Thứ tư 24/06/2026 17:35Thứ tư 24/06/2026 17:35 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Chuẩn hóa khảo nghiệm DUS giống khoai tây - Bài 2: Nền tảng phát triển giống cây trồng Việt Nam

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Khảo nghiệm DUS (tính khác biệt, tính đồng nhất và tính ổn định) là bước quan trọng trong đánh giá, bảo hộ và thương mại hóa giống cây trồng, đảm bảo giống có tính khác biệt, đồng nhất và ổn định qua các thế hệ.
Chuẩn hóa khảo nghiệm DUS giống khoai tây - Bài 2: Nền tảng phát triển giống cây trồng Việt Nam
Sản xuất khoai tây đóng vai trò then chốt trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tăng giá trị sử dụng đất, tạo việc làm và cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thực phẩm. (Ảnh minh họa)

Năm 2025, Trung tâm Khảo kiểm nghiệm giống, sản phẩm cây trồng Quốc gia được Cục Trồng trọt - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật) giao nhiệm vụ xây dựng Tiêu chuẩn Quốc gia (TCVN) một số loài cây trồng. Do tính cấp thiết của các TCVN của các loài cây trồng trong việc công bố lưu hành cũng như bảo hộ quyền tác giả, Trung tâm Khảo kiểm nghiệm giống, sản phẩm cây trồng Quốc gia đã tiến hành thu thập thông tin, tổ chức hội thảo và xây dựng dự thảo các Tiêu chuẩn quốc gia cho các giống cây trồng: lúa, su hào, đậu xanh, su hào, khoai tây. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 17 Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật, căn cứ khoản 2 Điều 6 Thông tư 01/2021/TT-BNNPTNT, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật đăng tải các dự thảo Tiêu chuẩn Quốc gia của các tiêu chuẩn này để xin ý kiến rộng rãi của các tổ chức, cá nhân có liên quan trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày đăng thông báo.

Tiêu chuẩn quốc gia cho giống khoai tây - Bài 1: Bước tiến để Việt Nam chủ động nguồn giống sạch, chất lượng cao Tiêu chuẩn quốc gia cho giống khoai tây - Bài 1: Bước tiến để Việt Nam chủ động nguồn giống sạch, chất lượng cao

Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đang lấy ý kiến cho dự thảo Tiêu chuẩn quốc gia ...

Về khảo nghiệm DUS (tính khác biệt, tính đồng nhất và tính ổn định)

Theo Khoản 5 Điều 3 Nghị định 79/2023/NĐ-CP, Khảo nghiệm DUS (hay khảo nghiệm kỹ thuật) là khảo nghiệm tính khác biệt, tính đồng nhất và tính ổn định của giống cây trồng: Tính khác biệt của giống cây trồng là khả năng phân biệt rõ ràng của một giống cây trồng với các giống cây trồng được biết đến rộng rãi; Tính đồng nhất của giống cây trồng là sự biểu hiện giống nhau của giống cây trồng về các tính trạng liên quan, trừ những sai lệch trong phạm vi cho phép đối với một số tính trạng cụ thể trong quá trình nhân giống; Tính ổn định của giống cây trồng là sự biểu hiện ổn định của các tính trạng liên quan như mô tả ban đầu, không bị thay đổi sau mỗi vụ nhân giống hoặc sau mỗi chu kỳ nhân giống trong trường hợp nhân giống theo chu kỳ.

Về hình thức khảo nghiệm, Khoản 2 Điều 8 Nghị định 79/2023/NĐ-CP quy định: Khảo nghiệm DUS được thực hiện tại tổ chức khảo nghiệm được BNNPTNT công nhận theo quy định tại Điều 21 Luật Trồng trọt đối với giống cây trồng nông nghiệp hoặc cơ sở khảo nghiệm giống cây trồng lâm nghiệp theo quy định tại Điều 12 Nghị định 27/2021/NĐ-CP. Người đăng ký gửi mẫu giống đến tổ chức khảo nghiệm giống cây trồng để tiến hành khảo nghiệm DUS trong thời hạn 30 ngày trước thời vụ gieo trồng đầu tiên kể từ ngày ban hành Thông báo chấp nhận Đơn. Trường hợp không đồng ý với kết quả khảo nghiệm DUS, người đăng ký có quyền yêu cầu tổ chức khảo nghiệm giống cây trồng đã thực hiện khảo nghiệm DUS trước đó hoặc tổ chức khảo nghiệm giống cây trồng khác thực hiện khảo nghiệm lại. Yêu cầu khảo nghiệm lại phải được làm bằng văn bản trong đó nêu rõ lý do và chứng cứ chứng minh cần phải khảo nghiệm lại đồng thời thông báo tới BNNPTNT. Bên cạnh đó, khảo nghiệm DUS do người đăng ký tự thực hiện. Ngoài ra, kết quả khảo nghiệm DUS được sử dụng trên cơ sở thỏa thuận quốc tế về trao đổi kết quả khảo nghiệm DUS với quốc gia thành viên của Hiệp hội Quốc tế về bảo hộ giống cây trồng mới (UPOV) hoặc quốc gia có hợp tác với Việt Nam về bảo hộ giống cây trồng.

Để thực hiện khảo nghiệm DUS, các cá nhân, tổ chức cần đáp ứng các điều kiện sau: Có hoặc hợp đồng thuê địa điểm và diện tích đất phù hợp để bố trí thí nghiệm khảo nghiệm DUS đối với giống đăng ký; Có hoặc hợp đồng thuê trang thiết bị, dụng cụ phục vụ cho việc phân tích, đánh giá các chỉ tiêu theo yêu cầu khảo nghiệm đối với loài cây trồng khảo nghiệm; Có hoặc hợp đồng thuê phòng thử nghiệm đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động và được công nhận hoặc được chỉ định đối với trường hợp khảo nghiệm có bao gồm các chỉ tiêu phân tích; Có hoặc hợp đồng thuê giống đối chứng phù hợp với giống đăng ký khảo nghiệm; Có hợp đồng lao động với ít nhất 01 cán bộ kỹ thuật có trình độ đại học trở lên một trong các chuyên ngành trồng trọt, bảo vệ thực vật, sinh học hoặc các ngành tương tự và có giấy chứng nhận tập huấn về khảo nghiệm DUS do cơ quan quản lý nhà nước về bảo hộ giống cây trồng cấp.

Căn cứ khoa học

Dự thảo tuân thủ nghiêm ngặt hệ thống hướng dẫn kỹ thuật của Tổ chức quốc tế về bảo hộ giống cây trồng mới (UPOV), gồm: TG/23/7 Hướng dẫn khảo nghiệm tính khác biệt, tính đồng nhất, tính ổn định đối với khoai tây của UPOV; TG/1/3 – Hướng dẫn chung về khảo nghiệm DUS và xây dựng bảng mô tả giống một cách hài hòa; TGP/8/1 – Phương pháp bố trí thí nghiệm và các biện pháp kỹ thuật trong khảo nghiệm; TGP/9/1, 10/1, 11/1 – Hướng dẫn cụ thể đánh giá tính khác biệt, tính đồng nhất và tính ổn định.

Các tài liệu trên đảm bảo rằng quy trình khảo nghiệm được xây dựng theo nguyên tắc khoa học, chuẩn hóa và có khả năng tích hợp với hệ thống quốc tế. Ngoài ra, cấu trúc bảng tính trạng và phương pháp đánh giá cũng sử dụng mã hóa, ký hiệu, phương pháp theo dõi, đánh giá các tính trạng (VG, VS, MS, MG…) thống nhất với hệ thống của UPOV, giúp đảm bảo tính khách quan, dễ dàng và thuận lợi trong quá trình tổng hợp số liệu, xây dựng báo cáo khảo nghiệm DUS.

Hiệp hội Quốc tế về bảo hộ giống cây trồng mới được viết tắt là UPOV là một tổ chức liên chính phủ có trụ sở đặt tại Geneva. Nhiệm vụ của UPOV là cung cấp và thúc đẩy một hệ thống bảo hộ giống cây trồng có hiệu quả với mục tiêu khuyến khích phát triển giống cây trồng mới mang lại lợi ích cho xã hội.

UPOV được thành lập trên cơ sở Công ước quốc tế về bảo hộ giống cây trồng mới (công ước UPOV) được ký tại Paris năm 1961. Công ước có hiệu lực năm 1968 và được sửa đổi lại qua các năm 1972, 1987 và 1991. Công ước năm 1991 có hiệu lực vào ngày 24-4-1998.

Mục đích của Công ước UPOV là để bảo đảm rằng các thành viên của Hiệp hội chấp nhận thành tựu của tác giả giống cây trồng mới như một quyền sở hữu trí tuệ dựa trên những những nguyên tắc đã được vạch rõ, giống được bảo hộ phải có tính khác biệt với các giống cùng loài đã được biết đến rộng rãi, phải có tính đồng nhất, ổn định và có tính mới - có nghĩa chúng chưa được bán tính đến thời điểm nộp đơn…

Căn cứ thực tiễn

Khoai tây là cây trồng vụ đông quan trọng, được canh tác phổ biến tại các tỉnh phía Bắc và vùng Tây Nguyên, đặc biệt ở các vùng chuyên canh như Hải Dương (cũ), Bắc Ninh, Thái Bình (cũ), Nam Định (cũ), Sơn La, Lào Cai, và Đà Lạt - Lâm Đồng. Sản xuất khoai tây đóng vai trò then chốt trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tăng giá trị sử dụng đất, tạo việc làm và cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thực phẩm. Trong những năm gần đây, diện tích trồng khoai tây có xu hướng ổn định, song cơ cấu giống ngày càng đa dạng, bao gồm cả giống nhập nội, giống lai tạo trong nước và giống đặc sản địa phương.

(Ảnh minh họa)
(Ảnh minh họa)

Nhiều giống khoai tây được chọn tạo và nhập nội đang được trồng phổ biến tại Việt Nam như KT1, KT2, KT3, PO3, Solara, HL1, HL2, HL Tím, Atlantic, Diamant, Granola, và Spunta. Các giống này có đặc điểm khác biệt rõ rệt về hình thái, thời gian sinh trưởng, màu vỏ củ, hình dạng củ, khả năng kháng bệnh và chất lượng thương phẩm. Sự đa dạng này thể hiện tiềm năng phong phú của nguồn giống khoai tây, đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc xây dựng hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật thống nhất để phục vụ công tác khảo nghiệm, đánh giá và bảo hộ giống.

Hiện nay, Việt Nam chưa ban hành Tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) riêng cho khảo nghiệm DUS giống khoai tây, tuy nhiên trong thực tế, các đơn vị khảo nghiệm và cơ quan thẩm định vẫn đang áp dụng trực tiếp Tài liệu hướng dẫn TG/23/7 của UPOV làm căn cứ chuyên môn. Việc sử dụng tài liệu quốc tế này đã góp phần duy trì hoạt động khảo nghiệm và bảo hộ giống khoai tây, song còn cần phải xem xét, đánh giá về sự biểu hiện của các tính trạng có phù hợp với điều kiện sinh thái trong nước hay không, có cần bổ sung thêm các tính trạng để giúp phân biệt các giống khoai tây hay không.

Thực tế tiếp nhận và xử lý hồ sơ đăng ký bảo hộ giống khoai tây cũng cho thấy nguồn vật liệu rất đa dạng, với nhiều giống nhập nội, chọn lọc và cải tiến trong nước. Việc xây dựng Tiêu chuẩn quốc gia DUS cho khoai tây sẽ giúp chuẩn hóa quy trình khảo nghiệm, thống nhất tiêu chí kỹ thuật và nâng cao độ tin cậy của kết quả đánh giá, từ đó hỗ trợ công tác thẩm định, bảo hộ và quản lý giống cây trồng một cách minh bạch, khách quan và phù hợp với thực tiễn Việt Nam.

Khảo sát thực địa

Để xây dựng bảng tính trạng đặc trưng cho giống khoai tây, Ban soạn thảo Tiêu chuẩn quốc gia đã tiến hành khảo sát thực tế các giống khoai tây đang được sản xuất phổ biến trong nước. Hoạt động khảo sát được triển khai tại một số địa phương trồng khoai tây trọng điểm và các đơn vị nghiên cứu, sản xuất giống như Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Cây có củ, Trung tâm Nghiên cứu Khoai tây, Rau và Hoa… nhằm đảm bảo dữ liệu thu được phản ánh đúng thực tế sản xuất và đặc điểm đa dạng của nguồn giống hiện có.

Trong quá trình xây dựng, các tính trạng được lựa chọn dựa trên những nguyên tắc khoa học rõ ràng: phải có tính di truyền ổn định và ít chịu ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh, có thể quan sát hoặc đo lường được bằng phương pháp khách quan, và đặc biệt là có khả năng phân biệt rõ ràng giữa các giống – yếu tố cốt lõi trong đánh giá tính khác biệt (Distinctness) của khảo nghiệm DUS. Từ các tiêu chí này, dự thảo tiêu chuẩn đã xác định 37 tính trạng đặc trưng, bao gồm các nhóm giả chất lượng (PQ), số lượng (QN) và chất lượng (QL), được mã hóa theo thang điểm UPOV để bảo đảm tính chuẩn hóa và khả năng tích hợp quốc tế.

Bên cạnh đó, các tính trạng được phân loại và mô tả chi tiết theo phương pháp quan sát (VG, VS, MS, MG...), hình thức ghi nhận (trực quan, đo đếm, cá thể hay nhóm cây), kèm theo minh họa trực quan giúp cán bộ khảo nghiệm dễ dàng nhận diện và đánh giá trên thực địa. Một số tính trạng quan trọng được đánh dấu bắt buộc nhằm đảm bảo tính thống nhất, độ tin cậy và khả năng so sánh giữa các khảo nghiệm khác nhau.

Bảng tính trạng này không chỉ bảo đảm tính khoa học và khách quan, mà còn phù hợp với điều kiện sản xuất và khảo nghiệm tại Việt Nam. Dự thảo TCVN “Giống cây trồng nông nghiệp – Khảo nghiệm tính khác biệt, tính đồng nhất và tính ổn định – Phần 25: Giống khoai tây” được xây dựng chặt chẽ, hiện đại và bám sát thông lệ quốc tế, tạo nền tảng để thực hiện khảo nghiệm DUS, thẩm định và bảo hộ giống khoai tây một cách minh bạch, chính xác và hiệu quả. Đồng thời, tiêu chuẩn này còn góp phần nâng cao năng lực chọn tạo giống trong nước, thúc đẩy nông nghiệp hữu cơ, bền vững và hội nhập quốc tế sâu rộng trong lĩnh vực bảo hộ giống cây trồng.

Còn tiếp ► Tiêu chuẩn quốc gia cho giống khoai tây - Bài cuối: Hướng tới đảm bảo an ninh lương thực và kinh tế nông nghiệp

Giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt -Bài 1: Tính cấp thiết để phát triển nông nghiệp bền vững Giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt -Bài 1: Tính cấp thiết để phát triển nông nghiệp bền vững

Trước diễn biến phức tạp và khó lường của biến đổi khí hậu, sản xuất giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt trở thành ...

Giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt - Bài 2: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam Giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt - Bài 2: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Trong hơn một thập kỷ qua, giảm phát thải khí nhà kính trong nông nghiệp - đặc biệt là lĩnh vực trồng trọt đã được ...

Giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt - Bài cuối: Truyền thông dẫn dắt và lan tỏa tri thức phát triển nông nghiệp xanh Giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt - Bài cuối: Truyền thông dẫn dắt và lan tỏa tri thức phát triển nông nghiệp xanh

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng tác động mạnh mẽ đến sản xuất nông nghiệp, giảm phát thải trong lĩnh vực trồng ...

Bài liên quan

Đề xuất sửa đổi 10 luật để gỡ vướng thủ tục trong lĩnh vực nông nghiệp, môi trường

Đề xuất sửa đổi 10 luật để gỡ vướng thủ tục trong lĩnh vực nông nghiệp, môi trường

Chính phủ thống nhất xây dựng dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường theo trình tự, thủ tục rút gọn. Việc sửa đổi được kỳ vọng sẽ góp phần tháo gỡ điểm nghẽn pháp lý, đẩy mạnh phân cấp, đơn giản hóa thủ tục, tạo thuận lợi hơn cho người dân và doanh nghiệp.
Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông lâm thủy sản sẵn sàng vận hành từ 1/7/2026

Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông lâm thủy sản sẵn sàng vận hành từ 1/7/2026

Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang hoàn tất những khâu cuối cùng để đưa Hệ thống truy xuất nguồn gốc (TXNG) nông lâm thủy sản vào vận hành chính thức từ ngày 1/7/2026. Đến nay, hệ thống đã kết nối hàng trăm doanh nghiệp, ghi nhận hơn 18.000 sản phẩm và sẵn sàng trở thành nền tảng truy xuất nguồn gốc cấp quốc gia, góp phần nâng cao minh bạch, đáp ứng yêu cầu thị trường trong nước và quốc tế.
El Niño có thể đạt cường độ lịch sử, Việt Nam tăng tốc cảnh báo sớm thiên tai

El Niño có thể đạt cường độ lịch sử, Việt Nam tăng tốc cảnh báo sớm thiên tai

El Niño được dự báo xuất hiện rõ nét từ nửa cuối năm 2026, có thể đạt cường độ tương đương đợt lịch sử 2015 - 2016, làm gia tăng nguy cơ hạn hán, nắng nóng và xâm nhập mặn. Việt Nam đang đẩy mạnh dự báo, cảnh báo sớm để chủ động ứng phó và giảm thiểu thiệt hại.
Gần 20.000 sản phẩm tham gia hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản

Gần 20.000 sản phẩm tham gia hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản

Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản do Bộ Nông nghiệp và Môi trường xây dựng đang ghi nhận sự tham gia ngày càng rộng rãi của các địa phương, doanh nghiệp và người sản xuất. Đến giữa tháng 6/2026, đã có 18.500 sản phẩm được cập nhật lên hệ thống, từng bước hình thành cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý và kết nối tiêu thụ nông sản.
Thống nhất chủ trương tổ chức kỷ niệm 15 năm thành lập Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam

Thống nhất chủ trương tổ chức kỷ niệm 15 năm thành lập Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam

Bộ Nông nghiệp và Môi trường thống nhất chủ trương tổ chức các hoạt động kỷ niệm 15 năm thành lập Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam theo hướng xã hội hóa, thiết thực, hiệu quả, tiết kiệm, tránh hình thức; đồng thời yêu cầu chuỗi hoạt động phải gắn với mục tiêu thúc đẩy phát triển nông nghiệp hữu cơ, lan tỏa giá trị sản xuất xanh, tiêu dùng bền vững và nâng tầm vị thế nông nghiệp hữu cơ Việt Nam.
Cho phép dùng dữ liệu số thay thế hồ sơ giấy ngành trồng trọt.

Cho phép dùng dữ liệu số thay thế hồ sơ giấy ngành trồng trọt.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành Quyết định số 2167/QĐ-BNNMT về công bố và hướng dẫn kết nối để khai thác, sử dụng dữ liệu trồng trọt thay thế thành phần hồ sơ trong giải quyết thủ tục hành chính. Đây là bước tiến quan trọng trong chuyển đổi số ngành nông nghiệp, góp phần đơn giản hóa thủ tục hành chính, nâng cao hiệu quả quản lý và tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân khi thực hiện các thủ tục trong lĩnh vực trồng trọt.

CÁC TIN BÀI KHÁC

Báo chí bứt phá cùng nông nghiệp xanh, hữu cơ, tuần hoàn

Báo chí bứt phá cùng nông nghiệp xanh, hữu cơ, tuần hoàn

Việt Nam đang bước vào giai đoạn tăng tốc của tiến trình hiện đại hóa nông nghiệp theo hướng bền vững. Trên hành trình ấy, báo chí không chỉ dừng lại ở vai trò “người ghi tin”, mà đã thực sự bứt phá để trở thành một mắt xích không thể tách rời, một động lực thúc đẩy hệ sinh thái nông nghiệp xanh, hữu cơ và tuần hoàn.
Vai trò mới của báo chí trong phát triển nông nghiệp xanh

Vai trò mới của báo chí trong phát triển nông nghiệp xanh

Trong dòng chảy chuyển đổi của ngành nông nghiệp Việt Nam, báo chí không chỉ dừng lại ở việc phản ánh mùa vụ, giá cả hay những mô hình sản xuất mới. Trước yêu cầu phát triển nông nghiệp xanh, hữu cơ, tuần hoàn và có trách nhiệm với môi trường, báo chí đang đứng trước một vai trò rộng hơn: diễn giải chính sách, phát hiện vấn đề, lan tỏa mô hình tốt, kết nối các chủ thể trong chuỗi giá trị và bảo vệ những người làm nông nghiệp tử tế.
Truyền thông và sứ mệnh lan tỏa nhận thức đúng về nông nghiệp hữu cơ

Truyền thông và sứ mệnh lan tỏa nhận thức đúng về nông nghiệp hữu cơ

Trong tiến trình chuyển đổi sang nền nông nghiệp xanh, trong đó có sản xuất hữu cơ, tuần hoàn và phát thải thấp, báo chí không chỉ phản ánh đời sống sản xuất. Bằng năng lực truyền dẫn chính sách, kết nối tri thức và kiểm chứng thông tin, báo chí góp phần lan tỏa giá trị thật, bảo vệ người làm thật và củng cố niềm tin thị trường.
Khi ngòi bút trở thành hạt mầm cho nông nghiệp tương lai

Khi ngòi bút trở thành hạt mầm cho nông nghiệp tương lai

Báo chí đã tự thân vươn mình, trở thành một “mắt xích” chiến lược trong hệ sinh thái nông nghiệp hữu cơ, vì một Việt Nam xanh và bền vững cho muôn đời sau.
Ảnh hưởng của chế phẩm sinh học đến năng suất và chất lượng cây ăn quả hữu cơ

Ảnh hưởng của chế phẩm sinh học đến năng suất và chất lượng cây ăn quả hữu cơ

Trong sản xuất cây ăn quả hữu cơ, chế phẩm sinh học đang được xem là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao năng suất và chất lượng nông sản. Nghiên cứu cho thấy việc sử dụng chế phẩm sinh học giúp tăng tỷ lệ đậu quả, cải thiện giá trị dinh dưỡng, giảm chi phí sản xuất và góp phần phát triển nông nghiệp bền vững.
Sứ mệnh và tầm nhìn mới

Sứ mệnh và tầm nhìn mới

Trong bức tranh tổng thể của nền kinh tế toàn cầu thế kỷ XXI, “xanh hóa” không còn là một khái niệm xa xỉ hay một phong trào nhất thời, mà đã trở thành kim chỉ nam cho mọi chiến lược phát triển bền vững. Tại Việt Nam, nông nghiệp hữu cơ chính là “trái tim” của chiến lược kinh tế xanh. Trong hoàn cảnh đó, Tạp chí Hữu cơ Việt Nam đang đứng trước những vận hội và thách thức chưa từng có, đóng vai trò là cơ quan ngôn luận, là người định hướng và là cầu nối quan trọng thúc đẩy tư duy sản xuất sạch cho cộng đồng.
Kỷ nguyên số mở ra cơ hội nào cho báo chí nông nghiệp Việt Nam?

Kỷ nguyên số mở ra cơ hội nào cho báo chí nông nghiệp Việt Nam?

Sự bùng nổ của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và nền tảng mạng xã hội đang tạo ra một bước ngoặt lớn với báo chí Việt Nam. Trong dòng chảy ấy, báo chí nông nghiệp đứng trước cơ hội chưa từng có để mở rộng độc giả, tăng tốc truyền tải tri thức sản xuất và trở thành cầu nối dữ liệu giữa nông dân với thị trường. Nếu trước đây thông tin nông nghiệp thường gắn với những trang báo chuyên ngành có phạm vi tiếp cận hẹp, thì nay chỉ bằng một chiếc điện thoại thông minh, người nông dân có thể tiếp cận tin tức mùa vụ, giá cả, công nghệ canh tác và xu hướng xuất khẩu gần như theo thời gian thực.
Sức lan tỏa của nông nghiệp hữu cơ thông qua báo chí

Sức lan tỏa của nông nghiệp hữu cơ thông qua báo chí

Báo chí đóng vai trò quan trọng trong việc lan tỏa các giá trị của nông nghiệp hữu cơ, một trụ cột quan trọng của kinh tế xanh, thông qua việc cung cấp thông tin, tạo diễn đàn đối thoại, tôn vinh điển hình và giáo dục cộng đồng. Vượt qua thách thức, báo chí kiến tạo nhận thức và thúc đẩy hành động vì một tương lai nông nghiệp hữu cơ bền vững.
Nông nghiệp hữu cơ trước những yêu cầu mới của "tam nông"

Nông nghiệp hữu cơ trước những yêu cầu mới của "tam nông"

Trong dòng chảy đổi mới tư duy phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn (gọi tắt là tam nông), nông nghiệp hữu cơ không còn là câu chuyện riêng của một nhóm người sản xuất tiên phong. Trước những yêu cầu thực tiễn về tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi số, nâng cao đời sống nông dân và xây dựng nông thôn hiện đại, hữu cơ đang đứng trước một vai trò rộng lớn hơn: trở thành một phương thức tổ chức lại sản xuất, thị trường và không gian sống ở nông thôn theo hướng bền vững.
Báo chí đồng hành cùng nông nghiệp hữu cơ Việt Nam bước vào kỷ nguyên xanh

Báo chí đồng hành cùng nông nghiệp hữu cơ Việt Nam bước vào kỷ nguyên xanh

Nhân kỷ niệm 101 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21/6/1925 - 21/6/2026), Tạp chí Hữu cơ Việt Nam đã có cuộc trao đổi với TSKH. Hà Phúc Mịch, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khoá XI, Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam (VOAA) về vai trò của báo chí nói chung, báo chí số nói riêng trong phát triển nông nghiệp xanh, hữu cơ, tuần hoàn. Theo Chủ tịch VOAA, trong giai đoạn mới, báo chí không chỉ là kênh truyền tải thông tin, mà còn là lực lượng kiến tạo nhận thức, bảo vệ niềm tin thị trường và thúc đẩy hành động xã hội vì một nền nông nghiệp minh bạch, trách nhiệm, bền vững.
Ngọn đuốc soi đường cho báo chí cách mạng Việt Nam

Ngọn đuốc soi đường cho báo chí cách mạng Việt Nam

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt nền móng cho báo chí cách mạng Việt Nam bằng việc sáng lập báo Thanh Niên (1925), định hướng tuyên truyền vì độc lập dân tộc, đào tạo lớp nhà báo đầu tiên và chỉ rõ tôn chỉ, mục đích phụng sự cách mạng, nhân dân.
Bác Hồ với phê bình trên Báo chí: Kim chỉ nam cho báo chí cách mạng Việt Nam

Bác Hồ với phê bình trên Báo chí: Kim chỉ nam cho báo chí cách mạng Việt Nam

Bài viết làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về phê bình trên báo chí cách mạng: phê bình phải trung thực, khách quan, có căn cứ, nhằm xây dựng và tiến bộ. Người nhấn mạnh vai trò giám sát của nhân dân, trách nhiệm tiếp thu phê bình của cán bộ, đảng viên và coi đây là kim chỉ nam để báo chí thực hiện tốt chức năng phản biện xã hội, phục vụ nhân dân.
XEM THÊM
dam-ca-mau-chi-vi-hoa
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2025 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính