Chủ nhật 08/02/2026 08:23Chủ nhật 08/02/2026 08:23 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Biến vỏ bưởi bỏ đi thành tinh dầu, dược liệu và phân hữu cơ

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Không chỉ là phụ phẩm bị bỏ phí, vỏ bưởi chứa hàm lượng tinh dầu và naringin có giá trị cao. Nghiên cứu của Trường Đại học Cần Thơ đã chứng minh khả năng khai thác hiệu quả nguồn nguyên liệu này, góp phần giảm lãng phí nông sản và nâng cao giá trị kinh tế.
Nghiên cứu công nghệ sản xuất naringin và tinh dầu từ vỏ quả bưởi và xây dựng mô hình sản xuất thực nghiệm - Cổng thông tin điện tử Cục Thông tin, Thống kê

Bưởi là loại cây ăn quả, được trồng phổ biến. Một trong những vấn đề gặp phải khi tiêu thụ bưởi là tỷ lệ phần ăn được (thịt quả) rất thấp. Đây là đặc điểm chung của các loại cây có múi do có lớp vỏ dày, dẫn đến lượng phụ phẩm chiếm hơn 50%. Hiện nay, trong quá trình sản xuất, một lượng lớn vỏ quả bị vứt bỏ hoặc ủ phân hữu cơ vi sinh. Điều này thực sự hết sức lãng phí vì vỏ của các loại quả có múi chứa một lượng lớn tinh dầu cũng như naringin. Chẳng hạn, hàm lượng tinh dầu chiếm khoảng 0,4-1% khối lượng vỏ bưởi. Tinh dầu trong vỏ của các loại quả có múi chứa một hỗn hợp các chất thơm dễ bay hơi và có giá trị kinh tế cao. Trong đó, hợp chất hữu D-limonene là thành phần chủ yếu, chiếm tỷ lệ cao nhất, được ứng dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp mỹ phẩm, thực phẩm, hương liệu, và dược phẩm để tạo hương thơm. D-limonene còn có tác dụng chống ô xy hóa, tăng cường sự thẩm thấu của các sản phẩm dưỡng da. Bên cạnh đó, Naringin được tìm thấy trong vỏ bưởi, chanh, hạt quýt, thuộc nhóm flavonoid, có khả năng chống oxy hoá, ngừa xơ cứng động mạch, gián tiếp chống cao huyết áp và tai biến mạch máu não.

Nhằm tận dụng nguồn phụ phẩm từ trái bưởi, nhóm nghiên cứu Trường Đại học Cần Thơ đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu công nghệ sản xuất naringin và tinh dầu từ vỏ quả bưởi và xây dựng mô hình sản xuất thực nghiệm” với mục tiêu không chỉ đưa ra quy trình sản xuất naringin và tinh dầu từ vỏ quả bưởi, phụ phẩm của quá trình này cũng được nhóm nghiên cứu đã tận dụng để ủ thành phân hữu cơ bón cho cây trồng. Theo đó, một số loại bưởi như Năm Roi, Da Xanh, Lông Cổ Cò, Thanh Kiều được thu hái trực tiếp tại nhà vườn. Sau khi được xử lý rửa sạch nhiều lần với nước để loại bỏ bụi bám, vỏ quả bưởi được tách riêng hai phần vỏ xanh và trắng rồi đem cắt nhỏ. Vỏ bưởi trắng cắt miếng nhỏ được sấy ở nhiệt độ 65 độ C trong 24 giờ, tiếp theo xay thành bột mịn. Bột vỏ trắng này được sử dụng để thu nhận naringin. Vỏ xanh cắt miếng nhỏ được sử dụng cho quá trình thu nhận tinh dầu. Quy trình thu nhận tinh dầu bằng phương pháp ép được nhóm tác giả thực hiện bằng cách đưa vỏ bưởi xanh vào máy ép với tốc độ 35 Hz, vừa ép vừa phun nước để hỗ trợ ly trích tinh dầu. Dịch chiết sau khi ép được bổ sung muối với nồng độ 2% và để lắng ở 30 độ C. Dịch ép để lắng qua đêm sẽ tách thành hai phần, đem ly tâm từng phần (6.000 vòng/phút) để thu hồi tinh dầu và làm khan tinh dầu thu được bằng Na2SO4. Hàm lượng hợp chất D-limonene có trong tinh dầu từ 89,944% - 93,826%.

Đối với quy trình thu nhận tinh dầu bằng phương pháp chưng cất, đưa vỏ bưởi xanh cắt miếng nhỏ vào máy xay, bổ sung nước theo tỉ lệ nước-nguyên liệu là 3:1 (mL/g), xay nhuyễn hỗn hợp. Cho toàn bộ hỗn hợp vào bình cầu và dưới sự hổ trợ của dầu tải nhiệt sẽ tiến hành chưng cất bằng hơi nước ở 130 độ C trong 90 phút. Sau đó, làm khan tinh dầu bằng Na2SO4. Hàm lượng hợp chất D-limonene có trong tinh dầu từ 78,839% - 97,539%. Ở quy trình thu nhận naringin, bột vỏ bưởi trắng đã sấy khô ngâm với ethanol 80% trong 1,5 giờ theo tỉ lệ mẫu và ethanol 80% là 1:14, trích hỗn hợp bằng phương pháp Soxhlet ở 80oC trong 5,5 giờ. Dịch trích được cô quay chân không ở 70oC để loại bỏ dung môi (còn khoảng 1/10 thể tích ban đầu). Kết tinh dịch trích sau cô quay được để yên ở nhiệt độ phòng trong 48 giờ. Lọc bằng giấy lọc để thu kết tinh và rửa lại bằng cồn 96%, để khô ở nhiệt độ phòng và sấy ở 50 độ C để thu hồi naringin. Hàm lượng naringin trong dịch trích chiếm 73,26%. Phụ phẩm vỏ bưởi sau chưng cất được nhóm xử lý thành phân compost. Nhóm nghiên cứu đã đem phơi vỏ bưởi sau chưng cất tinh dầu cho ráo nước. Phối hợp với một số cơ chất khác như tro trấu, xơ dừa, phân NPK và chế phẩm Trichoderma. Cho toàn bộ hỗn hợp vào thùng ủ và cung cấp nước cho khối ủ để đạt độ ẩm 40-60%. Cách ba ngày kiểm tra khối ủ và đảo trộn ba ngày một lần. Sau 39 ngày ủ, khối ủ được đánh đống ba-bốn ngày để giảm nhiệt độ và ổn định chất hữu cơ, và có thể bón cho cây trồng.

Theo nhóm tác giả, các phương pháp nói trên dễ áp dụng, sử dụng dung môi an toàn, rẻ tiền, có thể áp dụng quy mô công nghiệp cho ngành dược phẩm. Kết quả nghiên cứu có thể chuyển giao cho các đơn vị có nhu cầu và điều chỉnh từng phương pháp theo yêu cầu cho phù hợp với quá trình sản xuất thực tế.

Bài liên quan

Uống 2 ly nước này mỗi ngày sạch ruột, bổ chẳng kém dùng nhân sâm, tổ yến

Uống 2 ly nước này mỗi ngày sạch ruột, bổ chẳng kém dùng nhân sâm, tổ yến

Bắt đầu ngày mới bằng một thói quen tốt có thể thay đổi hoàn toàn sức khỏe của bạn. Trong đó, việc uống 2 ly nước ấm pha chanh và nghệ mỗi ngày được các chuyên gia sức khỏe ví như một liều thuốc tiên cho cơ thể.
Bưởi đỏ tiến vua Thanh Hóa "cháy hàng" trước Tết, thương lái đặt cọc từ sớm

Bưởi đỏ tiến vua Thanh Hóa "cháy hàng" trước Tết, thương lái đặt cọc từ sớm

Mặc dù còn hơn một tháng nữa mới đến Tết Nguyên đán, song nhiều thương lái đã nhận những đơn hàng bưởi đỏ tiến vua trị giá hàng trăm triệu đồng nên phải đi gom hàng từ sớm.

CÁC TIN BÀI KHÁC

Công nghệ sinh học cải thiện chất lượng nguồn giống

Công nghệ sinh học cải thiện chất lượng nguồn giống

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp, ngành nông nghiệp đang đứng trước áp lực về đổi mới nguồn giống, gen thích ứng với điều kiện sinh thái mới. Để giải quyết bài toán này, UBND tỉnh Bắc Ninh vừa ban hành Đề án “Ứng dụng công nghệ sinh học xây dựng và phát triển ngành công nghiệp sinh học tỉnh Bắc Ninh đến năm 2030, định hướng đến năm 2045” với mục tiêu đưa nhanh những tiến bộ công nghệ sinh học vào cải thiện di truyền và nâng cao chất lượng giống.
Ruồi lính đen “chìa khóa vàng” mở cánh cửa cho nông nghiệp tuần hoàn, hữu cơ hiện đại

Ruồi lính đen “chìa khóa vàng” mở cánh cửa cho nông nghiệp tuần hoàn, hữu cơ hiện đại

Trong khi biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt trên phạm vi toàn cầu, tài nguyên thiên nhiên suy giảm và áp lực xử lý chất thải nông nghiệp - sinh hoạt ngày càng lớn, nông nghiệp truyền thống đang đứng trước yêu cầu phải chuyển đổi mạnh mẽ sang mô hình phát triển bền vững. Nông nghiệp tuần hoàn, hữu cơ vì thế trở thành xu hướng tất yếu, trong đó việc tận dụng phế phụ phẩm, tái tạo tài nguyên và giảm phát thải là những trụ cột quan trọng. Giữa bức tranh đó, ruồi lính đen (Black Soldier Fly - BSF) nổi lên như một giải pháp sinh học đột phá, được ví như “chìa khóa vàng” mở ra cánh cửa cho nông nghiệp tuần hoàn, hữu cơ hiện đại.
HTX tận dụng vỏ cà phê, biến phế phẩm thành giá trị kinh tế tuần hoàn

HTX tận dụng vỏ cà phê, biến phế phẩm thành giá trị kinh tế tuần hoàn

Nhiều HTX đang đẩy mạnh chế biến vỏ cà phê thành phân bón hữu cơ và sản phẩm giá trị gia tăng, giúp tiết kiệm chi phí sản xuất, giảm phát thải và hoàn thiện mô hình nông nghiệp xanh, tuần hoàn trong bối cảnh yêu cầu bền vững ngày càng cao.
Đồng Nai hợp tác với Nhật Bản phát triển dự án xử lý vỏ ca cao thành than sinh học

Đồng Nai hợp tác với Nhật Bản phát triển dự án xử lý vỏ ca cao thành than sinh học

Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đồng Nai vừa phối hợp với Công ty TNHH Ca cao Trọng Đức và Công ty Cổ phần Tromso (Nhật Bản) tổ chức Lễ ký kết hợp tác phát triển Dự án xử lý vỏ ca cao sản xuất than sinh học. Dự án hướng đến xây dựng mô hình nông nghiệp tuần hoàn, canh tác giảm phát thải và bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh.
Malaysia định hướng phát triển nền kinh tế sinh học

Malaysia định hướng phát triển nền kinh tế sinh học

Malaysia xác định 6 lĩnh vực then chốt tăng trưởng nhanh trong 5 năm tới của quốc gia này bao gồm: Protein thế hệ mới, nhân giống tái tạo, vật liệu bền vững, hóa chất sinh học, y học tái tạo và chẩn đoán chính xác.
Camelina sativa: Từ cây trồng chịu lạnh đến nguồn nguyên liệu nhựa sinh học

Camelina sativa: Từ cây trồng chịu lạnh đến nguồn nguyên liệu nhựa sinh học

Trong bối cảnh nhu cầu dầu thực vật, protein và vật liệu thân thiện môi trường ngày càng gia tăng, cây Camelina sativa – còn gọi là cây lanh giả – đang được giới khoa học và doanh nghiệp công nghệ sinh học kỳ vọng sẽ trở thành cây trồng chiến lược mới, không chỉ trong nông nghiệp mà còn trong ngành công nghiệp nhựa sinh học.
Hướng đi mới cho công nghiệp sinh học từ cây cỏ voi

Hướng đi mới cho công nghiệp sinh học từ cây cỏ voi

Cỏ voi (miscanthus giganteus) đang ngày càng thu hút sự quan tâm của giới công nghiệp Pháp. Với năng suất cao và đặc tính thân thiện môi trường, loại cây trồng lâu này chủ yếu được sử dụng trong nông nghiệp này đang dần trở thành nguồn nguyên liệu sinh học mới cho các ngành xây dựng, ô tô và bao bì.
Tận dụng phụ phẩm cây điều già chế biến than sinh khối

Tận dụng phụ phẩm cây điều già chế biến than sinh khối

Những phụ phẩm từ thân điều già lâu nay tưởng chừng bỏ đi, không đem lại mấy ích lợi cho nhà vườn, nay những thứ ấy lại được các chủ vựa săn đón, tìm mua để vận chuyển vào Đông Nam Bộ bán cho doanh nghiệp chế biến than sinh khối. Không ít chủ vườn cây trồng lâu năm ấy ở các xã Hàm Tân, Sơn Mỹ, Tân Minh có thêm khoản trang trải trước Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026.
Vai trò của phân vi sinh với nông nghiệp hữu cơ

Vai trò của phân vi sinh với nông nghiệp hữu cơ

Phân vi sinh và nông nghiệp xanh đang trở thành một trong những trụ cột quan trọng của quá trình chuyển đổi nông nghiệp theo hướng bền vững, thân thiện với môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Khi tài nguyên đất đai suy giảm, ô nhiễm môi trường gia tăng và yêu cầu ngày càng cao của thị trường đối với nông sản an toàn, phân vi sinh không chỉ là giải pháp kỹ thuật mà còn là lựa chọn chiến lược cho tương lai của nông nghiệp xanh.
Cám gạo lên men: Thành phần thức ăn giàu protein cho tôm sú

Cám gạo lên men: Thành phần thức ăn giàu protein cho tôm sú

Quá trình lên men làm tăng hàm lượng protein, giảm hàm lượng xơ, cải thiện chất lượng axit amin và nâng cao hệ số tiêu hóa của cám gạo.
Từ phế phẩm cà rốt đến ‘lời giải’ bền vững cho thị trường protein thay thế

Từ phế phẩm cà rốt đến ‘lời giải’ bền vững cho thị trường protein thay thế

Trước những thách thức chưa từng có do biến đổi khí hậu và sự gia tăng dân số, việc tìm kiếm các nguồn protein thay thế bền vững trở thành ưu tiên hàng đầu của các nhà khoa học nông nghiệp.
Hiệu quả từ việc sử dụng chế phẩm sinh học trong chăn nuôi gà ở Thái Nguyên

Hiệu quả từ việc sử dụng chế phẩm sinh học trong chăn nuôi gà ở Thái Nguyên

Thái Nguyên đang chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của các mô hình chăn nuôi tập trung quy mô lớn, kéo theo yêu cầu xử lý chất thải hiệu quả để bảo đảm môi trường.
XEM THÊM
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2025 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính