Thứ tư 25/03/2026 23:45Thứ tư 25/03/2026 23:45 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Phát triển chè hữu cơ ở Thái Nguyên

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Trong tình hình người tiêu dùng rất lo ngại về thực phẩm không an toàn hiện nay, việc phát triển nông nghiệp hữu cơ (NNHC) là bước đi cần thiết và kịp thời cho nông nghiệp Việt Nam.
Phát triển chè hữu cơ ở Thái Nguyên
Vùng Chè đạt tiêu chuẩn hữu cơ tại THT Sản xuất chè Hữu cơ Sông Cầu (huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên).

Nông nghiệp Việt Nam đang đứng trước 2 thách thức vô cùng to lớn đó là an toàn vệ sinh thực phẩm và biến đổi khí hậu (BĐKH). Nếu BĐKH bắt buộc chúng ta phải triển khai nhanh một nền nông nghiệp thích ứng với môi trường mà cốt lõi là thay đổi cơ cấu cây trồng và phương pháp canh tác thích hợp với điều kiện mới do các yếu tố khí hậu, thời tiết thay đổi theo hướng cực đoan, thì thực phẩm không an toàn sẽ đem đến nhiều hệ lụy trầm trọng hơn vì đây là nguyên nhân phá hủy môi trường và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của nhiều thế hệ con cháu mai sau. Trong tình hình người tiêu dùng rất lo ngại về thực phẩm không an toàn hiện nay, việc phát triển Nông nghiệp hữu cơ (NNHC) là bước đi cần thiết và kịp thời cho nông nghiệp Việt Nam.

Tình hình sản xuất chè hữu cơ ở Thái Nguyên

Thái Nguyên là địa phương có nhiều tiềm năng, thế mạnh về sản xuất nông nghiệp, trong đó chè được xác định là cây trồng chủ lực có giá trị kinh tế cao. Năm 2024, tỉnh Thái Nguyên đã xây dựng được vùng sản xuất chè nguyên liệu với quy mô lớn gần 22.500 ha, sản lượng chè búp tươi đạt trên 267,5 nghìn tấn/năm, giá trị sản phẩm chè đạt 12,3 nghìn tỷ đồng. Tỉnh Thái Nguyên đã xác lập được quyền sở hữu trí tuệ đối với 13 sản phẩm chè bao gồm 1 chỉ dẫn địa lý, 10 nhãn hiệu tập thể và 2 nhãn hiệu chứng nhận. Nhãn hiệu tập thể “Chè Thái Nguyên” đã trở thành một thương hiệu nổi tiếng của Việt Nam và được bảo hộ tại 6 quốc gia và vùng lãnh thổ: Mỹ, Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và Đài Loan đã tạo ra rất nhiều cơ hội để sản phẩm chè Thái Nguyên phát triển cả về giá trị, chất lượng, uy tín thương hiệu và có sức cạnh tranh cao trên thị trường trong nước và quốc tế.

Trong đề án “Phát triển sản phẩm nông nghiệp chủ lực tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2021 – 2025, định hướng đến năm 2030” đã xác định Chè là sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tỉnh với các chỉ tiêu: diện tích chè đến năm 2025 là 23.500 ha (trong đó có 235 ha được cấp chứng nhận theo tiêu chuẩn hữu cơ, chiếm 1,0% diện tích) và đến năm 2030 là 24.500 ha (trong đó có 500 ha đạt tiêu chuẩn hữu cơ, chiếm 2,0% diện tích).

Thái Nguyên là tỉnh đầu tiên trong cả nước đã thực hiện sản xuất chè hữu cơ tại xã Tức Tranh, huyện Phú Lương từ những năm 1990 do các tổ chức NGO tài trợ nhưng ở quy mô nhỏ nên không phát triển. Từ năm 2020 đến nay, thực hiện phong trào sản xuất Nông nghiệp hữu cơ do Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam phát động, tỉnh Thái Nguyên đã có nhiều chính sách khuyến khích, hỗ trợ đầu tư sản xuất và tích cực vận động nông dân chuyển đổi diện tích chè đã đạt tiêu chuẩn VietGAP sang sản xuất theo tiêu chuẩn trồng trọt hữu cơ (TCVN 11041 – 2/2017). Với sự vào cuộc quyết liệt của các sở, ngành, các cấp chính quyền từ tỉnh, huyện đến cấp xã và sự đồng tình của người làm chè trên địa bàn tỉnh, đến năm 2024, diện tích chè đã được cấp chứng nhận VietGAP có 5140ha (chiếm 22,5%) và diện tích đã được cấp chứng nhận hữu cơ là 110ha (chiếm gần 0,5% so với tổng diện tích chè). Có thể nói đây là một trong những thành công nổi bật của ngành chè Thái Nguyên trong việc chuyển đổi nhận thức và phương thức canh tác của người làm chè theo áp dụng quy trình sản xuất an toàn, hữu cơ gắn với ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ trong các khâu sản xuất chè nguyên liệu, chế biến, thực hiện chuyển đổi số, truy xuất nguồn gốc và quảng bá, tiêu thụ sản phẩm.

Với 14 đơn vị thực hiện trên diện tích 110 ha chè đạt tiêu chuẩn hữu cơ và có sự tham gia của 349 hộ nông dân ở các THT, HTX và doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đã là những mô hình sản xuất chè có hiệu quả. Mặc dù trong giai đoạn chuyển đổi từ sản xuất thông thường sang sản xuất theo tiêu chuẩn hữu cơ, người sản xuất còn nhiều bỡ ngỡ, năng suất, sản lượng chè năm đầu chuyển đổi có bị giảm sút, tuy nhiên bù lại giá của sản phẩm được nâng cao 30 – 50%, đặc biệt sau thời gian chuyển đổi, cây chè được sử dụng phân bón hữu cơ vi sinh, phân hữu cơ tự chế biến… đã hồi phục, đất được cải tạo, mầu mỡ hơn, chất lượng chè được nâng cao và được tiêu thụ với giá cao hơn. Điều đó đã mang lại sự tin tưởng về phương thức canh tác bền vững của người dân trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ và mức độ tiêu thụ sản phẩm chè hữu cơ Thái Nguyên ngày càng nhiều trên thị trường trong nước.

Những thuận lợi, khó khăn, thách thức trong sản xuất chè hữu cơ ở Thái Nguyên

Thuận lợi và cơ hội

Kết quả đạt được sau 4 năm thực hiện sản xuất chè hữu cơ của tỉnh tuy còn hạn chế nhưng đó là sự chuyển đổi to lớn về nhận thức và phương thức canh tác của người làm chè Thái Nguyên. Để có được kết quả trên là do các yếu tố thuận lợi như sau:

- Cây chè gắn bó với người dân Thái Nguyên từ lâu đời, người dân có kinh nghiệm và truyền thống làm chè, nhất là trước đây là có thời gian dài chè là cây vườn nhà, phù hợp với canh tác hữu cơ. Cây chè có khả năng thích ứng rộng nên được trồng ở cả 9/9 huyện, thành phố của tỉnh Thái Nguyên. Nhiều vùng chè của Thái Nguyên có diện tích tương đối tập trung: Huyện Đại Từ, huyện Phú Lương, huyện Đồng Hỷ, huyện Định Hóa và TP. Thái Nguyên, nên dễ khoanh vùng, tạo vùng cách ly để có thể chuyển đổi từ sản xuất thông thường sang sản xuất hữu cơ.

- Đã có nhiều chính sách thúc đẩy NNHC: Chỉnh phủ đã có Nghị định 109/2018/NĐ-CP ngày 29/8/2018 về “Nông nghiệp hữu cơ” và Quyết định số 885/QĐ-TTg ngày 23/6/2020 phê duyệt đề án “Phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2020 – 2030” và đã có các tiêu chuẩn quốc gia: TCVN 11041 -2: 2017 về Trồng trọt hữu cơ và TCVN 11041 -6: 2018 về Chè Hữu cơ. Đồng thời tỉnh Thái Nguyên đã có đề án “Phát triển sản phẩm nông nghiệp chủ lực tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2021 – 2025, định hướng đến năm 2030”, trong đó có các nội dung và chính sách hỗ trợ cho phát triển chè hữu cơ.

- Khoa học công nghệ trong chọn tạo, nhân giống, sản xuất, chế biến chè hữu cơ ngày càng phát triển, nhất là tạo ra các vật tư đầu vào phục vụ cho canh tác chè đạt tiêu chuẩn hữu cơ trong nước và quốc tế. Do vậy công tác giống và kỹ thuật canh tác chè hữu cơ ở Thái Nguyên đã được nghiên cứu và ứng dụng: Sử dụng các bộ giống thích hợp cho sản xuất chè hữu cơ: Trung Du, LDP1,TRI777, các giống chè nhập nội chất lượng tốt đã được trồng lâu năm và thích nghi ở Thái Nguyên; các công nghệ tưới, che sáng, sử dụng phân hữu cơ sinh học thay thể cho phân khoáng, sử dụng nấm đối kháng, các chế phẩm sinh học… để phòng trừ sâu bệnh hại, đám bảo cho chất lượng sản phẩm chè hữu cơ và tính toàn vẹn của canh tác hữu cơ.

- Trước đây, tỉnh Thái Nguyên đã từng có các mô hình sản xuất chè hữu cơ với các hình thức tổ chức khác nhau: hộ gia đình, THT, doanh nghiệp thực hiện canh tác hữu cơ và được chứng nhận hữu cơ của các tổ chức chứng nhận quốc tế: IFOAM, ACT tạo tiền đề và cơ sở thực tiễn cho việc chuyển đổi sản xuất chè hữu cơ thành công.

- Hiện nay tỉnh Thái Nguyên đã có nhiều sản phẩm chè đạt tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP và chuẩn OCOP (3 – 5 sao) có giá trị và đã được thị trường biết đến, là điều kiện thuận lợi để có thể chuyển cấp sản phẩm sang sản phẩm chè Hữu cơ.

- Chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chè hữu cơ bước đầu được hình thành (18 chuỗi) với các tác nhân có trách nhiệm với sản phẩm hữu cơ tham gia, tạo điều kiện cho các sản phẩm chè hữu cơ có chỗ đứng trên thị trường nội địa và xuất khẩu.

- Sản phẩm chè hữu cơ có tiềm năng để đa dạng hóa sản phẩm, tạo các sản phẩm mới thích hợp với nhiều thị trường, nhiều ngành hàng: chè matcha, chè dược liệu…

Khó khăn và thách thức

Nhận thức về canh tác hữu cơ và sản phẩm chè hữu cơ còn hạn chế ở cả người sản xuất và nhà quản lý.

Quy mô sản xuất chè chủ yếu là hộ gia đình, nhiều vườn chè phân tán, xen kẽ với khu dân cư nên khó khăn cho việc tạo vùng sản xuất quy mô lớn, vùng cách ly, dẫn đến tính “Toàn vẹn hữu cơ” không đảm bảo trong sản xuất, thu hoạch và chế biến.

Năng suất và sản lượng chè khi chuyển đổi sang canh tác hữu cơ bị sụt giảm (30 – 40% so với sản xuất thông thường), mẫu mã sản phẩm chè kém (nhất là đối với dòng sản phẩm chè búp, chè nõn, chè đinh – là loại tiêu thụ chính trên thị trường nội địa), dẫn đến ảnh hưởng đến thu nhập của người sản xuất.

Người tiêu dùng chưa tin tưởng và khó phân biệt giữa sản phẩm sản xuất hữu cơ và các sản phẩm thông thường khác;

Nhân sự được đào tạo và có kinh nghiệm về sản xuất Nông nghiệp hữu cơ chưa nhiều.

Hạ tầng phụ trợ (chứng nhận, xúc tiến thương mại, cơ chế đầu tư, dịch vụ đầu vào cho sản xuất hữu cơ…) còn hạn chế.

Đòi hỏi ngày càng cao của người tiêu dùng về chất lượng, mẫu mã, chủng loại sản phẩm.

Rào cản thương mại về chất lượng sản phẩm chè hữu cơ trong nước và trên thế giới ngày càng khắt khe gây khó khăn cho tiêu thụ và xuất khẩu.

Yêu cầu về chứng nhận Hữu cơ quốc tế đối với các sản phẩm chè theo các tiêu chuẩn JAS, IFOAM, EU, USDA… rất chặt chẽ.

Các giải pháp trong phát triển chè hữu cơ trong thời gian tới

Chè là thức uống hàng ngày của người Việt, do vậy yêu cầu về sản phẩm sạch, an toàn, chất lượng lại càng cần thiết, các giải pháp chính trong phát triển sản xuất chè hữu cơ nói chung và chè hữu cơ của Thái Nguyên nói riêng là:

- Tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức chung của toàn xã hội về vai trò của sản xuất và sử dụng sản phẩm chè hữu cơ, từ đó thay đổi hành vi, có thói quen áp dụng sản xuất hữu cơ, sử dụng sản phẩm hữu cơ; thực hiện từng bước vững chắc, xây dựng mô hình điểm và nhân rộng.

- Các địa phương có điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất và chế biến chè hữu cơ cần lựa chọn và xác định đối tượng (giống chè) và vùng sản xuất chè hữu cơ (nên lựa chọn các giống chè đã được chọn tạo phù hợp với điều kiện của địa phương, chọn các vùng ít bị tác động bởi quá trình canh tác thâm canh, dễ cách ly)… để tổ chức thực hiện các mô hình sản xuất chè hữu cơ, lồng ghép sản xuất chè hữu cơ với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững.

- Bản thân các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, hộ gia đình, nông dân cần tư duy, đầu tư xây dựng và thực hiện các dự án, mô hình sản xuất và chế biến chè hữu cơ theo chuỗi giá trị phù hợp quy hoạch và đặc thù địa phương, trong đó doanh nghiệp phải trở thành nòng cốt dẫn dắt, đa dạng hóa nhiều sản phẩm chè hữu cơ mang lại hiệu quả kinh tế cao; chú trọng thực hiện theo tiêu chuẩn trong sản xuất, chế biến sản phẩm chè hữu cơ, đảm bảo chất lượng; chủ động trong xúc tiến thương mại, mở rộng hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực nghiên cứu, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chè hữu cơ.

- Nhà nước có chính sách và đầu tư có trọng tâm khoa học và công nghệ trong sản xuất và chế biến chè hữu cơ: như đào tạo nguồn nhân lực, các đề tài, dự án, chương trình khoa học có tính ứng dụng cao như công nghệ sinh học trong sản xuất chè hữu cơ, nghiên cứu quy trình canh tác, chế biến phù hợp; nghiên cứu các vật tư đầu vào phục vụ cho canh tác và chế biến chè hữu cơ: phân bón sinh học, thuốc bảo vệ thực vật sinh học. Nghiên cứu chọn tạo giống chè mới có năng suất, chất lượng cao, có khả năng chống chịu với dịch hại tốt, phù hợp với quy trình canh tác hữu cơ và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Phát triển nông nghiệp hữu cơ là xu hướng tất yếu, được thể hiện rõ trong Quyết định số 150/QĐ-Ttg ngày 28/01/2022 về Phê duyệt “Chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050” là “… Sản xuất nông nghiệp có trách nhiệm, hiện đại, hiệu quả và bền vững; phát triển nông nghiệp sinh thái, hữu cơ, tuần hoàn, phát thải các-bon thấp, thân thiện với môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu”. Thực hiện chiến lược này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả trong sản xuất chè, bảo vệ sức khỏe của người sản xuất và người tiêu dùng, tạo môi trường sinh thái, nâng cao thương hiệu sản phẩm “chè Thái Nguyên” ở trong nước và quốc tế.n

Bài liên quan

Thái Nguyên nâng cao chất lượng rừng trồng

Thái Nguyên nâng cao chất lượng rừng trồng

Năm 2026 tỉnh Thái Nguyên có kế hoạch trồng 7.500ha rừng tập trung, chủ yếu là rừng kinh tế và trồng 1,5 triệu cây phân tán, đến nay đã trồng hơn 2.000ha và hơn 350 nghìn cây phân tán. Dự kiến đến 15/6, tỉnh sẽ hoàn thành việc trồng rừng tập trung và trồng 1,5 triệu cây phân tán bảo đảm chất lượng.
Gìn giữ tinh hoa, lan tỏa giá trị "Thái Nguyên đệ nhất danh trà"

Gìn giữ tinh hoa, lan tỏa giá trị "Thái Nguyên đệ nhất danh trà"

Giữa không khí rộn ràng của mùa chè xuân trên vùng đất Tân Cương (Thái Nguyên), Hợp tác xã (HTX) Hương Vân Trà - hội viên của Chi hội Nông nghiệp hữu cơ Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tổ chức Hội thi sao chè truyền thống với sự tham gia của nhiều nghệ nhân, người làm chè và các chuyên gia trong lĩnh vực chè.
Phát triển trồng trọt phát thải thấp, sản xuất theo chuỗi giá trị tuần hoàn

Phát triển trồng trọt phát thải thấp, sản xuất theo chuỗi giá trị tuần hoàn

Thái Nguyên đẩy mạnh phát triển nông nghiệp bền vững, từng bước hình thành nền nông nghiệp sinh thái, hiện đại, có khả năng chống chịu tốt trước tác động biến đổi khí hậu; xây dựng và phát triển nhãn hiệu 'phát thải thấp' cho các sản phẩm trồng trọt...
Phấn đấu có thêm từ 2.000ha chè trở lên đạt tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ

Phấn đấu có thêm từ 2.000ha chè trở lên đạt tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ

Năm 2026, Thái Nguyên phấn đấu có thêm từ 2.000ha chè trở lên sản xuất theo tiêu chuẩn thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (VietGAP), hữu cơ được cấp chứng nhận.
Nông nghiệp thông minh: Điểm sáng giảm nghèo ở Thái Nguyên

Nông nghiệp thông minh: Điểm sáng giảm nghèo ở Thái Nguyên

Nông nghiệp thông minh đang trở thành một trong những hướng đi hiệu quả, an toàn, góp phần tạo sinh kế bền vững cho người dân vùng khó khăn ở Thái Nguyên. Thông qua việc “mở đường thông tin”, nhiều địa phương đã từng bước hình thành các mô hình sản xuất phù hợp với điều kiện thực tiễn, giúp người dân chủ động vươn lên thoát nghèo từ gốc.
Dây thìa canh lá to mở hướng phát triển sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số

Dây thìa canh lá to mở hướng phát triển sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số

Những năm gần đây, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng gắn với liên kết sản xuất đã tạo nên bước chuyển quan trọng trong đời sống kinh tế của đồng bào dân tộc thiểu số. Cây dây thìa canh lá to, một loại dược liệu quý trong hỗ trợ điều trị tiểu đường đã và đang trở thành mô hình tiêu biểu, mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt, góp phần thay đổi tư duy sản xuất, nâng cao thu nhập và xây dựng sinh kế bền vững cho người dân.

CÁC TIN BÀI KHÁC

Từ kiểm soát nguồn phát thải đến chuyển đổi mô hình phát triển cốt lõi của giảm phát thải

Từ kiểm soát nguồn phát thải đến chuyển đổi mô hình phát triển cốt lõi của giảm phát thải

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng trở thành thách thức toàn cầu, cụm từ “giảm phát thải” ngày càng được nhắc đến nhiều trong các chiến lược phát triển của các quốc gia, doanh nghiệp và tổ chức quốc tế. Tuy nhiên, giảm phát thải không đơn thuần chỉ là cắt giảm lượng khí thải ra môi trường, mà sâu xa hơn, đó là quá trình chuyển đổi toàn diện về cách thức sản xuất, tiêu dùng và phát triển kinh tế. Hiểu đúng bản chất của giảm phát thải là điều kiện quan trọng để các quốc gia và doanh nghiệp xây dựng những giải pháp hiệu quả, hướng tới phát triển bền vững.
Tăng cường thu mua lúa gạo trong mùa vụ tránh “được mùa mất giá” cho nông dân

Tăng cường thu mua lúa gạo trong mùa vụ tránh “được mùa mất giá” cho nông dân

Lúa gạo từ lâu đã gắn bó mật thiết với đời sống kinh tế - xã hội của Việt Nam. Không chỉ là nguồn lương thực chính của hơn 100 triệu dân, lúa gạo còn là mặt hàng xuất khẩu quan trọng, đóng góp lớn cho tăng trưởng nông nghiệp và an ninh lương thực toàn cầu.
Nền kinh tế và đời sống sẽ ảnh hưởng thế nào khi giá điện và xăng dầu tăng

Nền kinh tế và đời sống sẽ ảnh hưởng thế nào khi giá điện và xăng dầu tăng

Trong nền kinh tế hiện đại, điện năng và xăng dầu được xem là hai loại “huyết mạch” của hoạt động sản xuất và đời sống. Hầu như mọi lĩnh vực từ công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ đến sinh hoạt hằng ngày của người dân đều phụ thuộc vào nguồn năng lượng này. Vì vậy, mỗi khi giá điện hoặc giá xăng dầu biến động, nền kinh tế thường chịu những tác động dây chuyền, ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí sản xuất, giá cả hàng hóa, sức mua của thị trường và tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Nông nghiệp xanh gắn với du lịch để phát triển kinh tế nông thôn

Nông nghiệp xanh gắn với du lịch để phát triển kinh tế nông thôn

Trong quá trình phát triển kinh tế gắn với yêu cầu bảo vệ môi trường và gìn giữ giá trị văn hóa bản địa, mô hình du lịch gắn với nông nghiệp xanh đang trở thành xu hướng được nhiều quốc gia và địa phương quan tâm. Việt Nam không nằm ngoài xu thế đó.
Hữu cơ hoá - Hướng đi bền vững cho nông nghiệp Tuyên Quang

Hữu cơ hoá - Hướng đi bền vững cho nông nghiệp Tuyên Quang

Nông nghiệp Tuyên Quang trước xu hướng hữu cơ hoá đang đứng trước những cơ hội lớn song cũng không ít thách thức. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, yêu cầu về an toàn thực phẩm ngày càng cao và sự dịch chuyển mạnh mẽ của thị trường tiêu dùng theo hướng xanh - sạch - bền vững, sản xuất nông nghiệp theo hướng hữu cơ không chỉ là xu thế tất yếu mà còn là con đường nâng cao giá trị gia tăng cho nông sản địa phương.
VOAA làm việc với Bộ Nông nghiệp và Môi trường về phát triển nông nghiệp hữu cơ

VOAA làm việc với Bộ Nông nghiệp và Môi trường về phát triển nông nghiệp hữu cơ

Sáng 05/03/2026, tại trụ sở Bộ Nông nghiệp và Môi trường, ông Trần Thanh Nam - Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì buổi làm việc với Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam (VOAA) nhằm rà soát thực trạng, thống nhất cách tiếp cận truyền thông và cơ chế phối hợp triển khai các nhiệm vụ phát triển nông nghiệp hữu cơ.
Nghệ An đặt “tam nông” vào vị trí chiến lược: Kiến tạo nền nông nghiệp xanh, hiện đại và bền vững

Nghệ An đặt “tam nông” vào vị trí chiến lược: Kiến tạo nền nông nghiệp xanh, hiện đại và bền vững

Với tầm nhìn tái cơ cấu toàn diện nền nông nghiệp theo hướng xanh, hữu cơ, tuần hoàn và ứng dụng công nghệ cao, tỉnh Nghệ An đang từng bước kiến tạo một nền nông nghiệp hiện đại, nâng cao giá trị gia tăng, sức cạnh tranh và phát triển bền vững trong giai đoạn mới.
Đẩy mạnh cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật trong nông nghiệp Việt Nam

Đẩy mạnh cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật trong nông nghiệp Việt Nam

Nông nghiệp từ lâu đã giữ vai trò nền tảng trong nền kinh tế Việt Nam. Là một quốc gia có truyền thống sản xuất nông nghiệp lâu đời, Việt Nam không chỉ đảm bảo an ninh lương thực cho gần 100 triệu dân mà còn trở thành một trong những nước xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới.
Phát huy vai trò “5 nhà” trong phát triển nông nghiệp bền vững

Phát huy vai trò “5 nhà” trong phát triển nông nghiệp bền vững

Ngày 2/3, đúng dịp kỷ niệm 33 năm Ngày thành lập Hệ thống Khuyến nông Việt Nam (2/3/1993 – 2/3/2026), Trung tâm Khuyến nông tỉnh Đắk Lắk tổ chức gặp mặt đầu xuân Bính Ngọ 2026, kết hợp tọa đàm với chủ đề: “Phát huy vai trò Trung tâm Khuyến nông trong liên kết ‘05 nhà’ phát triển nông nghiệp bền vững tại Đắk Lắk”.
Bảo vệ động vật hoang dã: Bảo vệ tương lai của nhân loại

Bảo vệ động vật hoang dã: Bảo vệ tương lai của nhân loại

Ngày Thế giới Bảo vệ Động vật Hoang dã (3/3) là dịp để cộng đồng quốc tế cùng nhìn lại trách nhiệm của mình đối với thiên nhiên và các loài sinh vật đang bị đe dọa. Ngày này được Liên Hợp Quốc chính thức thông qua vào năm 2013 và được tổ chức hằng năm vào 3/3 - trùng với ngày ký Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) năm 1973. Đây không chỉ là một sự kiện mang tính biểu tượng mà còn là lời kêu gọi hành động mạnh mẽ nhằm bảo tồn đa dạng sinh học toàn cầu.
Văn hoá Việt Nam - Cội nguồn sức mạnh dân tộc

Văn hoá Việt Nam - Cội nguồn sức mạnh dân tộc

Nền tảng cốt lõi của văn hoá Việt Nam được hình thành, bồi đắp và phát triển qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước. Trải qua biết bao biến thiên của thời cuộc, từ thời các vua Hùng dựng nước Văn Lang, qua những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, đến thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng hôm nay, văn hoá Việt Nam vẫn giữ được những giá trị bền vững, tạo nên bản sắc riêng không thể hoà lẫn. Những giá trị ấy chính là nền tảng tinh thần của dân tộc, là sợi dây gắn kết cộng đồng và là động lực nội sinh cho sự phát triển.
Khi nông dân và nhà khoa học cùng viết nên kỳ tích

Khi nông dân và nhà khoa học cùng viết nên kỳ tích

Năm 2025, trong dòng chảy đổi mới mạnh mẽ của nền nông nghiệp nước nhà, danh hiệu “Nông dân Việt Nam xuất sắc” và “Nhà khoa học của nhà nông” tiếp tục tỏa sáng như những biểu tượng sinh động của trí tuệ, bản lĩnh và khát vọng vươn lên. Đây không chỉ là những phần thưởng tôn vinh cá nhân tiêu biểu, mà còn là sự ghi nhận xứng đáng cho lớp người đang ngày đêm bám đất, bám đồng, làm chủ khoa học – công nghệ, góp phần đưa nông nghiệp Việt Nam chuyển mình theo hướng xanh, sạch và bền vững.
XEM THÊM
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2025 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính