ki-niem-15-voaa
Chủ nhật 09/08/2026 22:34Chủ nhật 09/08/2026 22:34 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Tiêu chuẩn quốc gia cho giống khoai tây - Bài cuối: Hướng tới đảm bảo an ninh lương thực và kinh tế nông nghiệp

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Việc xây dựng và hoàn thiện Tiêu chuẩn quốc gia về khảo nghiệm DUS (tính khác biệt, tính đồng nhất và tính ổn định) đối với giống khoai tây không chỉ là bước tiến trong công tác chọn tạo và quản lý giống cây trồng, mà còn mở ra hướng đi mới trong đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp bền vững.
Tiêu chuẩn quốc gia cho giống khoai tây - Bài cuối: Hướng tới đảm bảo an ninh lương thực và kinh tế nông nghiệp
Khoai tây đóng vai trò quan trọng trong các chiến lược cung cấp nguồn thực phẩm dễ tiếp cận, giàu dinh dưỡng và góp phần cải thiện sinh kế cho người dân. (Ảnh minh họa)

An ninh lương thực được hiểu là sự bảo đảm của mỗi quốc gia về nguồn cung cấp lương thực cho người dân để hạn chế và đẩy lùi tình trạng thiếu lương thực, nạn đói và tình trạng phụ thuộc vào nguồn lương thực nhập khẩu. Theo Tổ chức Nông lương Liên hiệp quốc (FAO): an ninh lương thực là trạng thái mà mọi người có quyền tiếp cận thực phẩm một cách an toàn, bổ dưỡng, đầy đủ mọi lúc mọi nơi để duy trì cuộc sống khỏe mạnh và năng động. An ninh lương thực còn được tiếp cận theo cấp độ: (1) An ninh lương thực cá nhân, gia đình; (2) Vùng (địa phương); (3) Quốc gia; (4) Khu vực và toàn cầu. An ninh lương thực không chỉ đề cập từ phía cung lương thực mà còn đề cập đến khả năng tiếp cận, khâu phân phối, bởi thực tế cho thấy, nhiều khi có đủ lương thực nhưng nạn đói vẫn có thể xảy ra.

Để bảo đảm an ninh lương thực của một quốc gia, một số nghiên cứu đưa ra đã đưa ra nhận định: Một là, cần sự sẵn có về lương thực, đó là, sự bảo đảm nguồn cung lương thực đầy đủ mọi lúc, mọi nơi. Hai là, cần bảo đảm khả năng tiếp cận với lương thực và sự ổn định của lương thực. Ba là, cần có sự an toàn, chất lượng của lương thực được sử dụng, thể hiện qua hàm lượng dinh dưỡng, chất lượng và vệ sinh trong quá trình sản xuất và tiêu dùng lương thực. Một số quan điểm khác thì cho rằng, an ninh lương thực quốc gia, bao gồm sự bảo đảm đầy đủ cả ba khía cạnh: Về sản xuất, phải có đủ lương thực cả về số lượng và chất lượng cung cấp cho toàn xã hội trong mọi thời điểm; Về phân phối, phải có hệ thống cung ứng lương thực với mức giá cả người mua và người bán chấp nhận được; Về thu nhập, phải tạo điều kiện để mọi người đều có việc làm, có thu nhập để có tiền mua lương thực đáp ứng nhu cầu bản thân và gia đình; đồng thời, bảo đảm sinh kế bền vững của người sản xuất lương thực.

Theo thang điểm của Global Food Security Index (GFSI), năm 2015 Việt Nam đạt 53 điểm, xếp hạng 65/109 quốc gia, đến năm 2022, đạt 67,9 điểm, xếp hạng 46/113 quốc gia, còn ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, Việt Nam đứng thứ 9/23 quốc gia. Trong đó, chỉ số giá cả lương thực hợp lý được đánh giá cao nhất (84 điểm). Điều này cho thấy, Việt Nam có mức độ an ninh lương thực cao hơn cho người tiêu dùng, do cung cấp đủ nguồn cung với mức giá tương đối ổn định.

Tiêu chuẩn quốc gia cho giống khoai tây - Bài 1: Bước tiến để Việt Nam chủ động nguồn giống sạch, chất lượng cao Tiêu chuẩn quốc gia cho giống khoai tây - Bài 1: Bước tiến để Việt Nam chủ động nguồn giống sạch, chất lượng cao

Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đang lấy ý kiến cho dự thảo Tiêu chuẩn quốc gia ...

Chuẩn hóa khảo nghiệm DUS giống khoai tây - Bài 2: Nền tảng phát triển giống cây trồng Việt Nam Chuẩn hóa khảo nghiệm DUS giống khoai tây - Bài 2: Nền tảng phát triển giống cây trồng Việt Nam

Khảo nghiệm DUS (tính khác biệt, tính đồng nhất và tính ổn định) là bước quan trọng trong đánh giá, bảo hộ và thương mại ...

Những năm qua, thực hiện chủ trương phát triển nông nghiệp, nông thôn, sản xuất lương thực, thực phẩm góp phần quan trọng vào việc bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, phát triển kinh tế – xã hội và ổn định chính trị của đất nước. Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách về bảo đảm an ninh lương thực, như: Kết luận số 53-KL/TW ngày 05/8/2009 của Bộ Chính trị về “Đề án an ninh lương thực quốc gia đến năm 2020”; Kết luận số 81-KL/TW ngày 29/7/2009 của Bộ Chính trị về “Bảo đảm an ninh lương thực quốc gia đến năm 2030; Nghị quyết số 34/NQ-CP ngày 25/3/2021 của Chính phủ về bảo đảm an ninh lương thực quốc gia đến năm 2030… đã đạt được những thành tựu nhất định.

Tuy nhiên, Việt Nam hiện nay vẫn đang phải đối mặt với những thách thức trong an ninh lương thực như: những yếu tố ảnh hưởng đến cung lương thực như diện tích đất canh tác giảm, biến đổi khí hậu (bão, lũ lụt, …) hoặc sâu bệnh…; sự thay đổi trong nhu cầu lương thực do thu nhập tăng lên khiến cho mức tiêu thụ lương thực giảm; những biến động của thị trường thế giới ảnh hưởng đến chi phí lưu thông lương thực của nước ta.

Để giải quyết các thách thức trên, cần tiến hành những hành động cụ thể. Theo đó, Dự thảo TCVN “Giống cây trồng nông nghiệp - Khảo nghiệm tính khác biệt, tính đồng nhất và tính ổn định – Phần 25: Giống khoai tây” cũng đang đóng góp vào việc đảm bảo an ninh lương thực cho Việt Nam, thông qua việc nghiên cứu, áp dụng khoa học - kỹ thuật và công nghệ sinh học phục vụ sản xuất, nâng cao chất lượng cây giống bảo đảm phát triển bền vững.

Tính ưu việt của dự thảo Tiêu chuẩn

Tiêu chuẩn quốc gia cho giống khoai tây - Bài cuối: Hướng tới đảm bảo an ninh lương thực và kinh tế nông nghiệp
(Ảnh minh họa)

Dự thảo TCVN “Giống cây trồng nông nghiệp - Khảo nghiệm tính khác biệt, tính đồng nhất và tính ổn định - Phần 25: Giống khoai tây” đánh dấu lần đầu tiên xây dựng chuẩn khảo nghiệm DUS dành riêng cho giống khoai tây tại Việt Nam. Dự thảo đóng vai trò lấp đầy khoảng trống kỹ thuật và pháp lý trong hoạt động khảo nghiệm, thẩm định và bảo hộ giống khoai tây - một loại rau ngắn ngày có giá trị kinh tế cao, được trồng phổ biến trên phạm vi cả nước.

Từ góc độ quốc tế, dự thảo là giúp giống cây trồng Việt Nam nói chung và giống khoai tây Việt Nam nói riêng được tiếp cận chuẩn mực quốc tế, hài hòa với hệ thống UPOV: Cấu trúc, phương pháp đánh giá và quy trình khảo nghiệm tuân thủ theo hướng dẫn TG/1/3, TGP/8, TGP/9, TGP/10, TGP/11 của UPOV. Điều này giúp Việt Nam tăng cường khả năng công nhận lẫn nhau trong khảo nghiệm DUS, thuận lợi cho xuất khẩu giống và hội nhập quốc tế.

Về mặt chuyên môn, dự thảo cung cấp một bảng tính trạng đặc trưng toàn diện, khoa học và dễ áp dụng. Với 37 tính trạng được lựa chọn dựa trên khảo sát thực tế và phân tích chuyên môn, bảng tính trạng phản ánh đầy đủ sự đa dạng hình thái và khả năng phân biệt giữa các giống khoai tây, đồng thời được minh họa rõ trong phụ lục kỹ thuật.

Bên cạnh đó, tính chặt chẽ của dự thảo được thể hiện qua những quy định chi tiết về vật liệu khảo nghiệm và điều kiện thực hiện. Cụ thể, dự thảo quy định rõ số lượng và chất lượng vật liệu, bố trí thí nghiệm, yêu cầu về cơ sở vật chất... tạo cơ sở đồng bộ trong tổ chức khảo nghiệm giữa các đơn vị.

Ngoài ra, dự thảo được xây dựng trên cơ sở phù hợp với năng lực tổ chức khảo nghiệm trong nước. Cách bố trí thí nghiệm, quy mô khảo nghiệm và phương pháp đánh giá đã được điều chỉnh linh hoạt để phù hợp với điều kiện thực tế tại Việt Nam, từ nguồn lực con người, cơ sở vật chất cho đến điều kiện khí hậu - thổ nhưỡng. Nhờ đó, việc triển khai tiêu chuẩn có tính khả thi cao, bảo đảm hiệu quả trong quá trình áp dụng tại các cơ sở khảo nghiệm giống trên toàn quốc.

Hướng tới đảm bảo an ninh lương thực và kinh tế nông nghiệp

Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO), khoai tây đóng vai trò quan trọng trong các chiến lược cung cấp nguồn thực phẩm dễ tiếp cận, giàu dinh dưỡng và góp phần cải thiện sinh kế cho người dân ở nông thôn cũng như các khu vực có nguồn tài nguyên hạn chế - đặc biệt là đất canh tác và nước - nơi chi phí đầu vào sản xuất cao. Nhờ tính linh hoạt và khả năng sinh trưởng trong nhiều điều kiện khí hậu, khoai tây trở thành một lựa chọn cây trồng ưu việt. Đây cũng là loại cây thân thiện với môi trường, bởi lượng khí nhà kính phát thải trong quá trình trồng khoai tây thấp hơn đáng kể so với nhiều loại cây trồng khác. Trong thập kỷ qua, sản lượng khoai tây toàn cầu đã tăng 10%, kéo theo sự gia tăng về việc làm và thu nhập cho người dân. Tuy nhiên, thế giới vẫn cần tiếp tục nỗ lực để khai thác toàn diện tiềm năng của loại cây này trong hành trình xóa đói và giảm suy dinh dưỡng trên phạm vi toàn cầu.

Ngoài ra, khoai tây có mức độ đa dạng sinh học rất cao, với hơn 5.000 giống đã được cải thiện và các giống địa phương (landraces), nhiều giống trong số đó chỉ tồn tại ở khu vực xuất xứ tại châu Mỹ Latin. Khoảng 150 loài khoai tây hoang dại có sự biến dị di truyền phong phú, mang nhiều đặc tính quý như khả năng thích nghi với các điều kiện sản xuất khác nhau, kháng sâu bệnh và đa dạng về đặc điểm củ. Đây là nguồn gen quý giá phục vụ công tác lai tạo, cải thiện giống, giúp cây trồng thích ứng với biến đổi khí hậu, dịch bệnh mới và đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của người tiêu dùng.

Việc hoàn thiện Dự thảo Tiêu chuẩn quốc gia cho giống khoai tây không chỉ đặt nền móng cho hệ thống quản lý giống bài bản, đồng bộ với thông lệ quốc tế, mà còn góp phần trực tiếp vào mục tiêu bảo đảm an ninh lương thực và phát triển kinh tế nông nghiệp bền vững. Khi các tiêu chuẩn kỹ thuật được áp dụng thống nhất, Việt Nam có thể phát triển các giống khoai tây năng suất cao, thích ứng với biến đổi khí hậu, ít rủi ro sâu bệnh và đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước lẫn xuất khẩu. Đây chính là bước đi quan trọng giúp đa dạng hóa nguồn lương thực, nâng cao giá trị kinh tế của cây trồng, ổn định thu nhập cho nông dân, đồng thời khẳng định vai trò của khoa học - tiêu chuẩn hóa trong bảo đảm an ninh lương thực quốc gia.

Không chỉ đóng vai trò quan trọng trong đảm bảo an ninh lương thực, khoai tây còn đang trở thành cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt cho ngành nông nghiệp Việt Nam. Trong những năm gần đây, nhiều địa phương đã chuyển đổi diện tích cây trồng kém hiệu quả sang trồng khoai tây, góp phần nâng cao năng suất, thu nhập và giá trị gia tăng cho người nông dân.

Sự hợp tác giữa doanh nghiệp, viện nghiên cứu và nông dân đã hình thành nên chuỗi giá trị khoai tây bền vững - từ chọn tạo, khảo nghiệm giống đến sản xuất, thu mua và chế biến. Mô hình liên kết này giúp nông dân được tiếp cận nguồn giống chất lượng cao, quy trình kỹ thuật tiên tiến và đầu ra ổn định, nhờ đó giảm thiểu rủi ro “được mùa mất giá” và tăng khả năng cạnh tranh của nông sản Việt. Nhiều vùng trồng khoai tây đã ghi nhận mức lợi nhuận tăng gấp đôi so với các cây trồng truyền thống, mở ra hướng đi mới cho phát triển nông nghiệp hàng hóa và nông nghiệp xanh.

Tiêu chuẩn quốc gia cho giống khoai tây - Bài cuối: Hướng tới đảm bảo an ninh lương thực và kinh tế nông nghiệp
Giống khoai tây Atlantic trồng tại xã Tự Lập, huyện Mê Linh cho năng suất, hiệu quả kinh tế cao.

Thực tiễn cho thấy, việc áp dụng các giống khoai tây mới chất lượng cao đã mang lại hiệu quả rõ rệt trong phát triển kinh tế nông nghiệp. Tại Hà Nội, mô hình trồng khoai tây Atlantic triển khai tại các huyện Mê Linh và Sóc Sơn là minh chứng tiêu biểu. Với quy mô thử nghiệm 30 ha, nông dân được hỗ trợ 50% giống, vật tư và phân bón từ Trung tâm Khuyến nông Hà Nội, đồng thời được hướng dẫn quy trình kỹ thuật đảm bảo đúng tiêu chuẩn và thời vụ.

Kết quả cho thấy, giống khoai tây Atlantic cho năng suất đạt khoảng 21 tấn/ha, tỷ lệ củ loại 1 đạt 85–90%, mang lại doanh thu 170–180 triệu đồng/ha và lợi nhuận trên 80 triệu đồng/ha. Đặc biệt, sản phẩm được doanh nghiệp bao tiêu toàn bộ, giúp người trồng yên tâm sản xuất và tránh tình trạng “được mùa mất giá”.

Không chỉ có giá trị kinh tế cao, giống khoai tây này còn có nhiều ưu điểm như củ tròn, đồng đều, hàm lượng chất khô cao, phù hợp cho chế biến công nghiệp. Hiệu quả thực tế từ mô hình đã được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội đánh giá là hướng đi tiềm năng, góp phần đa dạng hóa cơ cấu cây trồng, nâng cao thu nhập nông dân và thúc đẩy phát triển nông nghiệp đô thị theo hướng bền vững.

Những điểm cần chú ý trong dự thảo

Trước hết, cần xem xét tính đầy đủ và hợp lý của bảng tính trạng đặc trưng. Việc lựa chọn 37 tính trạng cần được đánh giá xem đã phản ánh đầy đủ các đặc điểm hình thái và sinh học quan trọng giữa các giống khoai tây hay chưa. Đồng thời, cần góp ý về mức độ phù hợp của các tính trạng chất lượng, số lượng, giả chất lượng và xem xét khả năng bổ sung hoặc loại bỏ một số tính trạng. Cách phân loại mã số trạng thái biểu hiện, thang điểm (1–9) và phương pháp ghi nhận (VG, VS, MS, MG...) cũng cần được góp ý để đảm bảo dễ hiểu và khả thi trong triển khai.

Về vật liệu khảo nghiệm và giống tương tự, cần đánh giá tính phù hợp của lượng củ giống khảo nghiệm (100 củ) và yêu cầu chất lượng củ giống. Các quy định về việc lựa chọn giống đối chứng và hướng dẫn ghi trong tờ khai kỹ thuật cũng cần được góp ý nhằm đảm bảo rõ ràng, thuận tiện và có tính khả thi cao.

Đối với bố trí thí nghiệm và phương pháp khảo nghiệm, cần góp ý về số cây tối thiểu (20 cây/lần nhắc), số lần nhắc lại (2 lần) và mật độ trồng để phù hợp với điều kiện thực tế. Phương pháp đánh giá ba tính DUS (khác biệt, đồng nhất và ổn định) nên được xem xét về độ rõ ràng, tính nhất quán và khả năng áp dụng.

Ngoài ra, các phụ lục và biểu mẫu đính kèm cần được rà soát kỹ. Phụ lục A (bảng tính trạng) và Phụ lục B (tờ khai kỹ thuật) nên được góp ý về độ đầy đủ, dễ sử dụng. Phụ lục C (giải thích, minh họa tính trạng) và Phụ lục E (quy trình kỹ thuật canh tác) cần được xem xét về mức độ chi tiết, rõ ràng và phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Cuối cùng, cần lưu ý về ngôn ngữ và cách diễn đạt trong tiêu chuẩn. Các thuật ngữ, ký hiệu chuyên môn cần được trình bày rõ ràng, nhất quán, dễ hiểu đối với cán bộ kỹ thuật và doanh nghiệp giống. Việc rà soát, chỉnh sửa các lỗi đánh máy hoặc sự không thống nhất giữa phần kỹ thuật và phụ lục cũng là bước quan trọng để hoàn thiện dự thảo tiêu chuẩn.

Giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt -Bài 1: Tính cấp thiết để phát triển nông nghiệp bền vững Giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt -Bài 1: Tính cấp thiết để phát triển nông nghiệp bền vững

Trước diễn biến phức tạp và khó lường của biến đổi khí hậu, sản xuất giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt trở thành ...

Giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt - Bài 2: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam Giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt - Bài 2: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Trong hơn một thập kỷ qua, giảm phát thải khí nhà kính trong nông nghiệp - đặc biệt là lĩnh vực trồng trọt đã được ...

Giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt - Bài cuối: Truyền thông dẫn dắt và lan tỏa tri thức phát triển nông nghiệp xanh Giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt - Bài cuối: Truyền thông dẫn dắt và lan tỏa tri thức phát triển nông nghiệp xanh

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng tác động mạnh mẽ đến sản xuất nông nghiệp, giảm phát thải trong lĩnh vực trồng ...

Bài liên quan

Đến năm 2045, Việt Nam phấn đấu thuộc nhóm dẫn đầu châu Á về công nghiệp sinh học

Đến năm 2045, Việt Nam phấn đấu thuộc nhóm dẫn đầu châu Á về công nghiệp sinh học

Chính phủ đặt mục tiêu đến năm 2045 làm chủ công nghệ sinh học thế hệ mới, công nghệ sinh học chiến lược và công nghệ chỉnh sửa gen; đồng thời hình thành thị trường, phát triển hệ sinh thái doanh nghiệp và các sản phẩm quy mô công nghiệp phục vụ nông nghiệp xanh, tuần hoàn, bền vững. Đáng chú ý, công nghệ sinh học sẽ được ứng dụng để chẩn đoán độ phì nhiêu, sức khỏe đất trồng trọt, chất lượng nước tưới và môi trường, phục vụ nông nghiệp an toàn và nông nghiệp hữu cơ.
TP.HCM siết tiến độ cấp mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói

TP.HCM siết tiến độ cấp mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói

Để bảo đảm hoạt động sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu nông sản không bị ảnh hưởng, UBND TP.HCM yêu cầu đẩy nhanh việc thiết lập, cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói và không để tồn đọng hồ sơ đối với các trường hợp đã đủ điều kiện.
Rút ngắn thủ tục cấp mã số vùng trồng: Đồng bộ giải pháp số tạo bứt phá xuất khẩu nông sản

Rút ngắn thủ tục cấp mã số vùng trồng: Đồng bộ giải pháp số tạo bứt phá xuất khẩu nông sản

Sáng 4/8, tại Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội nghị toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP của Chính phủ quy định về đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói. Hội nghị diễn ra theo hình thức kết hợp giữa trực tiếp tại trụ sở Bộ Nông nghiệp và Môi trường và trực tuyến tới hàng trăm điểm cầu trên khắp cả nước, kết nối từ UBND các tỉnh, thành phố đến tận UBND cấp xã, phường, cùng đại diện các hiệp hội ngành hàng và cộng đồng doanh nghiệp.
Tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm vi phạm về chăn nuôi, thú y và an toàn thực phẩm

Tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm vi phạm về chăn nuôi, thú y và an toàn thực phẩm

Trước tình trạng vi phạm về chăn nuôi, thú y và an toàn thực phẩm vẫn xảy ra tại nhiều địa phương, Cục Chăn nuôi và Thú y yêu cầu tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm các hành vi sử dụng chất cấm, đồng thời chủ động kiểm soát dịch bệnh và truy xuất nguồn gốc động vật, sản phẩm động vật vi phạm.
Siết chặt quản lý thuốc thú y, xử lý nghiêm thuốc giả, thuốc cấm và vi phạm trên môi trường mạng

Siết chặt quản lý thuốc thú y, xử lý nghiêm thuốc giả, thuốc cấm và vi phạm trên môi trường mạng

Trước tình trạng vẫn còn thuốc thú y giả, thuốc kém chất lượng, thuốc không rõ nguồn gốc, hoạt động kinh doanh qua mạng xã hội và trực tuyến chưa được quản lý chặt chẽ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị các địa phương tăng cường quản lý, thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trong sản xuất, nhập khẩu, buôn bán và sử dụng thuốc thú y.
Nâng cao chất lượng, giá trị và thương hiệu sản phẩm OCOP

Nâng cao chất lượng, giá trị và thương hiệu sản phẩm OCOP

Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) đã góp phần tạo động lực phát triển kinh tế nông thôn, nâng cao giá trị nông sản địa phương và mở rộng cơ hội thị trường cho hàng chục nghìn chủ thể sản xuất trên cả nước. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc nhiều sản phẩm OCOP đã hết thời hạn công nhận cùng yêu cầu nâng cao chất lượng trong giai đoạn mới đang đặt ra yêu cầu phải rà soát, đánh giá lại một cách thực chất.

CÁC TIN BÀI KHÁC

Quảng Ninh: Kiểm soát sản lượng thủy sản qua hệ thống eCDT

Quảng Ninh: Kiểm soát sản lượng thủy sản qua hệ thống eCDT

Sản lượng thủy sản của tỉnh khai báo trên hệ thống eCDT mới đạt khoảng 22,8% tiến độ, cho thấy việc kiểm soát thực tế khâu bốc dỡ vẫn là điểm cần tập trung tháo gỡ trong thực hiện chống khai thác IUU.
Cách mạng công nghệ cao: Lời giải cho bài toán phát triển nông nghiệp Việt

Cách mạng công nghệ cao: Lời giải cho bài toán phát triển nông nghiệp Việt

Trước những thách thức gay gắt của biến đổi khí hậu, sự suy thoái tài nguyên đất và áp lực an ninh lương thực khi dân số không ngừng tăng nhanh, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao không còn là một lựa chọn mang tính trình diễn. Đây đã trở thành xu thế tất yếu, là chìa khóa cốt lõi để kiến tạo một nền nông nghiệp hiện đại, hiệu quả và bền vững tại Việt Nam.
Ghana phổ biến kho lạnh không dùng điện giúp giảm thất thoát rau sau thu hoạch

Ghana phổ biến kho lạnh không dùng điện giúp giảm thất thoát rau sau thu hoạch

Ghana triển khai kho lạnh không dùng điện giúp kéo dài thời gian bảo quản rau, giảm thất thoát sau thu hoạch và nâng cao hiệu quả tiêu thụ nông sản.
Phú Thọ chuyển đổi phương thức quản trị dựa trên nền tảng dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống”

Phú Thọ chuyển đổi phương thức quản trị dựa trên nền tảng dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống”

Chiều 4/8, Ban Chỉ đạo về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tỉnh Phú Thọ tổ chức Hội nghị sơ kết thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Cây trồng công nghệ sinh học bước vào giai đoạn phát triển mới

Cây trồng công nghệ sinh học bước vào giai đoạn phát triển mới

Năm 2024, diện tích cây trồng công nghệ sinh học toàn cầu đạt 218,7 triệu ha, mức cao nhất từ trước đến nay, cùng xu hướng phát triển mạnh của công nghệ chỉnh sửa gen.
Hợp tác đưa AI và sàn thương mại điện tử đến với nông dân

Hợp tác đưa AI và sàn thương mại điện tử đến với nông dân

Chiều 31/7, tại Nhà văn hóa Bản Đắk Thốt, Hội Nông dân xã Thuận Hạnh, tỉnh Lâm Đồng phối hợp với Công ty TNHH MTV Nông nghiệp Thiên Tân tổ chức Lễ ký kết Chương trình hợp tác triển khai các giải pháp chuyển đổi số nông nghiệp trên nền tảng NongNghiep360.com. Sự kiện mở ra bước tiến quan trọng trong việc ứng dụng công nghệ số vào sản xuất, kinh doanh và tiêu thụ nông sản cho bà con nông dân địa phương.
Trung Quốc đẩy mạnh xuất khẩu máy bay không người lái nông nghiệp

Trung Quốc đẩy mạnh xuất khẩu máy bay không người lái nông nghiệp

Sau khi trở thành thị trường máy bay không người lái (drone) nông nghiệp lớn nhất thế giới, Trung Quốc đang tăng tốc đưa công nghệ này ra các quốc gia đang phát triển tại châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh. Sự kết hợp giữa chi phí cạnh tranh, tự động hóa và các giải pháp nông nghiệp thông minh được kỳ vọng sẽ thúc đẩy quá trình cơ giới hóa, giảm lao động thủ công và nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp tại nhiều thị trường mới nổi.
PVFCCo – Phú Mỹ khánh thành Hệ thống băng tải phân bón công suất 55 tấn/giờ

PVFCCo – Phú Mỹ khánh thành Hệ thống băng tải phân bón công suất 55 tấn/giờ

Ngày 29/7/2026 – Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí (PVFCCo – Phú Mỹ) đã tổ chức khánh thành và đưa vào vận hành Hệ thống băng tải vận chuyển phân bón tại Tổ hợp Nhà máy Phú Mỹ.
Quảng Ninh: Trạm Chẩn đoán xét nghiệm dịch bệnh và Công nghệ sinh học khẳng định năng lực chuyên môn

Quảng Ninh: Trạm Chẩn đoán xét nghiệm dịch bệnh và Công nghệ sinh học khẳng định năng lực chuyên môn

Trạm Chẩn đoán xét nghiệm dịch bệnh và Công nghệ sinh học trực thuộc Trung tâm Khuyến nông và Quản lý bảo vệ, phát triển rừng tỉnh Quảng Ninh vừa được Văn phòng Công nhận năng lực đánh giá sự phù hợp về tiêu chuẩn chất lượng (AOSC) công nhận năng lực thử nghiệm theo tiêu chuẩn ISO/IEC 17025:2017 đối với 30 phép thử thuộc lĩnh vực thử nghiệm sinh học.
Máy bay không người lái mở ra cuộc cách mạng mới trong nông nghiệp chính xác

Máy bay không người lái mở ra cuộc cách mạng mới trong nông nghiệp chính xác

Công nghệ máy bay không người lái đang tạo bước đột phá trong nông nghiệp chính xác, giúp bón phân, kiểm soát sinh học, lập bản đồ cây trồng và nâng cao hiệu quả sản xuất.
Nông dân Ý ứng dụng cơ giới hóa kiểm soát cỏ dại trong vườn phỉ

Nông dân Ý ứng dụng cơ giới hóa kiểm soát cỏ dại trong vườn phỉ

Các nhà vườn tại Ý đang đẩy mạnh sử dụng máy phủ mùn, máy nghiền cỏ thay thế thuốc diệt cỏ, nâng cao hiệu quả quản lý vườn phỉ và phục vụ thu hoạch.
Bảo vệ thương hiệu, sản phẩm và người tiêu dùng thông qua tem Vân niêm phong

Bảo vệ thương hiệu, sản phẩm và người tiêu dùng thông qua tem Vân niêm phong

Trong giai đoạn nền kinh tế số phát triển mạnh mẽ, hàng hóa lưu thông ngày càng đa dạng, tình trạng hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng và gian lận thương mại vẫn là thách thức lớn đối với doanh nghiệp cũng như người tiêu dùng. Việc xây dựng các giải pháp bảo vệ thương hiệu, xác thực nguồn gốc sản phẩm và nâng cao niềm tin của khách hàng trở thành yêu cầu cấp thiết.
XEM THÊM
dam-ca-mau-chi-vi-hoa
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2026 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính