Thứ ba 16/12/2025 21:46Thứ ba 16/12/2025 21:46 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Tiêu chuẩn quốc gia cho giống khoai tây - Bài cuối: Hướng tới đảm bảo an ninh lương thực và kinh tế nông nghiệp

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Việc xây dựng và hoàn thiện Tiêu chuẩn quốc gia về khảo nghiệm DUS (tính khác biệt, tính đồng nhất và tính ổn định) đối với giống khoai tây không chỉ là bước tiến trong công tác chọn tạo và quản lý giống cây trồng, mà còn mở ra hướng đi mới trong đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp bền vững.
Tiêu chuẩn quốc gia cho giống khoai tây - Bài cuối: Hướng tới đảm bảo an ninh lương thực và kinh tế nông nghiệp
Khoai tây đóng vai trò quan trọng trong các chiến lược cung cấp nguồn thực phẩm dễ tiếp cận, giàu dinh dưỡng và góp phần cải thiện sinh kế cho người dân. (Ảnh minh họa)

An ninh lương thực được hiểu là sự bảo đảm của mỗi quốc gia về nguồn cung cấp lương thực cho người dân để hạn chế và đẩy lùi tình trạng thiếu lương thực, nạn đói và tình trạng phụ thuộc vào nguồn lương thực nhập khẩu. Theo Tổ chức Nông lương Liên hiệp quốc (FAO): an ninh lương thực là trạng thái mà mọi người có quyền tiếp cận thực phẩm một cách an toàn, bổ dưỡng, đầy đủ mọi lúc mọi nơi để duy trì cuộc sống khỏe mạnh và năng động. An ninh lương thực còn được tiếp cận theo cấp độ: (1) An ninh lương thực cá nhân, gia đình; (2) Vùng (địa phương); (3) Quốc gia; (4) Khu vực và toàn cầu. An ninh lương thực không chỉ đề cập từ phía cung lương thực mà còn đề cập đến khả năng tiếp cận, khâu phân phối, bởi thực tế cho thấy, nhiều khi có đủ lương thực nhưng nạn đói vẫn có thể xảy ra.

Để bảo đảm an ninh lương thực của một quốc gia, một số nghiên cứu đưa ra đã đưa ra nhận định: Một là, cần sự sẵn có về lương thực, đó là, sự bảo đảm nguồn cung lương thực đầy đủ mọi lúc, mọi nơi. Hai là, cần bảo đảm khả năng tiếp cận với lương thực và sự ổn định của lương thực. Ba là, cần có sự an toàn, chất lượng của lương thực được sử dụng, thể hiện qua hàm lượng dinh dưỡng, chất lượng và vệ sinh trong quá trình sản xuất và tiêu dùng lương thực. Một số quan điểm khác thì cho rằng, an ninh lương thực quốc gia, bao gồm sự bảo đảm đầy đủ cả ba khía cạnh: Về sản xuất, phải có đủ lương thực cả về số lượng và chất lượng cung cấp cho toàn xã hội trong mọi thời điểm; Về phân phối, phải có hệ thống cung ứng lương thực với mức giá cả người mua và người bán chấp nhận được; Về thu nhập, phải tạo điều kiện để mọi người đều có việc làm, có thu nhập để có tiền mua lương thực đáp ứng nhu cầu bản thân và gia đình; đồng thời, bảo đảm sinh kế bền vững của người sản xuất lương thực.

Theo thang điểm của Global Food Security Index (GFSI), năm 2015 Việt Nam đạt 53 điểm, xếp hạng 65/109 quốc gia, đến năm 2022, đạt 67,9 điểm, xếp hạng 46/113 quốc gia, còn ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, Việt Nam đứng thứ 9/23 quốc gia. Trong đó, chỉ số giá cả lương thực hợp lý được đánh giá cao nhất (84 điểm). Điều này cho thấy, Việt Nam có mức độ an ninh lương thực cao hơn cho người tiêu dùng, do cung cấp đủ nguồn cung với mức giá tương đối ổn định.

Tiêu chuẩn quốc gia cho giống khoai tây - Bài 1: Bước tiến để Việt Nam chủ động nguồn giống sạch, chất lượng cao Tiêu chuẩn quốc gia cho giống khoai tây - Bài 1: Bước tiến để Việt Nam chủ động nguồn giống sạch, chất lượng cao

Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đang lấy ý kiến cho dự thảo Tiêu chuẩn quốc gia ...

Chuẩn hóa khảo nghiệm DUS giống khoai tây - Bài 2: Nền tảng phát triển giống cây trồng Việt Nam Chuẩn hóa khảo nghiệm DUS giống khoai tây - Bài 2: Nền tảng phát triển giống cây trồng Việt Nam

Khảo nghiệm DUS (tính khác biệt, tính đồng nhất và tính ổn định) là bước quan trọng trong đánh giá, bảo hộ và thương mại ...

Những năm qua, thực hiện chủ trương phát triển nông nghiệp, nông thôn, sản xuất lương thực, thực phẩm góp phần quan trọng vào việc bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, phát triển kinh tế – xã hội và ổn định chính trị của đất nước. Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách về bảo đảm an ninh lương thực, như: Kết luận số 53-KL/TW ngày 05/8/2009 của Bộ Chính trị về “Đề án an ninh lương thực quốc gia đến năm 2020”; Kết luận số 81-KL/TW ngày 29/7/2009 của Bộ Chính trị về “Bảo đảm an ninh lương thực quốc gia đến năm 2030; Nghị quyết số 34/NQ-CP ngày 25/3/2021 của Chính phủ về bảo đảm an ninh lương thực quốc gia đến năm 2030… đã đạt được những thành tựu nhất định.

Tuy nhiên, Việt Nam hiện nay vẫn đang phải đối mặt với những thách thức trong an ninh lương thực như: những yếu tố ảnh hưởng đến cung lương thực như diện tích đất canh tác giảm, biến đổi khí hậu (bão, lũ lụt, …) hoặc sâu bệnh…; sự thay đổi trong nhu cầu lương thực do thu nhập tăng lên khiến cho mức tiêu thụ lương thực giảm; những biến động của thị trường thế giới ảnh hưởng đến chi phí lưu thông lương thực của nước ta.

Để giải quyết các thách thức trên, cần tiến hành những hành động cụ thể. Theo đó, Dự thảo TCVN “Giống cây trồng nông nghiệp - Khảo nghiệm tính khác biệt, tính đồng nhất và tính ổn định – Phần 25: Giống khoai tây” cũng đang đóng góp vào việc đảm bảo an ninh lương thực cho Việt Nam, thông qua việc nghiên cứu, áp dụng khoa học - kỹ thuật và công nghệ sinh học phục vụ sản xuất, nâng cao chất lượng cây giống bảo đảm phát triển bền vững.

Tính ưu việt của dự thảo Tiêu chuẩn

Tiêu chuẩn quốc gia cho giống khoai tây - Bài cuối: Hướng tới đảm bảo an ninh lương thực và kinh tế nông nghiệp
(Ảnh minh họa)

Dự thảo TCVN “Giống cây trồng nông nghiệp - Khảo nghiệm tính khác biệt, tính đồng nhất và tính ổn định - Phần 25: Giống khoai tây” đánh dấu lần đầu tiên xây dựng chuẩn khảo nghiệm DUS dành riêng cho giống khoai tây tại Việt Nam. Dự thảo đóng vai trò lấp đầy khoảng trống kỹ thuật và pháp lý trong hoạt động khảo nghiệm, thẩm định và bảo hộ giống khoai tây - một loại rau ngắn ngày có giá trị kinh tế cao, được trồng phổ biến trên phạm vi cả nước.

Từ góc độ quốc tế, dự thảo là giúp giống cây trồng Việt Nam nói chung và giống khoai tây Việt Nam nói riêng được tiếp cận chuẩn mực quốc tế, hài hòa với hệ thống UPOV: Cấu trúc, phương pháp đánh giá và quy trình khảo nghiệm tuân thủ theo hướng dẫn TG/1/3, TGP/8, TGP/9, TGP/10, TGP/11 của UPOV. Điều này giúp Việt Nam tăng cường khả năng công nhận lẫn nhau trong khảo nghiệm DUS, thuận lợi cho xuất khẩu giống và hội nhập quốc tế.

Về mặt chuyên môn, dự thảo cung cấp một bảng tính trạng đặc trưng toàn diện, khoa học và dễ áp dụng. Với 37 tính trạng được lựa chọn dựa trên khảo sát thực tế và phân tích chuyên môn, bảng tính trạng phản ánh đầy đủ sự đa dạng hình thái và khả năng phân biệt giữa các giống khoai tây, đồng thời được minh họa rõ trong phụ lục kỹ thuật.

Bên cạnh đó, tính chặt chẽ của dự thảo được thể hiện qua những quy định chi tiết về vật liệu khảo nghiệm và điều kiện thực hiện. Cụ thể, dự thảo quy định rõ số lượng và chất lượng vật liệu, bố trí thí nghiệm, yêu cầu về cơ sở vật chất... tạo cơ sở đồng bộ trong tổ chức khảo nghiệm giữa các đơn vị.

Ngoài ra, dự thảo được xây dựng trên cơ sở phù hợp với năng lực tổ chức khảo nghiệm trong nước. Cách bố trí thí nghiệm, quy mô khảo nghiệm và phương pháp đánh giá đã được điều chỉnh linh hoạt để phù hợp với điều kiện thực tế tại Việt Nam, từ nguồn lực con người, cơ sở vật chất cho đến điều kiện khí hậu - thổ nhưỡng. Nhờ đó, việc triển khai tiêu chuẩn có tính khả thi cao, bảo đảm hiệu quả trong quá trình áp dụng tại các cơ sở khảo nghiệm giống trên toàn quốc.

Hướng tới đảm bảo an ninh lương thực và kinh tế nông nghiệp

Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO), khoai tây đóng vai trò quan trọng trong các chiến lược cung cấp nguồn thực phẩm dễ tiếp cận, giàu dinh dưỡng và góp phần cải thiện sinh kế cho người dân ở nông thôn cũng như các khu vực có nguồn tài nguyên hạn chế - đặc biệt là đất canh tác và nước - nơi chi phí đầu vào sản xuất cao. Nhờ tính linh hoạt và khả năng sinh trưởng trong nhiều điều kiện khí hậu, khoai tây trở thành một lựa chọn cây trồng ưu việt. Đây cũng là loại cây thân thiện với môi trường, bởi lượng khí nhà kính phát thải trong quá trình trồng khoai tây thấp hơn đáng kể so với nhiều loại cây trồng khác. Trong thập kỷ qua, sản lượng khoai tây toàn cầu đã tăng 10%, kéo theo sự gia tăng về việc làm và thu nhập cho người dân. Tuy nhiên, thế giới vẫn cần tiếp tục nỗ lực để khai thác toàn diện tiềm năng của loại cây này trong hành trình xóa đói và giảm suy dinh dưỡng trên phạm vi toàn cầu.

Ngoài ra, khoai tây có mức độ đa dạng sinh học rất cao, với hơn 5.000 giống đã được cải thiện và các giống địa phương (landraces), nhiều giống trong số đó chỉ tồn tại ở khu vực xuất xứ tại châu Mỹ Latin. Khoảng 150 loài khoai tây hoang dại có sự biến dị di truyền phong phú, mang nhiều đặc tính quý như khả năng thích nghi với các điều kiện sản xuất khác nhau, kháng sâu bệnh và đa dạng về đặc điểm củ. Đây là nguồn gen quý giá phục vụ công tác lai tạo, cải thiện giống, giúp cây trồng thích ứng với biến đổi khí hậu, dịch bệnh mới và đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của người tiêu dùng.

Việc hoàn thiện Dự thảo Tiêu chuẩn quốc gia cho giống khoai tây không chỉ đặt nền móng cho hệ thống quản lý giống bài bản, đồng bộ với thông lệ quốc tế, mà còn góp phần trực tiếp vào mục tiêu bảo đảm an ninh lương thực và phát triển kinh tế nông nghiệp bền vững. Khi các tiêu chuẩn kỹ thuật được áp dụng thống nhất, Việt Nam có thể phát triển các giống khoai tây năng suất cao, thích ứng với biến đổi khí hậu, ít rủi ro sâu bệnh và đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước lẫn xuất khẩu. Đây chính là bước đi quan trọng giúp đa dạng hóa nguồn lương thực, nâng cao giá trị kinh tế của cây trồng, ổn định thu nhập cho nông dân, đồng thời khẳng định vai trò của khoa học - tiêu chuẩn hóa trong bảo đảm an ninh lương thực quốc gia.

Không chỉ đóng vai trò quan trọng trong đảm bảo an ninh lương thực, khoai tây còn đang trở thành cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt cho ngành nông nghiệp Việt Nam. Trong những năm gần đây, nhiều địa phương đã chuyển đổi diện tích cây trồng kém hiệu quả sang trồng khoai tây, góp phần nâng cao năng suất, thu nhập và giá trị gia tăng cho người nông dân.

Sự hợp tác giữa doanh nghiệp, viện nghiên cứu và nông dân đã hình thành nên chuỗi giá trị khoai tây bền vững - từ chọn tạo, khảo nghiệm giống đến sản xuất, thu mua và chế biến. Mô hình liên kết này giúp nông dân được tiếp cận nguồn giống chất lượng cao, quy trình kỹ thuật tiên tiến và đầu ra ổn định, nhờ đó giảm thiểu rủi ro “được mùa mất giá” và tăng khả năng cạnh tranh của nông sản Việt. Nhiều vùng trồng khoai tây đã ghi nhận mức lợi nhuận tăng gấp đôi so với các cây trồng truyền thống, mở ra hướng đi mới cho phát triển nông nghiệp hàng hóa và nông nghiệp xanh.

Tiêu chuẩn quốc gia cho giống khoai tây - Bài cuối: Hướng tới đảm bảo an ninh lương thực và kinh tế nông nghiệp
Giống khoai tây Atlantic trồng tại xã Tự Lập, huyện Mê Linh cho năng suất, hiệu quả kinh tế cao.

Thực tiễn cho thấy, việc áp dụng các giống khoai tây mới chất lượng cao đã mang lại hiệu quả rõ rệt trong phát triển kinh tế nông nghiệp. Tại Hà Nội, mô hình trồng khoai tây Atlantic triển khai tại các huyện Mê Linh và Sóc Sơn là minh chứng tiêu biểu. Với quy mô thử nghiệm 30 ha, nông dân được hỗ trợ 50% giống, vật tư và phân bón từ Trung tâm Khuyến nông Hà Nội, đồng thời được hướng dẫn quy trình kỹ thuật đảm bảo đúng tiêu chuẩn và thời vụ.

Kết quả cho thấy, giống khoai tây Atlantic cho năng suất đạt khoảng 21 tấn/ha, tỷ lệ củ loại 1 đạt 85–90%, mang lại doanh thu 170–180 triệu đồng/ha và lợi nhuận trên 80 triệu đồng/ha. Đặc biệt, sản phẩm được doanh nghiệp bao tiêu toàn bộ, giúp người trồng yên tâm sản xuất và tránh tình trạng “được mùa mất giá”.

Không chỉ có giá trị kinh tế cao, giống khoai tây này còn có nhiều ưu điểm như củ tròn, đồng đều, hàm lượng chất khô cao, phù hợp cho chế biến công nghiệp. Hiệu quả thực tế từ mô hình đã được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội đánh giá là hướng đi tiềm năng, góp phần đa dạng hóa cơ cấu cây trồng, nâng cao thu nhập nông dân và thúc đẩy phát triển nông nghiệp đô thị theo hướng bền vững.

Những điểm cần chú ý trong dự thảo

Trước hết, cần xem xét tính đầy đủ và hợp lý của bảng tính trạng đặc trưng. Việc lựa chọn 37 tính trạng cần được đánh giá xem đã phản ánh đầy đủ các đặc điểm hình thái và sinh học quan trọng giữa các giống khoai tây hay chưa. Đồng thời, cần góp ý về mức độ phù hợp của các tính trạng chất lượng, số lượng, giả chất lượng và xem xét khả năng bổ sung hoặc loại bỏ một số tính trạng. Cách phân loại mã số trạng thái biểu hiện, thang điểm (1–9) và phương pháp ghi nhận (VG, VS, MS, MG...) cũng cần được góp ý để đảm bảo dễ hiểu và khả thi trong triển khai.

Về vật liệu khảo nghiệm và giống tương tự, cần đánh giá tính phù hợp của lượng củ giống khảo nghiệm (100 củ) và yêu cầu chất lượng củ giống. Các quy định về việc lựa chọn giống đối chứng và hướng dẫn ghi trong tờ khai kỹ thuật cũng cần được góp ý nhằm đảm bảo rõ ràng, thuận tiện và có tính khả thi cao.

Đối với bố trí thí nghiệm và phương pháp khảo nghiệm, cần góp ý về số cây tối thiểu (20 cây/lần nhắc), số lần nhắc lại (2 lần) và mật độ trồng để phù hợp với điều kiện thực tế. Phương pháp đánh giá ba tính DUS (khác biệt, đồng nhất và ổn định) nên được xem xét về độ rõ ràng, tính nhất quán và khả năng áp dụng.

Ngoài ra, các phụ lục và biểu mẫu đính kèm cần được rà soát kỹ. Phụ lục A (bảng tính trạng) và Phụ lục B (tờ khai kỹ thuật) nên được góp ý về độ đầy đủ, dễ sử dụng. Phụ lục C (giải thích, minh họa tính trạng) và Phụ lục E (quy trình kỹ thuật canh tác) cần được xem xét về mức độ chi tiết, rõ ràng và phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Cuối cùng, cần lưu ý về ngôn ngữ và cách diễn đạt trong tiêu chuẩn. Các thuật ngữ, ký hiệu chuyên môn cần được trình bày rõ ràng, nhất quán, dễ hiểu đối với cán bộ kỹ thuật và doanh nghiệp giống. Việc rà soát, chỉnh sửa các lỗi đánh máy hoặc sự không thống nhất giữa phần kỹ thuật và phụ lục cũng là bước quan trọng để hoàn thiện dự thảo tiêu chuẩn.

Giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt -Bài 1: Tính cấp thiết để phát triển nông nghiệp bền vững Giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt -Bài 1: Tính cấp thiết để phát triển nông nghiệp bền vững

Trước diễn biến phức tạp và khó lường của biến đổi khí hậu, sản xuất giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt trở thành ...

Giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt - Bài 2: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam Giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt - Bài 2: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Trong hơn một thập kỷ qua, giảm phát thải khí nhà kính trong nông nghiệp - đặc biệt là lĩnh vực trồng trọt đã được ...

Giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt - Bài cuối: Truyền thông dẫn dắt và lan tỏa tri thức phát triển nông nghiệp xanh Giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt - Bài cuối: Truyền thông dẫn dắt và lan tỏa tri thức phát triển nông nghiệp xanh

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng tác động mạnh mẽ đến sản xuất nông nghiệp, giảm phát thải trong lĩnh vực trồng ...

Bài liên quan

Mã định danh thửa đất, VNeID: Nền tảng để người dân làm thủ tục đất đai không phụ thuộc địa giới

Mã định danh thửa đất, VNeID: Nền tảng để người dân làm thủ tục đất đai không phụ thuộc địa giới

Việc chuẩn hóa dữ liệu đất đai gắn với mã định danh thửa đất và tích hợp VNeID đang mở ra bước chuyển quan trọng trong cải cách thủ tục hành chính. Khi dữ liệu “đúng – đủ – sạch – sống”, người dân có thể thực hiện các thủ tục đất đai ở bất cứ đâu, không còn phụ thuộc vào ranh giới hành chính.
Đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế biển theo hướng khoa học, hiện đại và bền vững

Đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế biển theo hướng khoa học, hiện đại và bền vững

Bộ trưởng Trần Đức Thắng cho biết, Diễn đàn Phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam năm 2025 đã khép lại với nhiều dấu ấn quan trọng. Các ý kiến tại diễn đàn một lần nữa khẳng định Việt Nam là quốc gia sở hữu nhiều lợi thế vượt trội để phát triển kinh tế biển với hơn 1 triệu km² vùng biển và nguồn tài nguyên phong phú. Bước vào giai đoạn phát triển mới, yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế biển theo hướng khoa học, hiện đại và bền vững trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Giai đoạn phát triển mới, nơi kinh tế biển xanh tiếp tục được dẫn dắt bằng tư duy tiên phong

Giai đoạn phát triển mới, nơi kinh tế biển xanh tiếp tục được dẫn dắt bằng tư duy tiên phong

Phát biểu tại Diễn đàn Phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam năm 2025 diễn ra tại Bãi Cháy, tỉnh Quảng Ninh trong hai ngày 12-13/12/2025, Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà bày tỏ sự vui mừng khi có mặt tại địa phương được xem là minh chứng sinh động cho chuyển đổi thành công từ “kinh tế nâu” sang “kinh tế xanh”. Theo ông, chính tại Quảng Ninh, trong thời điểm này, Việt Nam có thể kỳ vọng về sự mở đầu cho một giai đoạn phát triển mới, nơi kinh tế biển xanh tiếp tục được dẫn dắt bằng tư duy tiên phong.
Loại quả đắt nhất thế giới 20 triệu đồng/kg, là đặc sản nổi tiếng trồng 2 năm cho thu hoạch

Loại quả đắt nhất thế giới 20 triệu đồng/kg, là đặc sản nổi tiếng trồng 2 năm cho thu hoạch

Nhờ hương thơm đặc trưng, sâu và bền cùng giá trị kinh tế cao, loại quả này đang được ưa chuộng trên thị trường. Ngoài bán quả khô, một số địa chỉ còn bán cả cây giống.
Đề xuất cơ chế mở đường hướng tới chuỗi giá trị nông nghiệp xanh

Đề xuất cơ chế mở đường hướng tới chuỗi giá trị nông nghiệp xanh

Nghị định 98/2018/NĐ-CP sau hơn 6 năm triển khai được nhìn nhận là một bước đi trúng trọng tâm, tạo khung pháp lý và cơ chế hỗ trợ tài chính thúc đẩy liên kết trong sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản. Tuy nhiên, từ thực tế đã bộc lộ những hạn chế, khiến doanh nghiệp và hợp tác xã (HTX) gặp khó khăn, cần phải được sửa đổi để đáp ứng tốt hơn sự đòi hỏi của thực tiễn. Dự thảo nghị định thay thế Nghị định 98/2018/NĐ-CP bổ sung cơ chế khuyến khích phát triển chuỗi giá trị xanh và vùng nguyên liệu đạt chuẩn phục vụ xuất khẩu.
Đứng vững trước thiên tai, ngành nông nghiệp hướng tới xuất khẩu đạt 70 tỷ USD

Đứng vững trước thiên tai, ngành nông nghiệp hướng tới xuất khẩu đạt 70 tỷ USD

Đó là khẳng định của Thứ trưởng Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến tại buổi họp báo thường kỳ tháng 11 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường diễn ra vào sáng 4/12, tại Hà Nội. Thứ trưởng nhấn mạnh: “Với kim ngạch xuất khẩu 64,01 tỷ USD sau 11 tháng, nếu tháng 12 đạt khoảng 6 tỷ USD, toàn ngành hoàn toàn có thể cán mốc gần 70 tỷ USD, vượt xa mục tiêu 65 tỷ USD đề ra”.

CÁC TIN BÀI KHÁC

Kiểm soát bệnh cháy bìa lá lúa bằng chế phẩm thực khuẩn

Kiểm soát bệnh cháy bìa lá lúa bằng chế phẩm thực khuẩn

Bệnh cháy bìa lá lúa có thể gây thiệt hại đến 70% năng suất đối với các giống lúa mẫn cảm trong điều kiện môi trường thuận lợi cho bệnh lây nhiễm, như ở các nước nhiệt đới mưa nhiều. Các chiến lược quản lý bệnh cháy bìa lá lúa, từ hóa học, canh tác, đến giống kháng,... đều chưa đem lại hiệu quả cao. Vì vậy, nhóm nghiên cứu tại Đại học Bách khoa TP. Hồ Chí Minh đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu chế phẩm thực khuẩn thể để kiểm soát bệnh cháy bìa lá lúa do vi khuẩn Xanthomonas oryzae pv. oryzae".
Biến rác thành điện: giải pháp năng lượng sạch cho nông thôn trong kỷ nguyên Net Zero

Biến rác thành điện: giải pháp năng lượng sạch cho nông thôn trong kỷ nguyên Net Zero

Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh chuyển đổi năng lượng và thực hiện cam kết Net Zero vào năm 2050, nhu cầu tìm kiếm các mô hình năng lượng sạch phù hợp với khu vực nông thôn trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Đây cũng là lý do nhóm nghiên cứu do GS.TSKH. Bùi Văn Ga (Trường Đại học Bách khoa – Đại học Đà Nẵng) chủ trì đã triển khai đề tài “Mô-đun sản xuất điện hòa lưới công suất nhỏ từ chất thải sinh hoạt và sản xuất ở nông thôn”. Công trình sớm chứng minh tính khả thi, khi không chỉ giải quyết vấn đề môi trường mà còn tạo ra nguồn điện sạch và nhiên liệu xanh cho cộng đồng.
Tối ưu hiệu quả khô dầu đậu nành trong thức ăn chăn nuôi

Tối ưu hiệu quả khô dầu đậu nành trong thức ăn chăn nuôi

Khô dầu đậu nành (Soybean Meal – SBM) là nguồn protein thực vật được sử dụng phổ biến nhất trong ngành thức ăn chăn nuôi nhờ hàm lượng đạm cao (44–48%) và thành phần acid amin tương đối cân đối. Trong thức ăn cho lợn và gia cầm, SBM chiếm tới 20–35% khẩu phần, tùy giai đoạn sinh trưởng của vật nuôi (Toomer et al., 2024). Bên cạnh đó, SBM còn cung cấp năng lượng trao đổi (ME) khoảng 2300–2600 kcal/kg và giàu lysine – acid amin giới hạn đầu tiên trong các loại ngũ cốc.
Làm chủ công nghệ biển, đất nước mới có thể trở thành một quốc gia mạnh về biển và giàu từ biển

Làm chủ công nghệ biển, đất nước mới có thể trở thành một quốc gia mạnh về biển và giàu từ biển

GS.TS Mai Trọng Nhuận, nguyên Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, cho rằng chỉ khi tiếp cận toàn bộ chuỗi hoạt động biển bằng tư duy xanh, tuần hoàn và carbon thấp, đồng thời đưa người Việt làm chủ công nghệ biển, đất nước mới có thể trở thành một quốc gia mạnh về biển và giàu từ biển.
Chọn tạo được đàn gà ác có chất lượng di truyền cao

Chọn tạo được đàn gà ác có chất lượng di truyền cao

Gà ác (Gallus gallus domesticus Brisson) là giống gà bản địa quý, được nuôi phổ biến tại đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt là Trà Vinh (nay là tỉnh Vĩnh Long).
Quảng Trị: Tập huấn chuyển giao kỹ thuật sấy nguyên liệu song mây sử dụng năng lượng mặt trời

Quảng Trị: Tập huấn chuyển giao kỹ thuật sấy nguyên liệu song mây sử dụng năng lượng mặt trời

Viện Nghiên cứu công nghiệp rừng phối hợp với Trung tâm Khuyến nông Quảng Trị vừa tổ chức lớp tập huấn, đào tạo cho các hộ gia đình và cơ sở chế biến chế biến mây mô hình “chuyển giao kỹ thuật sấy nguyên liệu song mây sử dụng năng lượng mặt trời tại các hộ gia đình và cơ sở chế biến”…
Tưới thông minh - Giải pháp xanh cho vùng hạn mặn Vĩnh Long

Tưới thông minh - Giải pháp xanh cho vùng hạn mặn Vĩnh Long

Nhóm tác giả đến từ các trường đại học và viện nghiên cứu tại TP. Hồ Chí Minh đã phát triển thành công mô hình tưới tự động tiết kiệm nước cho sản xuất rau hữu cơ tại xã Ba Tri (tỉnh Bến Tre trước đây), tỉnh Vĩnh Long, góp phần ứng phó hiệu quả với biến đ
Cải tạo cát san hô ở các đảo xa bờ thành đất trồng rau

Cải tạo cát san hô ở các đảo xa bờ thành đất trồng rau

Một nhóm nhà nghiên cứu trong nước đã ứng dụng công nghệ sinh học để cải tạo cát san hô nghèo dinh dưỡng ở các đảo xa bờ thành nền đất trồng rau hiệu quả.
Châu Âu khám phá tiềm năng phân bón từ côn trùng: Thúc đẩy nông nghiệp bền vững và tự chủ chiến lược

Châu Âu khám phá tiềm năng phân bón từ côn trùng: Thúc đẩy nông nghiệp bền vững và tự chủ chiến lược

Nhân Ngày Đất Thế giới, châu Âu đang tập trung vào mục tiêu xây dựng nền tảng đất đai khỏe mạnh cho hệ thống lương thực, đồng thời tìm kiếm các phương pháp đổi mới để giải quyết những thách thức then chốt trong sản xuất nông nghiệp.
Những yếu tố quyết định việc sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi gia cầm tại Việt Nam

Những yếu tố quyết định việc sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi gia cầm tại Việt Nam

Ngành chăn nuôi gia cầm Việt Nam đang trên đà phát triển với lượng tiêu thụ thịt gà bình quân đầu người tăng từ 5,6 kg năm 2015 lên 17,3 kg năm 2023; song đi kèm với đó là tình trạng lạm dụng kháng sinh vẫn phổ biến.
Bắc Ninh: Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ trong hoạt động sản xuất

Bắc Ninh: Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ trong hoạt động sản xuất

Nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, nhiều địa phương của tỉnh Bắc Ninh đã mạnh dạn ứng dụng khoa học – công nghệ vào sản xuất, tạo chuyển biến tích cực và hướng tới những sản phẩm đạt chuẩn cao.
Lâm Đồng: Xã Đức An đẩy mạnh phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nhiều mô hình hiệu quả

Lâm Đồng: Xã Đức An đẩy mạnh phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nhiều mô hình hiệu quả

Những năm gần đây, xã Đức An, tỉnh Lâm Đồng được xem là một trong những địa phương có bước chuyển mạnh mẽ trong phát triển nông nghiệp công nghệ cao (NNCNC). Từ xây dựng mô hình sản xuất theo tiêu chuẩn, mở rộng diện tích ứng dụng công nghệ, đến phát triển các hợp tác xã và chuỗi liên kết, địa phương đã đạt nhiều kết quả tích cực, tạo nền tảng quan trọng cho mục tiêu phát triển nông nghiệp hiện đại, bền vững trong giai đoạn 2026-2030.
XEM THÊM
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2025 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính