![]() |
| Nông nghiệp xanh là mô hình sản xuất hướng đến bảo vệ môi trường, sử dụng tài nguyên hiệu quả và tạo ra sản phẩm sạch, an toàn |
Những chuyển động trên đồng ruộng thực chất đã bắt đầu từ áp lực tăng trưởng và thị trường trong thời gian gần đây. Ngay từ đầu năm 2026, các tín hiệu từ sản xuất, xuất khẩu và biến động giá đã cho thấy mô hình tăng trưởng dựa vào sản lượng đang dần bộc lộ giới hạn, đặc biệt tại ĐBSCL vùng sản xuất nông nghiệp lớn nhất cả nước.
Tăng trưởng vẫn duy trì nhưng dư địa ngày càng thu hẹp
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, GDP quý I năm 2026 tăng 7,83% so với cùng kỳ; riêng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,58%, tiếp tục là trụ đỡ của nền kinh tế.
ĐBSCL vẫn là vùng sản xuất chủ lực khi đóng góp hơn 50% sản lượng lúa, khoảng 90% gạo xuất khẩu và phần lớn trái cây cả nước. Những tháng đầu năm, sản xuất nhìn chung ổn định; sầu riêng, mít, thanh long đều tăng, chăn nuôi cũng phục hồi với tổng đàn lợn tăng gần 3%.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản quý I đạt 16,69 tỷ USD, xuất siêu khoảng 4,78 tỷ USD; riêng rau quả đạt 1,54 tỷ USD, tăng hơn 32%.
Tuy nhiên, phía sau bức tranh tăng trưởng, áp lực về giá trị đang lộ rõ khi nhiều mặt hàng rơi vào tình trạng tăng sản lượng nhưng giảm kim ngạch. Gạo một trong những trụ cột xuất khẩu cũng không nằm ngoài xu hướng này.
Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, trong nửa đầu tháng 4/2026, Việt Nam xuất khẩu 530.991 tấn gạo, đạt 246,4 triệu USD, giảm 2,1% về lượng và 8,7% về trị giá so với cùng kỳ. Lũy kế đến ngày 15/4, xuất khẩu đạt khoảng 2,8 triệu tấn, tương đương 1,3 tỷ USD, giảm 1,3% về lượng nhưng giảm tới 10,5% về trị giá; giá bình quân chỉ còn khoảng 469 USD/tấn.
Khoảng cách giữa sản lượng và kim ngạch cho thấy áp lực giảm giá đang chi phối thị trường, khiến doanh nghiệp khó giữ lợi nhuận. Tại An Giang, kim ngạch xuất khẩu gạo quý I/2026 ước khoảng 60 triệu USD, giảm mạnh so với cùng kỳ.
Nguyên nhân không chỉ đến từ biến động giá quốc tế mà còn do yêu cầu thị trường ngày càng khắt khe. Nhiều nước nhập khẩu siết chặt tiêu chuẩn về chất lượng, dư lượng hóa chất và yếu tố môi trường.
Đại diện một doanh nghiệp xuất khẩu tại An Giang cho biết, nếu trước đây chỉ cần đảm bảo chất lượng sản phẩm thì nay phải chứng minh toàn bộ quy trình sản xuất, từ giống, phân bón đến thu hoạch. “Không đáp ứng được tiêu chuẩn xanh thì rất khó giữ đơn hàng lâu dài,” doanh nghiệp này chia sẻ.
![]() |
| ĐBSCL triển khai mô hình sản xuất lúa chất lượng cao giảm phát thải. Ảnh: minh họa |
Khi người nông dân bước vào cuộc chơi mới
Những thay đổi rõ nhất của nông nghiệp xanh không nằm ở chính sách, mà bắt đầu từ cách người nông dân làm lại từng thửa ruộng của mình. Tại An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, mô hình canh tác lúa giảm phát thải đang được mở rộng. Nông dân áp dụng phương pháp tưới xen kẽ khô và ướt, giảm lượng giống gieo sạ, sử dụng phân bón hợp lý. Nhờ đó, lượng nước giảm khoảng 20–30%, chi phí giảm từ 10–15% nhưng năng suất vẫn ổn định.
Ông Nguyễn Văn Bảy, nông dân trồng lúa hữu cơ tại Vĩnh Long cho biết, trước đây làm nông chủ yếu dựa vào kinh nghiệm cha truyền con nối. Nhưng vài năm trở lại đây, nếu không tính toán chi phí, không theo sát thị trường thì rất dễ lỗ. “Giờ làm nông không còn là chuyện quen tay nữa, mà phải biết tính toán như làm kinh doanh”, ông nói.
Cùng với thay đổi trong canh tác, người nông dân cũng bắt đầu làm quen với công nghệ. Nhiều hộ sử dụng điện thoại để theo dõi thời tiết, cập nhật giá nông sản và ghi chép nhật ký sản xuất. Việc số hóa thông tin giúp kiểm soát quy trình tốt hơn, đồng thời đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc ngày càng khắt khe.
Tại An Giang, nhiều hợp tác xã đã áp dụng hệ thống quản lý sản xuất theo tiêu chuẩn. Sản phẩm muốn xuất khẩu phải có mã vùng trồng, mã cơ sở đóng gói và được gắn mã QR để truy xuất nguồn gốc. Chỉ với một thao tác quét mã, đối tác có thể kiểm tra toàn bộ quá trình sản xuất, từ khâu gieo trồng đến thu hoạch.
Không chỉ với cây lúa, các mô hình sản xuất sinh thái cũng đang mở rộng nhanh, đặc biệt tại những vùng chịu tác động trực tiếp của biến đổi khí hậu. Tại Cà Mau và Bạc Liêu, mô hình lúa kết hợp nuôi tôm cho thấy hiệu quả rõ rệt. Người dân tận dụng chu trình tự nhiên giữa con tôm và cây lúa, giảm phụ thuộc vào phân bón và thuốc bảo vệ thực vật. Sau mỗi vụ tôm, lớp bùn giàu dinh dưỡng trở thành nguồn phân hữu cơ cho vụ lúa tiếp theo, giúp giảm chi phí đầu vào và hạn chế sử dụng hóa chất.
Nhiều hộ dân cho biết mô hình này không chỉ giúp ổn định thu nhập mà còn giảm rủi ro khi thời tiết ngày càng thất thường. Khi nước mặn xâm nhập sâu, việc chuyển sang nuôi tôm giúp thích ứng linh hoạt thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào cây lúa. Giá trị sản phẩm cũng được nâng lên, nhất là khi sản xuất theo quy trình sinh thái đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu.
Ngoài ra, theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, diện tích sản xuất hữu cơ trên cả nước đã vượt trên 180.000 ha vào năm 2026. Tại ĐBSCL, nhiều địa phương như Cà Mau, Vĩnh Long, Cần Thơ đã hình thành các vùng sản xuất hữu cơ và sinh thái, gắn với truy xuất nguồn gốc và kiểm soát quy trình sản xuất.
Tại Cần Thơ, một nông dân cho biết làm nông giờ không còn là câu chuyện “được mùa là vui” như trước. Áp lực lớn nhất nằm ở thị trường luôn biến động, buộc người sản xuất phải thay đổi liên tục. Từ việc theo dõi giá cả, nắm yêu cầu của doanh nghiệp đến điều chỉnh kế hoạch xuống giống, tất cả đều phải tính toán kỹ. “Chỉ cần chậm một nhịp là có thể trả giá bằng cả vụ mùa,” ông nói. Theo ông, nếu vẫn giữ thói quen sản xuất cũ, thiếu tính toán và liên kết, người nông dân rất khó trụ vững trong bối cảnh hiện nay.
![]() |
| Mô hình lúa-tôm ở Cà Mau cho hiệu quả kinh tế cao. Ảnh: minh họa |
Chính sách và bài toán không thể trì hoãn
Dù xu hướng chuyển đổi đã rõ, nhưng con đường đi đến nông nghiệp xanh vẫn còn nhiều điểm nghẽn.
Chi phí đầu tư ban đầu là trở ngại lớn. Phần lớn nông dân sản xuất nhỏ lẻ, nguồn lực hạn chế nên khó tiếp cận công nghệ hoặc chuyển đổi sang mô hình mới. Bên cạnh đó, việc tiếp cận thông tin thị trường và các tiêu chuẩn kỹ thuật còn thiếu đồng bộ, khiến quá trình chuyển đổi diễn ra chậm và chưa đồng đều giữa các địa phương.
Theo TS. Đỗ Việt Hà, Phó Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không nằm ở nhận thức hay kỹ thuật, mà ở cơ chế hỗ trợ chưa theo kịp thực tế. Nhiều nông dân sẵn sàng chuyển đổi, nhưng vướng ở ba yếu tố then chốt là vốn, kỹ thuật và đầu ra ổn định.
Ông cho rằng chính sách cần đi vào thực chất hơn, từ tín dụng ưu đãi cho sản xuất xanh, hỗ trợ chi phí cho quá trình chuyển đổi từ nông nghiệp sử dụng hoá học sang nông nghiệp hữu cơ, đến đào tạo kỹ thuật và xây dựng chuỗi liên kết bền vững giữa nông dân và doanh nghiệp. Khi đầu ra được đảm bảo, người nông dân mới có thể yên tâm thay đổi cách làm.
Những điểm nghẽn về cơ chế, cùng với áp lực ngày càng rõ từ biến đổi khí hậu, đang tạo ra sức ép kép đối với quá trình chuyển đổi.
Tại ĐBSCL, xâm nhập mặn, thiếu nước ngọt và sụt lún đất không chỉ làm gia tăng chi phí sản xuất mà còn buộc người dân phải điều chỉnh phương thức canh tác. Điều này càng cho thấy việc chuyển sang mô hình nông nghiệp thích ứng, giảm phát thải và sử dụng tài nguyên hiệu quả không còn là lựa chọn, mà là yêu cầu bắt buộc.
Trong bối cảnh đó, ngành nông nghiệp đặt mục tiêu xuất khẩu khoảng 73–74 tỷ USD trong năm 2026, hướng tới 100 tỷ USD vào năm 2030. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, mục tiêu này sẽ khó đạt nếu không chuyển mạnh sang nâng cao giá trị gia tăng và đáp ứng các tiêu chuẩn bền vững của thị trường.
Nông nghiệp xanh không tạo ra những thay đổi ồn ào, nhưng đang âm thầm làm mới cách nghĩ và cách làm của cả một vùng đất vốn quen với lối sản xuất cũ. Sự tái sinh ấy không nằm ở khẩu hiệu, mà hiện diện trong từng thửa ruộng biết tiết kiệm tài nguyên, từng mô hình giảm phát thải và từng người nông dân đang chủ động thay đổi tư duy.
Trong một thị trường mà tiêu chuẩn xanh trở thành điều kiện bắt buộc, ĐBSCL không còn lựa chọn nào khác ngoài việc chuyển mình. Và khi những thay đổi nhỏ hôm nay được tích lũy qua từng mùa vụ, câu chuyện không còn là làm hay không, mà là làm nhanh đến đâu để giữ được thị trường, giữ được đất đai và giữ được tương lai của chính mình./.