Thứ năm 22/01/2026 18:02Thứ năm 22/01/2026 18:02 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Phát triển chè hữu cơ bền vững ở Việt Nam trong điều kiện Biến đổi khí hậu

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
GS.TS Đào Thanh Vân, Phó Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam, Chủ tịch Chi hội Nông nghiệp hữu cơ – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cho biết, phát triển chè hữu cơ bền vững ở Việt Nam trong điều kiện Biến đổi khí hậu hiện nay được ưu tiên hàng đầu với những tiềm năng sẵn có.

Tiềm năng, thế mạnh phát triển chè hữu cơ

Theo GS.TS Đào Thanh Vân, Phó Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam, Chủ tịch Chi hội Nông nghiệp hữu cơ – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cho biết hiện nay cây chè được coi là cây có hiệu quả kinh tế cao so với các cây trồng khác, đóng vai trò xoá đói giảm nghèo và góp phần quan trọng để làm giàu cho địa phương. Theo Viện Quy Hoạch & Thiết Kế Nông Nghiệp, năm 2022 cả nước có 34 tỉnh thành trồng chè; các tỉnh có diện tích chè lớn là Thái Nguyên 22,3 nghìn ha, Hà Giang 20,37 nghìn ha, Phú Thọ 15,41 nghìn ha, Lâm Đồng 11,29 nghìn ha.

Sản lượng chè của Việt Nam tập trung chính tại hai vùng là vùng miền núi phía Bắc và Tây Nguyên. Diện tích chè tính đến hết năm 2021 đạt khoảng 122,6 nghìn ha; năng suất chè đạt 97,5 tạ/ha (năng suất chè đạt cao nhất từ trước đến nay), cao hơn so với năm 2010 là 2,29 tạ/ha, sản lượng trên 1,07 triệu tấn tăng khoảng 227,6 nghìn tấn so với năm 2010.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đến thăm vùng chè chủ lực tại Tân Cương - Thái Nguyên.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đến thăm vùng chè chủ lực tại Tân Cương - Thái Nguyên.

Nhiều vùng chè cho năng suất cao và chất lượng tốt, nổi tiếng trong nước như: Tân Cương (Thái Nguyên), Mộc Châu (Sơn La), Bảo Lộc (Lâm Đồng)… Các sản phẩm chè ngày càng đa dạng, phong phú về chủng loại, đảm bảo phục vụ nhu cầu tiêu thụ của người tiêu dùng trong và ngoài nước như: Chè xanh, chè Ô Long, chè Hương, chè thảo dược...

Phát triển ngành chè góp phần thúc đẩy nền nông nghiệp, nâng cao mức sống, xoá đói giảm nghèo cho các vùng, đồng thời việc trồng chè đã nâng cao việc sử dụng hiệu quả đất đai vùng miền núi trung du. Tốc độ phát triển của ngành chè đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội, từ đó làm giảm đi sự cách biệt giữa vùng thành thị và vùng miền núi.

Tại Việt Nam nhiều vùng chè có tiềm năng lớn để phát triển hữu cơ
Tại Việt Nam nhiều vùng chè có tiềm năng lớn để phát triển hữu cơ

Cũng theo GS. TS. Đào Thanh Vân mặc dù đã có nhiều chính sách hỗ trợ cho sản xuất chè theo tiêu chuẩn GAP (Thực hành Nông nghiệp tốt) ở các cấp: quốc gia (VietGAP), khu vực (AsianGAP) và toàn cầu (GlobalGAP) và sản xuất chè theo tiêu chuẩn hữu cơ cấp Quốc gia (TCVN 11041 – 6; 2018. Phần 6: Chè hữu cơ); tiêu chuẩn quốc tế: JAS, IFORM, EU, USDA… nhưng đến nay diện tích triển khai sản xuất theo tiêu chuẩn hữu cơ và sản phẩm được cấp giấy chứng nhận hữu cơ vẫn đạt tỷ lệ còn thấp, khoảng trên 7.500 ha (chiếm khoảng 6% trong tổng diện tích chè).

Thực trạng phát triển chè hữu cơ

Theo GS. TS. Đào Thanh Vân, Phó Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam, Chủ tịch Chi hội Nông nghiệp hữu cơ – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cho biết: “Trong đề án “Phát triển sản phẩm nông nghiệp chủ lực tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2021 – 2025, định hướng đến năm 2030”, diện tích cây chè đến năm 2025 là 23.500 ha (trong đó có 235 ha được cấp chứng nhận theo tiêu chuẩn hữu cơ, chiếm 1,0% diện tích) và đến năm 2030 là 24.500 ha (trong đó có 500 ha đạt tiêu chuẩn hữu cơ, chiếm 2,0% diện tích).

Năm 2022, diện tích chè tại Thái Nguyên đã được cấp chứng nhận VietGAP khoảng 5000 ha (chiếm khoảng 22,5%); diện tích áp dụng sản xuất hữu cơ gần 100 ha (trong đó năm 2022 đã có 59,11 ha được cấp chứng nhận hữu cơ và dự kiến năm 2024 cấp chứng nhận hữu cơ cho 33 ha (hiện đang thực hiện chuyển đổi sang canh tác hữu cơ)”.

Tại Tuyên Quang, toàn tỉnh có 849,9 ha chè sản xuất theo tiêu chuẩn, quy chuẩn trong đó: 93 ha chè được chứng nhận tiêu chuẩn VietGAP; 27,5 ha chè được chứng nhận tiêu chuẩn hữu cơ.

Lào Cai có diện tích chè sản xuất chè theo VietGAP là 827,5 ha, huyện Bảo Yên (100 ha), Công ty chè Bắc Hà có 696,5 ha đạt tiêu chuẩn hữu cơ... Yên Bái diện tích chè được chứng nhận hữu cơ 427 ha. Hà Giang diện tích chè hữu cơ đạt 7.071,3 ha...

Theo GS. TS. Đào Thanh Vân, hiện nay tại các địa phương, các tiến bộ kỹ thuật mới trong sản xuất chè, đặc biệt là sản xuất chè an toàn, GAP, hữu cơ cũng đã được áp dụng; sử dụng phân bón hữu cơ, sinh học, thuốc BVTV sinh học, vi sinh vật có ích..., tuy nhiên số lượng chưa nhiều.

Đặc biệt trong canh tác hữu cơ thì tính “Toàn vẹn hữu cơ”, tức là áp dụng triệt để quy trình sản xuất hữu cơ (Từ canh tác đến thu hoạch, chế biến) còn chưa liên tục nên sản phẩm thường khó được chứng nhận hữu cơ ở các Tổ chức chứng nhận Quốc tế.

Các giải pháp trong phát triển chè hữu cơ

GS. TS Đào Thanh Vân, Phó Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam, Chủ tịch Chi hội Nông nghiệp hữu cơ – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
GS. TS Đào Thanh Vân, Phó Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam, Chủ tịch Chi hội Nông nghiệp hữu cơ – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.

GS. TS Đào Thanh Vân cho biết: “Chè là thức uống hàng ngày của người Việt, do vậy yêu cầu về sản phẩm sạch, an toàn, chất lượng lại càng cần thiết, nhất là trong điều kiện biến đổi khí hậu (BĐKH) diễn ra ngày càng khốc liện kể cả về tần suất và mức độ. Các giải pháp chính trong phát triển sản xuất chè hữu cơ trong hoàn cảnh hiện nay là:

Tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức chung của toàn xã hội về vai trò của sản xuất và sử dụng sản phẩm chè hữu cơ, từ đó thay đổi hành vi, có thói quen áp dụng sản xuất hữu cơ, sử dụng sản phẩm hữu cơ; thực hiện từng bước vững chắc, xây dựng mô hình điểm và nhân rộng.

Các địa phương có điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất và chế biến chè hữu cơ cần lựa chọn và xác định đối tượng (giống chè) và vùng sản xuất chè hữu cơ (nên lựa chọn các giống chè Shan, chọn các vùng ít bị tác động bởi quá trình canh tác thâm canh, dễ cách ly - Chè vùng cao)… để tổ chức thực hiện các mô hình sản xuất chè hữu cơ, lồng ghép sản xuất chè hữu cơ với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững.

Bản thân các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, hộ gia đình, nông dân cần tư duy, đầu tư xây dựng và thực hiện các dự án, mô hình sản xuất và chế biến chè hữu cơ theo chuỗi giá trị phù hợp quy hoạch và đặc thù địa phương, trong đó doanh nghiệp phải trở thành nòng cốt dẫn dắt, đa dạng hóa nhiều sản phẩm chè hữu cơ mang lại hiệu quả kinh tế cao; chú trọng thực hiện theo tiêu chuẩn trong sản xuất, chế biến sản phẩm chè hữu cơ, đảm bảo chất lượng; chủ động trong xúc tiến thương mại, mở rộng hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực nghiên cứu, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chè hữu cơ.

Nhà nước có chính sách và đầu tư có trọng tâm khoa học và công nghệ trong sản xuất và chế biến chè hữu cơ như: đào tạo nguồn nhân lực, các đề tài, dự án, chương trình khoa học có tính ứng dụng cao như công nghệ sinh học trong sản xuất chè hữu cơ, nghiên cứu quy trình canh tác, chế biến phù hợp; nghiên cứu các vật tư đầu vào phục vụ cho canh tác và chế biến chè hữu cơ: phân bón sinh học, thuốc bảo vệ thực vật sinh học.

Nghiên cứu chọn tạo giống chè mới có năng suất, chất lượng cao, có khả năng chống chịu với dịch hại tốt, phù hợp với quy trình canh tác hữu cơ và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Phát triển nông nghiệp công nghệ cao và nông nghiệp hữu cơ là một chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học công nghệ lần thứ tư đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ”.

Cũng theo GS. TS. Đào Thanh Vân, định hướng này có thể góp phần giúp cải thiện hiệu quả sản xuất nông nghiệp, thông qua tranh thủ tận dụng các thành tựu khoa học công nghệ ứng dụng vào thực tiễn sản xuất có truy suất nguồn gốc, xác định mã số vùng trồng, vùng chế biến… nhằm cải thiện năng suất, chất lượng sản phẩm, hội nhập quốc tế, từ đó nâng cao thu nhập cho người sản xuất, duy trì và cải thiện sức khỏe của cộng đồng thông qua sử dụng các sản phẩm hữu cơ, trong đó có sự đóng góp quan trọng của Trà Việt.

Bài liên quan

Người phụ nữ đam mê xây dựng thương hiệu chè hữu cơ

Người phụ nữ đam mê xây dựng thương hiệu chè hữu cơ

Trong bức tranh nông nghiệp Việt Nam, những tấm gương tiên phong như bà Trịnh Tú Anh - Giám đốc Hợp tác xã chè hữu cơ Tây Trúc Xanh là minh chứng sống động cho tinh thần khởi nghiệp, đổi mới và cống hiến vì cộng đồng. Sinh năm 1962, bà Trịnh Tú Anh đã dành trọn tâm huyết và trí tuệ để xây dựng mô hình chè hữu cơ tại Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Hành trình của bà không chỉ là câu chuyện về sự nghiệp cá nhân mà còn là biểu tượng của lòng kiên trì, khát vọng phát triển nông nghiệp bền vững và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
Đại Từ (Thái Nguyên): Phát triển chè hữu cơ, nâng tầm giá trị  sản phẩm

Đại Từ (Thái Nguyên): Phát triển chè hữu cơ, nâng tầm giá trị sản phẩm

Hội nghị tổng kết ngành chè Đại Từ năm 2024 khẳng định vị thế "Tứ đại danh trà" với giá trị sản phẩm đạt 3.200 tỷ đồng, đồng thời đề ra phương hướng phát triển chè hữu cơ, nâng cao chất lượng, giá trị sản phẩm, xây dựng thương hiệu và liên kết chuỗi giá trị.
Chè hữu cơ PGS: Bước tiến mới cho vùng chè Shan tuyết Lâm Bình

Chè hữu cơ PGS: Bước tiến mới cho vùng chè Shan tuyết Lâm Bình

Năm 2024, Hội Nông nghiệp hữu cơ Tuyên Quang đã triển khai mô hình sản xuất chè hữu cơ PGS tại huyện Lâm Bình, Tuyên Quang, với mục tiêu nâng cao chất lượng sản phẩm và bảo vệ môi trường.
Chè Hảo Đạt: Từ OCOP 5 sao, hữu cơ thượng hạng đến không gian văn hóa trà đặc sắc

Chè Hảo Đạt: Từ OCOP 5 sao, hữu cơ thượng hạng đến không gian văn hóa trà đặc sắc

Được hình thành từ một tổ hợp tác nhỏ, đến nay HTX chè Hảo Đạt đã trở thành thương hiệu hàng đầu tại xứ chè Thái Nguyên với rất nhiều sản phẩm cao cấp, trong đó Hảo Đạt là đơn vị duy nhất tại tỉnh có sản phẩm OCOP 5 sao quốc gia về trà. Đặc biệt, Hảo Đạt còn mạnh dạn đầu tư một khu không gian văn hóa trà đặc sắc.
Phát triển chè hữu cơ ở Thái Nguyên

Phát triển chè hữu cơ ở Thái Nguyên

Trong tình hình người tiêu dùng rất lo ngại về thực phẩm không an toàn hiện nay, việc phát triển nông nghiệp hữu cơ (NNHC) là bước đi cần thiết và kịp thời cho nông nghiệp Việt Nam.

CÁC TIN BÀI KHÁC

Đánh giá tình hình phát triển cá nước lạnh, hướng tới xây dựng chuỗi giá trị và thương hiệu

Đánh giá tình hình phát triển cá nước lạnh, hướng tới xây dựng chuỗi giá trị và thương hiệu

Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lâm Đồng vừa tổ chức cuộc họp đánh giá tình hình phát triển cá nước lạnh trên địa bàn tỉnh. Cuộc họp nhằm phục vụ công tác tham mưu xây dựng Đề án “Tổ chức lại sản xuất theo chuỗi giá trị gắn với xây dựng thương hiệu cá nước lạnh tỉnh Lâm Đồng”.
Loại rau được Đại học Harvard xếp hạng "tốt nhất thế giới", Việt Nam trồng bạt ngàn

Loại rau được Đại học Harvard xếp hạng "tốt nhất thế giới", Việt Nam trồng bạt ngàn

Loại rau này được trồng phổ biến, giá bán bình dân chỉ từ 15.000 đồng/kg nhưng lại mang đến nhiều lợi ích cho tim mạch, xương khớp, hệ tiêu hóa và miễn dịch, được xem là 'siêu thực phẩm' được nhiều gia đình lựa chọn.
Bưởi đỏ tiến vua Thanh Hóa "cháy hàng" trước Tết, thương lái đặt cọc từ sớm

Bưởi đỏ tiến vua Thanh Hóa "cháy hàng" trước Tết, thương lái đặt cọc từ sớm

Mặc dù còn hơn một tháng nữa mới đến Tết Nguyên đán, song nhiều thương lái đã nhận những đơn hàng bưởi đỏ tiến vua trị giá hàng trăm triệu đồng nên phải đi gom hàng từ sớm.
Nguồn cung lúa mì tăng mạnh, gây áp lực cho các nước xuất khẩu trong năm 2025/26

Nguồn cung lúa mì tăng mạnh, gây áp lực cho các nước xuất khẩu trong năm 2025/26

Mùa vụ lúa mì 2025/26 đã bắt đầu với nguồn cung dư thừa lớn, sản lượng toàn cầu dự kiến đạt 837,8 triệu tấn (tăng 37 triệu tấn so với năm trước) và tồn kho cuối kỳ tăng lên 274,9 triệu tấn.
Đồng Tháp: Nỗ lực khôi phục vùng trồng vú sữa Lò Rèn Vĩnh Kim

Đồng Tháp: Nỗ lực khôi phục vùng trồng vú sữa Lò Rèn Vĩnh Kim

Sở NN-MT tỉnh Đồng Tháp cho biết, ngành chức năng tỉnh đã phối hợp hướng dẫn nông dân phục hồi thành công vùng trồng vú sữa Lò Rèn Vĩnh Kim, bước đầu mang lại lợi nhuận cho nhà vườn.
Vai trò của vụ đông trong chiến lược an ninh lương thực quốc gia

Vai trò của vụ đông trong chiến lược an ninh lương thực quốc gia

Khi biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp trên phạm vi toàn cầu, dân số gia tăng, quỹ đất nông nghiệp bị thu hẹp và yêu cầu nâng cao chất lượng sống của người dân ngày càng cao, vấn đề an ninh lương thực không chỉ dừng lại ở việc “đủ ăn” mà còn hướng tới “ăn đủ dinh dưỡng, ăn an toàn và bền vững”.
Hội chợ Quốc gia Mùa Xuân 2026: Kết nối thịnh vượng, mở ra mùa mua sắm - giao thương

Hội chợ Quốc gia Mùa Xuân 2026: Kết nối thịnh vượng, mở ra mùa mua sắm - giao thương

Không chỉ là một hội chợ mua sắm, Hội chợ Quốc gia Mùa Xuân 2026 được kỳ vọng trở thành “điểm hẹn” kinh tế – văn hóa lớn nhất dịp cận Tết, nơi không khí xuân truyền thống hòa quyện cùng dòng chảy giao thương sôi động trên quy mô hơn 100.000 m² tại Trung tâm Triển lãm Việt Nam.
Phát triển rau màu thành cây trồng chủ lực

Phát triển rau màu thành cây trồng chủ lực

Những năm gần đây, xã Liên Minh khai thác hiệu quả lợi thế đất bãi ven sông, đất màu và kinh nghiệm sản xuất lâu đời của người dân để phát triển các cây trồng chủ lực, trong đó rau màu được xác định là hướng đi trọng tâm, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống người dân. Từ những chân ruộng trũng, đất bãi trước đây chỉ canh tác lúa một vụ hoặc bỏ hoang, đến nay nhiều vùng sản xuất rau màu tập trung đã hình thành, mang lại giá trị kinh tế cao, góp phần thay đổi diện mạo nông thôn.
Phát triển các ngành hàng chủ lực ở tỉnh Đồng Tháp: Hình thành chuỗi giá trị mới, sức cạnh tranh cao

Phát triển các ngành hàng chủ lực ở tỉnh Đồng Tháp: Hình thành chuỗi giá trị mới, sức cạnh tranh cao

Tỉnh Đồng Tháp tiếp tục xác định nông nghiệp là nền tảng quan trọng cho sự phát triển bền vững của tỉnh, phát triển nông nghiệp theo hướng sinh thái, hiện đại, liên kết theo chuỗi giá trị.
Rộn ràng nhịp sống tại “thủ phủ” quất, bưởi cảnh Văn Giang những ngày cận Tết

Rộn ràng nhịp sống tại “thủ phủ” quất, bưởi cảnh Văn Giang những ngày cận Tết

Những ngày này, khi tiết trời bắt đầu chuyển mình sang xuân, về với vùng đất Văn Giang, Hưng Yên, người ta dễ dàng cảm nhận được không khí khẩn trương, náo nhiệt lan tỏa khắp các nhà vườn, đặc biệt khi Tết Bính Ngọ 2026 đang đến rất gần.
Liên kết xây dựng vùng nguyên liệu tập trung

Liên kết xây dựng vùng nguyên liệu tập trung

Ở các xã vùng cao tỉnh Điện Biên, sản xuất nông nghiệp trước đây chủ yếu mang tính nhỏ lẻ, manh mún theo hộ gia đình. Điều này dẫn tới khó khăn trong việc mở rộng quy mô và tổ chức tiêu thụ theo chuỗi giá trị. Những năm trở lại đây, cùng với mô hình hợp tác xã (HTX), nhiều địa phương đã đẩy mạnh liên kết với các hộ dân, xây dựng vùng nguyên liệu tập trung, phát triển các sản phẩm OCOP, nông sản chủ lực, qua đó đem lại hiệu quả rõ rệt.
Xuất khẩu nông sản: "Bệ phóng" nâng cao giá trị và mở rộng thị trường

Xuất khẩu nông sản: "Bệ phóng" nâng cao giá trị và mở rộng thị trường

Năm 2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng của khu vực nông nghiệp tỉnh Gia Lai khi tăng trưởng không chỉ đến từ mở rộng quy mô mà còn từ thay đổi tư duy sản xuất theo hướng chuẩn hóa, xanh và bền vững. Trong bối cảnh thị trường thế giới ngày càng siết chặt các yêu cầu về chất lượng, truy xuất nguồn gốc và môi trường, nông nghiệp hữu cơ và sản xuất theo tiêu chuẩn đã trở thành nền tảng quan trọng giúp nông sản Gia Lai nâng cao giá trị và mở rộng thị trường xuất khẩu.
XEM THÊM
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2025 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính