranh cho HTX trên thị trường.

Gia tăng giá trị kinh tế

Không chỉ dừng lại ở việc tận dụng vỏ cà phê để làm phân hữu cơ bón cho chính diện tích cây trồng của các thành viên, đã có những HTX còn chú trọng nghiên cứu thị trường, nâng cao giá trị kinh tế từ vỏ cà phê.

Tiêu biểu là HTX cà phê Bích Thao (Sơn La) đang sản xuất theo mô hình kinh tế tuần hoàn, tận dụng tối đa phụ phẩm. Trong đó, vỏ quả cà phê được HTX chế biến thành trà.

Qua nghiên cứu thấy trà siro vỏ cà phê có giá trị kinh tế cao gấp nhiều lần so với các sản phẩm cà phê nhân truyền thống, ông Nguyễn Xuân Thao, Giám đốc HTX Bích Thao đã sản xuất trà siro vỏ cà phê phục vụ xuất khẩu thành công. Ở nước ngoài, trà siro vỏ cà phê được nhiều người biết đến và yêu thích bởi có vị ngọt tự nhiên, giàu vitamin, chứa rất ít chất kích thích, có tác dụng tốt cho sức khỏe như làm mát gan, giảm mỡ máu... Đặc biệt, sản xuất trà siro vỏ cà phê còn khai thác triệt để quả cà phê. Trong quá trình sản xuất, chế biến cà phê, HTX cũng không hề sử dụng nước nên vừa đảm bảo chất lượng vỏ cà phê chế biến thành trà, vừa tiết kiệm lại không gây ô nhiễm môi trường.

Theo ông Nguyễn Xuân Thao, xu hướng sử dụng trà từ vỏ cà phê đang bùng nổ tại thị trường châu Âu và Mỹ. Những tấn vỏ được tuyển chọn từ quy trình chế biến sạch có thể mang lại giá trị kinh tế cao gấp nhiều lần so với việc bán cà phê nhân thô.

Hơn thế, giá bán trong nước của loại trà này cũng đã khoảng 1,4-1,5 triệu đồng/kg, cao nhiều lần so với cà phê. Nhiều loại cà phê ngon hiện có giá 700.000-800.000 đồng/kg. Đây là minh chứng rõ ràng cho việc HTX đã biến phụ phẩm thành sản phẩm có giá trị gia tăng, mở ra hướng đi mới đầy tiềm năng.

Có thể thấy, trong bối cảnh biến đổi khí hậu và yêu cầu ngày càng cao về phát triển nông nghiệp xanh, các mô hình xử lý vỏ cà phê như tại các HTX đang làm được đánh giá là hướng đi cần thiết.

Việc xử lý vỏ cà phê, vốn được coi là một chất thải, giúp các HTX dễ dàng đạt được các chứng chỉ bền vững như EUDR (Quy định chống phá rừng của EU) hay 4C, giúp hạt cà phê của HTX có thể vượt qua các tiêu chuẩn của thị trường quốc tế tế và bán với giá cao hơn. Đặc biệt, việc chế biến sâu từ vỏ cà phê giúp gia tăng giá trị kinh tế, đa dạng danh sách sản phẩm cho HTX.

Khai thác tối ưu vỏ cà phê trong quá trình sản xuất cũng chính là sự thay đổi tư duy, nhanh nhạy trong kinh doanh bền vững của các nhà quản lý HTX hiện đại.

Các chuyên gia cho rằng, chế biến vỏ cà phê rất cần vai trò của các HTX để tập hợp người dân thu gom và xử lý, chế biến trên quy mô lớn. HTX cũng đủ tư cách pháp nhân để tiếp cận các chính sách hỗ trợ về máy móc, công nghệ khi có phương án sản xuất kinh doanh rõ ràng. Đặc biệt, các gói vay ưu đãi cho kinh tế tuần hoàn đang ưu tiên những đơn vị có mô hình giảm phát thải minh bạch. Do đó, các HTX đi theo hướng xanh, tuần hoàn sẽ có nhiều cơ hội và lợi thế.

Bài liên quan

Lợi ích bất ngờ của cà phê đen đối với người bệnh gan nhiễm mỡ

Lợi ích bất ngờ của cà phê đen đối với người bệnh gan nhiễm mỡ

Bệnh gan nhiễm mỡ đã trở thành một trong những căn bệnh thầm lặng phổ biến. Tuy nhiên, theo các chuyên gia uống cà phê đen hằng ngày có thể giúp cải thiện bệnh gan nhiễm mỡ hiệu quả.
Nguy cơ nuốt hàng ngàn hạt vi nhựa khi dùng cốc cà phê một lần

Nguy cơ nuốt hàng ngàn hạt vi nhựa khi dùng cốc cà phê một lần

Australia- Nếu một người uống 300 ml cà phê nóng trong cốc nhựa mỗi ngày, họ có thể nuốt phải 363.000 hạt vi nhựa mỗi năm, theo nghiên cứu từ Đại học Griffith (Australia).
Phòng rét hại, sương muối cho cây cà phê

Phòng rét hại, sương muối cho cây cà phê

Trong những ngày gần đây, trên địa bàn khu vực Thuận Châu xảy ra rét đậm, rét hại, xuất hiện sương muối ở một số địa phương. Các địa phương, đơn vị chức năng và nông dân đã chủ động triển khai các biện pháp phòng tránh rét cho cây cà phê.

CÁC TIN BÀI KHÁC

Đồng Nai hợp tác với Nhật Bản phát triển dự án xử lý vỏ ca cao thành than sinh học

Đồng Nai hợp tác với Nhật Bản phát triển dự án xử lý vỏ ca cao thành than sinh học

Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đồng Nai vừa phối hợp với Công ty TNHH Ca cao Trọng Đức và Công ty Cổ phần Tromso (Nhật Bản) tổ chức Lễ ký kết hợp tác phát triển Dự án xử lý vỏ ca cao sản xuất than sinh học. Dự án hướng đến xây dựng mô hình nông nghiệp tuần hoàn, canh tác giảm phát thải và bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh.
Malaysia định hướng phát triển nền kinh tế sinh học

Malaysia định hướng phát triển nền kinh tế sinh học

Malaysia xác định 6 lĩnh vực then chốt tăng trưởng nhanh trong 5 năm tới của quốc gia này bao gồm: Protein thế hệ mới, nhân giống tái tạo, vật liệu bền vững, hóa chất sinh học, y học tái tạo và chẩn đoán chính xác.
Camelina sativa: Từ cây trồng chịu lạnh đến nguồn nguyên liệu nhựa sinh học

Camelina sativa: Từ cây trồng chịu lạnh đến nguồn nguyên liệu nhựa sinh học

Trong bối cảnh nhu cầu dầu thực vật, protein và vật liệu thân thiện môi trường ngày càng gia tăng, cây Camelina sativa – còn gọi là cây lanh giả – đang được giới khoa học và doanh nghiệp công nghệ sinh học kỳ vọng sẽ trở thành cây trồng chiến lược mới, không chỉ trong nông nghiệp mà còn trong ngành công nghiệp nhựa sinh học.
Hướng đi mới cho công nghiệp sinh học từ cây cỏ voi

Hướng đi mới cho công nghiệp sinh học từ cây cỏ voi

Cỏ voi (miscanthus giganteus) đang ngày càng thu hút sự quan tâm của giới công nghiệp Pháp. Với năng suất cao và đặc tính thân thiện môi trường, loại cây trồng lâu này chủ yếu được sử dụng trong nông nghiệp này đang dần trở thành nguồn nguyên liệu sinh học mới cho các ngành xây dựng, ô tô và bao bì.
Tận dụng phụ phẩm cây điều già chế biến than sinh khối

Tận dụng phụ phẩm cây điều già chế biến than sinh khối

Những phụ phẩm từ thân điều già lâu nay tưởng chừng bỏ đi, không đem lại mấy ích lợi cho nhà vườn, nay những thứ ấy lại được các chủ vựa săn đón, tìm mua để vận chuyển vào Đông Nam Bộ bán cho doanh nghiệp chế biến than sinh khối. Không ít chủ vườn cây trồng lâu năm ấy ở các xã Hàm Tân, Sơn Mỹ, Tân Minh có thêm khoản trang trải trước Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026.
Vai trò của phân vi sinh với nông nghiệp hữu cơ

Vai trò của phân vi sinh với nông nghiệp hữu cơ

Phân vi sinh và nông nghiệp xanh đang trở thành một trong những trụ cột quan trọng của quá trình chuyển đổi nông nghiệp theo hướng bền vững, thân thiện với môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Khi tài nguyên đất đai suy giảm, ô nhiễm môi trường gia tăng và yêu cầu ngày càng cao của thị trường đối với nông sản an toàn, phân vi sinh không chỉ là giải pháp kỹ thuật mà còn là lựa chọn chiến lược cho tương lai của nông nghiệp xanh.
Cám gạo lên men: Thành phần thức ăn giàu protein cho tôm sú

Cám gạo lên men: Thành phần thức ăn giàu protein cho tôm sú

Quá trình lên men làm tăng hàm lượng protein, giảm hàm lượng xơ, cải thiện chất lượng axit amin và nâng cao hệ số tiêu hóa của cám gạo.
Từ phế phẩm cà rốt đến ‘lời giải’ bền vững cho thị trường protein thay thế

Từ phế phẩm cà rốt đến ‘lời giải’ bền vững cho thị trường protein thay thế

Trước những thách thức chưa từng có do biến đổi khí hậu và sự gia tăng dân số, việc tìm kiếm các nguồn protein thay thế bền vững trở thành ưu tiên hàng đầu của các nhà khoa học nông nghiệp.
Hiệu quả từ việc sử dụng chế phẩm sinh học trong chăn nuôi gà ở Thái Nguyên

Hiệu quả từ việc sử dụng chế phẩm sinh học trong chăn nuôi gà ở Thái Nguyên

Thái Nguyên đang chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của các mô hình chăn nuôi tập trung quy mô lớn, kéo theo yêu cầu xử lý chất thải hiệu quả để bảo đảm môi trường.
9 loài hoa dại có thể giúp nông dân phòng virus khoai tây: Giải pháp sinh học từ tự nhiên

9 loài hoa dại có thể giúp nông dân phòng virus khoai tây: Giải pháp sinh học từ tự nhiên

Virus khoai tây Y là mối đe dọa lớn đối với các vùng trồng khoai ở Bắc Mỹ và châu Âu, gây hoại tử lá – củ và có thể khiến ruộng mất trắng khi lây lan qua rệp. Thay vì chỉ phụ thuộc giống sạch bệnh, quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) chỉ ra rằng trồng hoa dại để thu hút thiên địch có thể giúp nông dân kiểm soát rệp, giảm nguy cơ virus xâm nhập và lan rộng.
Rút ngắn thời gian ủ phân: Giải pháp hữu cơ tăng sức sống cho đất trồng

Rút ngắn thời gian ủ phân: Giải pháp hữu cơ tăng sức sống cho đất trồng

Ủ phân hữu cơ giúp giảm rác thải nông nghiệp, cải thiện đất và tiết kiệm chi phí phân bón, nhưng quá trình phân hủy thường kéo dài khiến nhiều nông hộ gặp khó khăn. Bằng cách đảo trộn thường xuyên, duy trì độ ẩm, tăng oxy, bổ sung phụ gia hợp lý và giữ kích thước đống ủ chuẩn, thời gian ủ có thể rút ngắn còn khoảng 4 tuần – cho ra nguồn phân giàu dinh dưỡng phục vụ mùa vụ mới.
Tiêu chí xác định nguy cơ xâm hại của loài ngoại lai

Tiêu chí xác định nguy cơ xâm hại của loài ngoại lai

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Thông tư 69/2025/TT-BNNMT quy định về Danh mục loài ngoại lai xâm hại.
XEM THÊM
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2025 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính