ki-niem-15-voaa
Thứ năm 16/07/2026 02:21Thứ năm 16/07/2026 02:21 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Tiêu chuẩn quốc gia cho giống khoai tây - Bài cuối: Hướng tới đảm bảo an ninh lương thực và kinh tế nông nghiệp

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Việc xây dựng và hoàn thiện Tiêu chuẩn quốc gia về khảo nghiệm DUS (tính khác biệt, tính đồng nhất và tính ổn định) đối với giống khoai tây không chỉ là bước tiến trong công tác chọn tạo và quản lý giống cây trồng, mà còn mở ra hướng đi mới trong đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp bền vững.
Tiêu chuẩn quốc gia cho giống khoai tây - Bài cuối: Hướng tới đảm bảo an ninh lương thực và kinh tế nông nghiệp
Khoai tây đóng vai trò quan trọng trong các chiến lược cung cấp nguồn thực phẩm dễ tiếp cận, giàu dinh dưỡng và góp phần cải thiện sinh kế cho người dân. (Ảnh minh họa)

An ninh lương thực được hiểu là sự bảo đảm của mỗi quốc gia về nguồn cung cấp lương thực cho người dân để hạn chế và đẩy lùi tình trạng thiếu lương thực, nạn đói và tình trạng phụ thuộc vào nguồn lương thực nhập khẩu. Theo Tổ chức Nông lương Liên hiệp quốc (FAO): an ninh lương thực là trạng thái mà mọi người có quyền tiếp cận thực phẩm một cách an toàn, bổ dưỡng, đầy đủ mọi lúc mọi nơi để duy trì cuộc sống khỏe mạnh và năng động. An ninh lương thực còn được tiếp cận theo cấp độ: (1) An ninh lương thực cá nhân, gia đình; (2) Vùng (địa phương); (3) Quốc gia; (4) Khu vực và toàn cầu. An ninh lương thực không chỉ đề cập từ phía cung lương thực mà còn đề cập đến khả năng tiếp cận, khâu phân phối, bởi thực tế cho thấy, nhiều khi có đủ lương thực nhưng nạn đói vẫn có thể xảy ra.

Để bảo đảm an ninh lương thực của một quốc gia, một số nghiên cứu đưa ra đã đưa ra nhận định: Một là, cần sự sẵn có về lương thực, đó là, sự bảo đảm nguồn cung lương thực đầy đủ mọi lúc, mọi nơi. Hai là, cần bảo đảm khả năng tiếp cận với lương thực và sự ổn định của lương thực. Ba là, cần có sự an toàn, chất lượng của lương thực được sử dụng, thể hiện qua hàm lượng dinh dưỡng, chất lượng và vệ sinh trong quá trình sản xuất và tiêu dùng lương thực. Một số quan điểm khác thì cho rằng, an ninh lương thực quốc gia, bao gồm sự bảo đảm đầy đủ cả ba khía cạnh: Về sản xuất, phải có đủ lương thực cả về số lượng và chất lượng cung cấp cho toàn xã hội trong mọi thời điểm; Về phân phối, phải có hệ thống cung ứng lương thực với mức giá cả người mua và người bán chấp nhận được; Về thu nhập, phải tạo điều kiện để mọi người đều có việc làm, có thu nhập để có tiền mua lương thực đáp ứng nhu cầu bản thân và gia đình; đồng thời, bảo đảm sinh kế bền vững của người sản xuất lương thực.

Theo thang điểm của Global Food Security Index (GFSI), năm 2015 Việt Nam đạt 53 điểm, xếp hạng 65/109 quốc gia, đến năm 2022, đạt 67,9 điểm, xếp hạng 46/113 quốc gia, còn ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, Việt Nam đứng thứ 9/23 quốc gia. Trong đó, chỉ số giá cả lương thực hợp lý được đánh giá cao nhất (84 điểm). Điều này cho thấy, Việt Nam có mức độ an ninh lương thực cao hơn cho người tiêu dùng, do cung cấp đủ nguồn cung với mức giá tương đối ổn định.

Tiêu chuẩn quốc gia cho giống khoai tây - Bài 1: Bước tiến để Việt Nam chủ động nguồn giống sạch, chất lượng cao Tiêu chuẩn quốc gia cho giống khoai tây - Bài 1: Bước tiến để Việt Nam chủ động nguồn giống sạch, chất lượng cao

Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đang lấy ý kiến cho dự thảo Tiêu chuẩn quốc gia ...

Chuẩn hóa khảo nghiệm DUS giống khoai tây - Bài 2: Nền tảng phát triển giống cây trồng Việt Nam Chuẩn hóa khảo nghiệm DUS giống khoai tây - Bài 2: Nền tảng phát triển giống cây trồng Việt Nam

Khảo nghiệm DUS (tính khác biệt, tính đồng nhất và tính ổn định) là bước quan trọng trong đánh giá, bảo hộ và thương mại ...

Những năm qua, thực hiện chủ trương phát triển nông nghiệp, nông thôn, sản xuất lương thực, thực phẩm góp phần quan trọng vào việc bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, phát triển kinh tế – xã hội và ổn định chính trị của đất nước. Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách về bảo đảm an ninh lương thực, như: Kết luận số 53-KL/TW ngày 05/8/2009 của Bộ Chính trị về “Đề án an ninh lương thực quốc gia đến năm 2020”; Kết luận số 81-KL/TW ngày 29/7/2009 của Bộ Chính trị về “Bảo đảm an ninh lương thực quốc gia đến năm 2030; Nghị quyết số 34/NQ-CP ngày 25/3/2021 của Chính phủ về bảo đảm an ninh lương thực quốc gia đến năm 2030… đã đạt được những thành tựu nhất định.

Tuy nhiên, Việt Nam hiện nay vẫn đang phải đối mặt với những thách thức trong an ninh lương thực như: những yếu tố ảnh hưởng đến cung lương thực như diện tích đất canh tác giảm, biến đổi khí hậu (bão, lũ lụt, …) hoặc sâu bệnh…; sự thay đổi trong nhu cầu lương thực do thu nhập tăng lên khiến cho mức tiêu thụ lương thực giảm; những biến động của thị trường thế giới ảnh hưởng đến chi phí lưu thông lương thực của nước ta.

Để giải quyết các thách thức trên, cần tiến hành những hành động cụ thể. Theo đó, Dự thảo TCVN “Giống cây trồng nông nghiệp - Khảo nghiệm tính khác biệt, tính đồng nhất và tính ổn định – Phần 25: Giống khoai tây” cũng đang đóng góp vào việc đảm bảo an ninh lương thực cho Việt Nam, thông qua việc nghiên cứu, áp dụng khoa học - kỹ thuật và công nghệ sinh học phục vụ sản xuất, nâng cao chất lượng cây giống bảo đảm phát triển bền vững.

Tính ưu việt của dự thảo Tiêu chuẩn

Tiêu chuẩn quốc gia cho giống khoai tây - Bài cuối: Hướng tới đảm bảo an ninh lương thực và kinh tế nông nghiệp
(Ảnh minh họa)

Dự thảo TCVN “Giống cây trồng nông nghiệp - Khảo nghiệm tính khác biệt, tính đồng nhất và tính ổn định - Phần 25: Giống khoai tây” đánh dấu lần đầu tiên xây dựng chuẩn khảo nghiệm DUS dành riêng cho giống khoai tây tại Việt Nam. Dự thảo đóng vai trò lấp đầy khoảng trống kỹ thuật và pháp lý trong hoạt động khảo nghiệm, thẩm định và bảo hộ giống khoai tây - một loại rau ngắn ngày có giá trị kinh tế cao, được trồng phổ biến trên phạm vi cả nước.

Từ góc độ quốc tế, dự thảo là giúp giống cây trồng Việt Nam nói chung và giống khoai tây Việt Nam nói riêng được tiếp cận chuẩn mực quốc tế, hài hòa với hệ thống UPOV: Cấu trúc, phương pháp đánh giá và quy trình khảo nghiệm tuân thủ theo hướng dẫn TG/1/3, TGP/8, TGP/9, TGP/10, TGP/11 của UPOV. Điều này giúp Việt Nam tăng cường khả năng công nhận lẫn nhau trong khảo nghiệm DUS, thuận lợi cho xuất khẩu giống và hội nhập quốc tế.

Về mặt chuyên môn, dự thảo cung cấp một bảng tính trạng đặc trưng toàn diện, khoa học và dễ áp dụng. Với 37 tính trạng được lựa chọn dựa trên khảo sát thực tế và phân tích chuyên môn, bảng tính trạng phản ánh đầy đủ sự đa dạng hình thái và khả năng phân biệt giữa các giống khoai tây, đồng thời được minh họa rõ trong phụ lục kỹ thuật.

Bên cạnh đó, tính chặt chẽ của dự thảo được thể hiện qua những quy định chi tiết về vật liệu khảo nghiệm và điều kiện thực hiện. Cụ thể, dự thảo quy định rõ số lượng và chất lượng vật liệu, bố trí thí nghiệm, yêu cầu về cơ sở vật chất... tạo cơ sở đồng bộ trong tổ chức khảo nghiệm giữa các đơn vị.

Ngoài ra, dự thảo được xây dựng trên cơ sở phù hợp với năng lực tổ chức khảo nghiệm trong nước. Cách bố trí thí nghiệm, quy mô khảo nghiệm và phương pháp đánh giá đã được điều chỉnh linh hoạt để phù hợp với điều kiện thực tế tại Việt Nam, từ nguồn lực con người, cơ sở vật chất cho đến điều kiện khí hậu - thổ nhưỡng. Nhờ đó, việc triển khai tiêu chuẩn có tính khả thi cao, bảo đảm hiệu quả trong quá trình áp dụng tại các cơ sở khảo nghiệm giống trên toàn quốc.

Hướng tới đảm bảo an ninh lương thực và kinh tế nông nghiệp

Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO), khoai tây đóng vai trò quan trọng trong các chiến lược cung cấp nguồn thực phẩm dễ tiếp cận, giàu dinh dưỡng và góp phần cải thiện sinh kế cho người dân ở nông thôn cũng như các khu vực có nguồn tài nguyên hạn chế - đặc biệt là đất canh tác và nước - nơi chi phí đầu vào sản xuất cao. Nhờ tính linh hoạt và khả năng sinh trưởng trong nhiều điều kiện khí hậu, khoai tây trở thành một lựa chọn cây trồng ưu việt. Đây cũng là loại cây thân thiện với môi trường, bởi lượng khí nhà kính phát thải trong quá trình trồng khoai tây thấp hơn đáng kể so với nhiều loại cây trồng khác. Trong thập kỷ qua, sản lượng khoai tây toàn cầu đã tăng 10%, kéo theo sự gia tăng về việc làm và thu nhập cho người dân. Tuy nhiên, thế giới vẫn cần tiếp tục nỗ lực để khai thác toàn diện tiềm năng của loại cây này trong hành trình xóa đói và giảm suy dinh dưỡng trên phạm vi toàn cầu.

Ngoài ra, khoai tây có mức độ đa dạng sinh học rất cao, với hơn 5.000 giống đã được cải thiện và các giống địa phương (landraces), nhiều giống trong số đó chỉ tồn tại ở khu vực xuất xứ tại châu Mỹ Latin. Khoảng 150 loài khoai tây hoang dại có sự biến dị di truyền phong phú, mang nhiều đặc tính quý như khả năng thích nghi với các điều kiện sản xuất khác nhau, kháng sâu bệnh và đa dạng về đặc điểm củ. Đây là nguồn gen quý giá phục vụ công tác lai tạo, cải thiện giống, giúp cây trồng thích ứng với biến đổi khí hậu, dịch bệnh mới và đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của người tiêu dùng.

Việc hoàn thiện Dự thảo Tiêu chuẩn quốc gia cho giống khoai tây không chỉ đặt nền móng cho hệ thống quản lý giống bài bản, đồng bộ với thông lệ quốc tế, mà còn góp phần trực tiếp vào mục tiêu bảo đảm an ninh lương thực và phát triển kinh tế nông nghiệp bền vững. Khi các tiêu chuẩn kỹ thuật được áp dụng thống nhất, Việt Nam có thể phát triển các giống khoai tây năng suất cao, thích ứng với biến đổi khí hậu, ít rủi ro sâu bệnh và đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước lẫn xuất khẩu. Đây chính là bước đi quan trọng giúp đa dạng hóa nguồn lương thực, nâng cao giá trị kinh tế của cây trồng, ổn định thu nhập cho nông dân, đồng thời khẳng định vai trò của khoa học - tiêu chuẩn hóa trong bảo đảm an ninh lương thực quốc gia.

Không chỉ đóng vai trò quan trọng trong đảm bảo an ninh lương thực, khoai tây còn đang trở thành cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt cho ngành nông nghiệp Việt Nam. Trong những năm gần đây, nhiều địa phương đã chuyển đổi diện tích cây trồng kém hiệu quả sang trồng khoai tây, góp phần nâng cao năng suất, thu nhập và giá trị gia tăng cho người nông dân.

Sự hợp tác giữa doanh nghiệp, viện nghiên cứu và nông dân đã hình thành nên chuỗi giá trị khoai tây bền vững - từ chọn tạo, khảo nghiệm giống đến sản xuất, thu mua và chế biến. Mô hình liên kết này giúp nông dân được tiếp cận nguồn giống chất lượng cao, quy trình kỹ thuật tiên tiến và đầu ra ổn định, nhờ đó giảm thiểu rủi ro “được mùa mất giá” và tăng khả năng cạnh tranh của nông sản Việt. Nhiều vùng trồng khoai tây đã ghi nhận mức lợi nhuận tăng gấp đôi so với các cây trồng truyền thống, mở ra hướng đi mới cho phát triển nông nghiệp hàng hóa và nông nghiệp xanh.

Tiêu chuẩn quốc gia cho giống khoai tây - Bài cuối: Hướng tới đảm bảo an ninh lương thực và kinh tế nông nghiệp
Giống khoai tây Atlantic trồng tại xã Tự Lập, huyện Mê Linh cho năng suất, hiệu quả kinh tế cao.

Thực tiễn cho thấy, việc áp dụng các giống khoai tây mới chất lượng cao đã mang lại hiệu quả rõ rệt trong phát triển kinh tế nông nghiệp. Tại Hà Nội, mô hình trồng khoai tây Atlantic triển khai tại các huyện Mê Linh và Sóc Sơn là minh chứng tiêu biểu. Với quy mô thử nghiệm 30 ha, nông dân được hỗ trợ 50% giống, vật tư và phân bón từ Trung tâm Khuyến nông Hà Nội, đồng thời được hướng dẫn quy trình kỹ thuật đảm bảo đúng tiêu chuẩn và thời vụ.

Kết quả cho thấy, giống khoai tây Atlantic cho năng suất đạt khoảng 21 tấn/ha, tỷ lệ củ loại 1 đạt 85–90%, mang lại doanh thu 170–180 triệu đồng/ha và lợi nhuận trên 80 triệu đồng/ha. Đặc biệt, sản phẩm được doanh nghiệp bao tiêu toàn bộ, giúp người trồng yên tâm sản xuất và tránh tình trạng “được mùa mất giá”.

Không chỉ có giá trị kinh tế cao, giống khoai tây này còn có nhiều ưu điểm như củ tròn, đồng đều, hàm lượng chất khô cao, phù hợp cho chế biến công nghiệp. Hiệu quả thực tế từ mô hình đã được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội đánh giá là hướng đi tiềm năng, góp phần đa dạng hóa cơ cấu cây trồng, nâng cao thu nhập nông dân và thúc đẩy phát triển nông nghiệp đô thị theo hướng bền vững.

Những điểm cần chú ý trong dự thảo

Trước hết, cần xem xét tính đầy đủ và hợp lý của bảng tính trạng đặc trưng. Việc lựa chọn 37 tính trạng cần được đánh giá xem đã phản ánh đầy đủ các đặc điểm hình thái và sinh học quan trọng giữa các giống khoai tây hay chưa. Đồng thời, cần góp ý về mức độ phù hợp của các tính trạng chất lượng, số lượng, giả chất lượng và xem xét khả năng bổ sung hoặc loại bỏ một số tính trạng. Cách phân loại mã số trạng thái biểu hiện, thang điểm (1–9) và phương pháp ghi nhận (VG, VS, MS, MG...) cũng cần được góp ý để đảm bảo dễ hiểu và khả thi trong triển khai.

Về vật liệu khảo nghiệm và giống tương tự, cần đánh giá tính phù hợp của lượng củ giống khảo nghiệm (100 củ) và yêu cầu chất lượng củ giống. Các quy định về việc lựa chọn giống đối chứng và hướng dẫn ghi trong tờ khai kỹ thuật cũng cần được góp ý nhằm đảm bảo rõ ràng, thuận tiện và có tính khả thi cao.

Đối với bố trí thí nghiệm và phương pháp khảo nghiệm, cần góp ý về số cây tối thiểu (20 cây/lần nhắc), số lần nhắc lại (2 lần) và mật độ trồng để phù hợp với điều kiện thực tế. Phương pháp đánh giá ba tính DUS (khác biệt, đồng nhất và ổn định) nên được xem xét về độ rõ ràng, tính nhất quán và khả năng áp dụng.

Ngoài ra, các phụ lục và biểu mẫu đính kèm cần được rà soát kỹ. Phụ lục A (bảng tính trạng) và Phụ lục B (tờ khai kỹ thuật) nên được góp ý về độ đầy đủ, dễ sử dụng. Phụ lục C (giải thích, minh họa tính trạng) và Phụ lục E (quy trình kỹ thuật canh tác) cần được xem xét về mức độ chi tiết, rõ ràng và phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Cuối cùng, cần lưu ý về ngôn ngữ và cách diễn đạt trong tiêu chuẩn. Các thuật ngữ, ký hiệu chuyên môn cần được trình bày rõ ràng, nhất quán, dễ hiểu đối với cán bộ kỹ thuật và doanh nghiệp giống. Việc rà soát, chỉnh sửa các lỗi đánh máy hoặc sự không thống nhất giữa phần kỹ thuật và phụ lục cũng là bước quan trọng để hoàn thiện dự thảo tiêu chuẩn.

Giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt -Bài 1: Tính cấp thiết để phát triển nông nghiệp bền vững Giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt -Bài 1: Tính cấp thiết để phát triển nông nghiệp bền vững

Trước diễn biến phức tạp và khó lường của biến đổi khí hậu, sản xuất giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt trở thành ...

Giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt - Bài 2: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam Giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt - Bài 2: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Trong hơn một thập kỷ qua, giảm phát thải khí nhà kính trong nông nghiệp - đặc biệt là lĩnh vực trồng trọt đã được ...

Giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt - Bài cuối: Truyền thông dẫn dắt và lan tỏa tri thức phát triển nông nghiệp xanh Giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt - Bài cuối: Truyền thông dẫn dắt và lan tỏa tri thức phát triển nông nghiệp xanh

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng tác động mạnh mẽ đến sản xuất nông nghiệp, giảm phát thải trong lĩnh vực trồng ...

Bài liên quan

Đẩy nhanh thời gian cấp mã số vùng trồng, tạo thuận lợi cho xuất khẩu nông sản

Đẩy nhanh thời gian cấp mã số vùng trồng, tạo thuận lợi cho xuất khẩu nông sản

Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang đề xuất đơn giản hóa thủ tục hành chính, tăng cường quản lý bằng dữ liệu số và rút ngắn thời gian cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói. Theo đó, sầu riêng tiêu thụ trong nước xuống 3 ngày, còn cấp mã số vùng trồng xuất khẩu được giải quyết không quá 10 ngày làm việc. Việc cải cách nhằm giảm chi phí tuân thủ cho người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp nhưng vẫn bảo đảm truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm, kiểm dịch thực vật và các yêu cầu kỹ thuật của thị trường nhập khẩu.
Chính phủ thông qua 4 nhóm chính sách sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo

Chính phủ thông qua 4 nhóm chính sách sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo

Chính phủ thông qua 4 nhóm chính sách xây dựng Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), hướng tới quản lý tổng hợp và phát triển bền vững kinh tế biển.
Nhập khẩu phân bón "hạ nhiệt", nguồn cung trong nước tiếp tục ổn định

Nhập khẩu phân bón "hạ nhiệt", nguồn cung trong nước tiếp tục ổn định

Nhập khẩu phân bón vào Việt Nam tiếp tục giảm mạnh trong bối cảnh nguồn cung trên thị trường cơ bản đáp ứng nhu cầu sản xuất. Cùng với xu hướng hạ nhiệt của thị trường, cơ cấu nguồn cung cũng có nhiều thay đổi khi doanh nghiệp chủ động mở rộng thị trường nhập khẩu, giảm dần sự phụ thuộc vào một số nguồn cung truyền thống.
Hướng tới 100% cơ sở sản xuất nông lâm thủy sản tuân thủ an toàn thực phẩm

Hướng tới 100% cơ sở sản xuất nông lâm thủy sản tuân thủ an toàn thực phẩm

Chính phủ, Hội Nông dân Việt Nam và Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam vừa ký Chương trình phối hợp giai đoạn 2026 - 2030 nhằm đẩy mạnh tuyên truyền, vận động và giám sát sản xuất, kinh doanh nông lâm thủy sản chất lượng, an toàn. Chương trình đặt mục tiêu đến năm 2030, 100% hộ gia đình, cơ sở sản xuất, kinh doanh, chế biến nông lâm thủy sản có hội viên tham gia tuân thủ các quy định về chất lượng, an toàn thực phẩm.
Hoàn thiện hệ thống tiêu chí OCOP: Nâng cao giá trị và khai thác hiệu quả kinh tế nông thôn

Hoàn thiện hệ thống tiêu chí OCOP: Nâng cao giá trị và khai thác hiệu quả kinh tế nông thôn

Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) tiếp tục ghi nhận kết quả tích cực khi đến hết tháng 6/2026, cả nước có 21.028 sản phẩm đạt từ 3 sao trở lên, tăng 1.986 sản phẩm so với cuối năm 2025. Cùng với đà tăng về số lượng, bộ tiêu chí OCOP mới được ban hành được kỳ vọng tạo động lực nâng cao chất lượng, xây dựng thương hiệu và gia tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm địa phương.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ đạo chủ động quản trị rủi ro thiên tai, bảo vệ an toàn tính mạng nhân dân

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ đạo chủ động quản trị rủi ro thiên tai, bảo vệ an toàn tính mạng nhân dân

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu chuyển mạnh từ ứng phó bị động sang quản trị rủi ro thiên tai chủ động, bảo vệ tính mạng và ổn định phát triển.

CÁC TIN BÀI KHÁC

Xây dựng hệ sinh thái kinh tế số thực hiện mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Xây dựng hệ sinh thái kinh tế số thực hiện mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Thế giới bước vào giai đoạn phát triển dựa trên dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và công nghệ số, kinh tế số không còn là một lĩnh vực riêng biệt mà đã trở thành động lực tăng trưởng mới của mỗi quốc gia.
Đắk Lắk thúc đẩy nghiên cứu, chuyển giao công nghệ ngành sầu riêng phát triển bền vững

Đắk Lắk thúc đẩy nghiên cứu, chuyển giao công nghệ ngành sầu riêng phát triển bền vững

Tại Trường Đại học Tây Nguyên, Viện Bảo vệ thực vật và Hiệp hội Sầu riêng tỉnh Đắk Lắk đã chính thức ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác (MOU) về phối hợp nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và phát triển bền vững ngành hàng sầu riêng trên địa bàn tỉnh. Sự kiện được kỳ vọng tạo nền tảng quan trọng thúc đẩy nâng cao chất lượng, giá trị và khả năng cạnh tranh của sầu riêng Đắk Lắk trên thị trường trong nước và quốc tế.
Tập trung nguồn lực làm chủ phát triển công nghệ chiến lược

Tập trung nguồn lực làm chủ phát triển công nghệ chiến lược

Làm chủ công nghệ chiến lược đang trở thành yêu cầu cấp thiết để nâng cao năng lực cạnh tranh, tăng cường tự chủ quốc gia và tạo động lực tăng trưởng mới. Việc tập trung nguồn lực cho các công nghệ lõi như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, robot, công nghệ sinh học, năng lượng mới và an ninh mạng sẽ quyết định vị thế của Việt Nam trong kỷ nguyên kinh tế số và đổi mới sáng tạo.
Đầu tư hạ tầng nông nghiệp công nghệ cao: Cơ hội từ chính sách mới

Đầu tư hạ tầng nông nghiệp công nghệ cao: Cơ hội từ chính sách mới

Trong hành trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng nông nghiệp theo hướng xanh, bền vững và số hóa, đầu tư hạ tầng nông nghiệp công nghệ cao (NNCNC) được xác định là trụ cột chiến lược nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam.
Phân bón Miền Nam: Đổi mới công nghệ, kiến tạo chuỗi giá trị nông nghiệp bền vững

Phân bón Miền Nam: Đổi mới công nghệ, kiến tạo chuỗi giá trị nông nghiệp bền vững

Trong xu thế phát triển kinh tế xanh, Công ty Cổ phần Phân bón Miền Nam đang khẳng định vị thế tiên phong bằng việc không ngừng đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm và chủ động bắt tay cùng doanh nghiệp xây dựng chuỗi giá trị nông nghiệp khép kín. Đây là bước đi chiến lược nhằm mang đến những giải pháp dinh dưỡng vượt trội, đồng hành cùng nhà nông hướng tới một nền nông nghiệp xanh, sạch và phát triển bền vững.
Ra mắt bộ công cụ gen quy mô lớn hỗ trợ chọn giống và bảo tồn nghêu

Ra mắt bộ công cụ gen quy mô lớn hỗ trợ chọn giống và bảo tồn nghêu

Dự án quốc tế đã phát triển bộ chỉ thị SNP quy mô lớn cho hai loài nghêu, tạo nền tảng thúc đẩy chọn giống, bảo tồn nguồn gen và nâng cao khả năng chống chịu.
PVFCCo-Phú Mỹ và tỉnh Đắk Lắk ký kết bản ghi nhớ hợp tác, thúc đẩy đầu tư Trung tâm đổi mới sáng tạo nông nghiệp công nghệ cao

PVFCCo-Phú Mỹ và tỉnh Đắk Lắk ký kết bản ghi nhớ hợp tác, thúc đẩy đầu tư Trung tâm đổi mới sáng tạo nông nghiệp công nghệ cao

Cuối tháng 6/2026, tại tỉnh Đắk Lắk, Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí (PVFCCo -Phú Mỹ) và UBND tỉnh Đắk Lắk đã ký kết Bản ghi nhớ hợp tác (MOU) về việc nghiên cứu, khảo sát cơ hội đầu tư Dự án Trung tâm Đổi mới sáng tạo Nông nghiệp Công nghệ cao trên địa bàn tỉnh.
Tuyên Quang phát triển công nghệ sinh học, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp phát thải thấp

Tuyên Quang phát triển công nghệ sinh học, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp phát thải thấp

Tuyên Quang đặt mục tiêu phát triển mạnh công nghệ sinh học đến năm 2030, thúc đẩy nông nghiệp công nghệ cao, kinh tế xanh, chuyển đổi số và nâng cao giá trị sản phẩm.
Công nghệ sinh học và y sinh: Ngành học dẫn dắt tương lai, mở rộng cơ hội nghề nghiệp toàn cầu

Công nghệ sinh học và y sinh: Ngành học dẫn dắt tương lai, mở rộng cơ hội nghề nghiệp toàn cầu

Công nghệ sinh học và y sinh đang trở thành một trong những lĩnh vực tăng trưởng nhanh nhất thế giới, mở ra nhiều cơ hội nghề nghiệp với nhu cầu nhân lực chất lượng cao.
Ứng dụng truy xuất nguồn gốc, nâng tầm thương hiệu và vị thế nông sản Việt Nam

Ứng dụng truy xuất nguồn gốc, nâng tầm thương hiệu và vị thế nông sản Việt Nam

Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản chính thức được đưa vào vận hành trên phạm vi toàn quốc, từ ngày 1/7/2026 đánh dấu bước tiến quan trọng trong tiến trình chuyển đổi số ngành nông nghiệp. Sau 6 tháng thí điểm với sản phẩm sầu riêng, việc triển khai chính thức cho thấy quyết tâm của Bộ Nông nghiệp và Môi trường trong việc lấy dữ liệu làm nền tảng quản lý chất lượng, bảo đảm an toàn thực phẩm và nâng cao uy tín nông sản Việt Nam trên thị trường trong nước và quốc tế.
Công nghệ chế biến rau lá và salad hiện đại tối ưu năng suất sản xuất

Công nghệ chế biến rau lá và salad hiện đại tối ưu năng suất sản xuất

Giải pháp chế biến rau củ quả tích hợp từ khâu rửa, cắt, sấy, cân đến đóng gói giúp tối ưu quy trình sản xuất, nâng cao chất lượng thành phẩm, giảm lao động thủ công và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của ngành thực phẩm tươi.
Nghiên cứu chỉ ra nhiệt độ 4°C giúp tăng an toàn cho rau củ tươi cắt sẵn

Nghiên cứu chỉ ra nhiệt độ 4°C giúp tăng an toàn cho rau củ tươi cắt sẵn

Nghiên cứu cho thấy bảo quản rau củ tươi cắt sẵn ở 4°C trong quá trình chế biến giúp hạn chế sự phát triển của mầm bệnh, góp phần nâng cao an toàn thực phẩm.
XEM THÊM
dam-ca-mau-chi-vi-hoa
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2025 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính