Chủ nhật 24/05/2026 23:32Chủ nhật 24/05/2026 23:32 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Phát triển chè hữu cơ ở Thái Nguyên

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Trong tình hình người tiêu dùng rất lo ngại về thực phẩm không an toàn hiện nay, việc phát triển nông nghiệp hữu cơ (NNHC) là bước đi cần thiết và kịp thời cho nông nghiệp Việt Nam.
Phát triển chè hữu cơ ở Thái Nguyên
Vùng Chè đạt tiêu chuẩn hữu cơ tại THT Sản xuất chè Hữu cơ Sông Cầu (huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên).

Nông nghiệp Việt Nam đang đứng trước 2 thách thức vô cùng to lớn đó là an toàn vệ sinh thực phẩm và biến đổi khí hậu (BĐKH). Nếu BĐKH bắt buộc chúng ta phải triển khai nhanh một nền nông nghiệp thích ứng với môi trường mà cốt lõi là thay đổi cơ cấu cây trồng và phương pháp canh tác thích hợp với điều kiện mới do các yếu tố khí hậu, thời tiết thay đổi theo hướng cực đoan, thì thực phẩm không an toàn sẽ đem đến nhiều hệ lụy trầm trọng hơn vì đây là nguyên nhân phá hủy môi trường và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của nhiều thế hệ con cháu mai sau. Trong tình hình người tiêu dùng rất lo ngại về thực phẩm không an toàn hiện nay, việc phát triển Nông nghiệp hữu cơ (NNHC) là bước đi cần thiết và kịp thời cho nông nghiệp Việt Nam.

Tình hình sản xuất chè hữu cơ ở Thái Nguyên

Thái Nguyên là địa phương có nhiều tiềm năng, thế mạnh về sản xuất nông nghiệp, trong đó chè được xác định là cây trồng chủ lực có giá trị kinh tế cao. Năm 2024, tỉnh Thái Nguyên đã xây dựng được vùng sản xuất chè nguyên liệu với quy mô lớn gần 22.500 ha, sản lượng chè búp tươi đạt trên 267,5 nghìn tấn/năm, giá trị sản phẩm chè đạt 12,3 nghìn tỷ đồng. Tỉnh Thái Nguyên đã xác lập được quyền sở hữu trí tuệ đối với 13 sản phẩm chè bao gồm 1 chỉ dẫn địa lý, 10 nhãn hiệu tập thể và 2 nhãn hiệu chứng nhận. Nhãn hiệu tập thể “Chè Thái Nguyên” đã trở thành một thương hiệu nổi tiếng của Việt Nam và được bảo hộ tại 6 quốc gia và vùng lãnh thổ: Mỹ, Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và Đài Loan đã tạo ra rất nhiều cơ hội để sản phẩm chè Thái Nguyên phát triển cả về giá trị, chất lượng, uy tín thương hiệu và có sức cạnh tranh cao trên thị trường trong nước và quốc tế.

Trong đề án “Phát triển sản phẩm nông nghiệp chủ lực tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2021 – 2025, định hướng đến năm 2030” đã xác định Chè là sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tỉnh với các chỉ tiêu: diện tích chè đến năm 2025 là 23.500 ha (trong đó có 235 ha được cấp chứng nhận theo tiêu chuẩn hữu cơ, chiếm 1,0% diện tích) và đến năm 2030 là 24.500 ha (trong đó có 500 ha đạt tiêu chuẩn hữu cơ, chiếm 2,0% diện tích).

Thái Nguyên là tỉnh đầu tiên trong cả nước đã thực hiện sản xuất chè hữu cơ tại xã Tức Tranh, huyện Phú Lương từ những năm 1990 do các tổ chức NGO tài trợ nhưng ở quy mô nhỏ nên không phát triển. Từ năm 2020 đến nay, thực hiện phong trào sản xuất Nông nghiệp hữu cơ do Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam phát động, tỉnh Thái Nguyên đã có nhiều chính sách khuyến khích, hỗ trợ đầu tư sản xuất và tích cực vận động nông dân chuyển đổi diện tích chè đã đạt tiêu chuẩn VietGAP sang sản xuất theo tiêu chuẩn trồng trọt hữu cơ (TCVN 11041 – 2/2017). Với sự vào cuộc quyết liệt của các sở, ngành, các cấp chính quyền từ tỉnh, huyện đến cấp xã và sự đồng tình của người làm chè trên địa bàn tỉnh, đến năm 2024, diện tích chè đã được cấp chứng nhận VietGAP có 5140ha (chiếm 22,5%) và diện tích đã được cấp chứng nhận hữu cơ là 110ha (chiếm gần 0,5% so với tổng diện tích chè). Có thể nói đây là một trong những thành công nổi bật của ngành chè Thái Nguyên trong việc chuyển đổi nhận thức và phương thức canh tác của người làm chè theo áp dụng quy trình sản xuất an toàn, hữu cơ gắn với ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ trong các khâu sản xuất chè nguyên liệu, chế biến, thực hiện chuyển đổi số, truy xuất nguồn gốc và quảng bá, tiêu thụ sản phẩm.

Với 14 đơn vị thực hiện trên diện tích 110 ha chè đạt tiêu chuẩn hữu cơ và có sự tham gia của 349 hộ nông dân ở các THT, HTX và doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đã là những mô hình sản xuất chè có hiệu quả. Mặc dù trong giai đoạn chuyển đổi từ sản xuất thông thường sang sản xuất theo tiêu chuẩn hữu cơ, người sản xuất còn nhiều bỡ ngỡ, năng suất, sản lượng chè năm đầu chuyển đổi có bị giảm sút, tuy nhiên bù lại giá của sản phẩm được nâng cao 30 – 50%, đặc biệt sau thời gian chuyển đổi, cây chè được sử dụng phân bón hữu cơ vi sinh, phân hữu cơ tự chế biến… đã hồi phục, đất được cải tạo, mầu mỡ hơn, chất lượng chè được nâng cao và được tiêu thụ với giá cao hơn. Điều đó đã mang lại sự tin tưởng về phương thức canh tác bền vững của người dân trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ và mức độ tiêu thụ sản phẩm chè hữu cơ Thái Nguyên ngày càng nhiều trên thị trường trong nước.

Những thuận lợi, khó khăn, thách thức trong sản xuất chè hữu cơ ở Thái Nguyên

Thuận lợi và cơ hội

Kết quả đạt được sau 4 năm thực hiện sản xuất chè hữu cơ của tỉnh tuy còn hạn chế nhưng đó là sự chuyển đổi to lớn về nhận thức và phương thức canh tác của người làm chè Thái Nguyên. Để có được kết quả trên là do các yếu tố thuận lợi như sau:

- Cây chè gắn bó với người dân Thái Nguyên từ lâu đời, người dân có kinh nghiệm và truyền thống làm chè, nhất là trước đây là có thời gian dài chè là cây vườn nhà, phù hợp với canh tác hữu cơ. Cây chè có khả năng thích ứng rộng nên được trồng ở cả 9/9 huyện, thành phố của tỉnh Thái Nguyên. Nhiều vùng chè của Thái Nguyên có diện tích tương đối tập trung: Huyện Đại Từ, huyện Phú Lương, huyện Đồng Hỷ, huyện Định Hóa và TP. Thái Nguyên, nên dễ khoanh vùng, tạo vùng cách ly để có thể chuyển đổi từ sản xuất thông thường sang sản xuất hữu cơ.

- Đã có nhiều chính sách thúc đẩy NNHC: Chỉnh phủ đã có Nghị định 109/2018/NĐ-CP ngày 29/8/2018 về “Nông nghiệp hữu cơ” và Quyết định số 885/QĐ-TTg ngày 23/6/2020 phê duyệt đề án “Phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2020 – 2030” và đã có các tiêu chuẩn quốc gia: TCVN 11041 -2: 2017 về Trồng trọt hữu cơ và TCVN 11041 -6: 2018 về Chè Hữu cơ. Đồng thời tỉnh Thái Nguyên đã có đề án “Phát triển sản phẩm nông nghiệp chủ lực tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2021 – 2025, định hướng đến năm 2030”, trong đó có các nội dung và chính sách hỗ trợ cho phát triển chè hữu cơ.

- Khoa học công nghệ trong chọn tạo, nhân giống, sản xuất, chế biến chè hữu cơ ngày càng phát triển, nhất là tạo ra các vật tư đầu vào phục vụ cho canh tác chè đạt tiêu chuẩn hữu cơ trong nước và quốc tế. Do vậy công tác giống và kỹ thuật canh tác chè hữu cơ ở Thái Nguyên đã được nghiên cứu và ứng dụng: Sử dụng các bộ giống thích hợp cho sản xuất chè hữu cơ: Trung Du, LDP1,TRI777, các giống chè nhập nội chất lượng tốt đã được trồng lâu năm và thích nghi ở Thái Nguyên; các công nghệ tưới, che sáng, sử dụng phân hữu cơ sinh học thay thể cho phân khoáng, sử dụng nấm đối kháng, các chế phẩm sinh học… để phòng trừ sâu bệnh hại, đám bảo cho chất lượng sản phẩm chè hữu cơ và tính toàn vẹn của canh tác hữu cơ.

- Trước đây, tỉnh Thái Nguyên đã từng có các mô hình sản xuất chè hữu cơ với các hình thức tổ chức khác nhau: hộ gia đình, THT, doanh nghiệp thực hiện canh tác hữu cơ và được chứng nhận hữu cơ của các tổ chức chứng nhận quốc tế: IFOAM, ACT tạo tiền đề và cơ sở thực tiễn cho việc chuyển đổi sản xuất chè hữu cơ thành công.

- Hiện nay tỉnh Thái Nguyên đã có nhiều sản phẩm chè đạt tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP và chuẩn OCOP (3 – 5 sao) có giá trị và đã được thị trường biết đến, là điều kiện thuận lợi để có thể chuyển cấp sản phẩm sang sản phẩm chè Hữu cơ.

- Chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chè hữu cơ bước đầu được hình thành (18 chuỗi) với các tác nhân có trách nhiệm với sản phẩm hữu cơ tham gia, tạo điều kiện cho các sản phẩm chè hữu cơ có chỗ đứng trên thị trường nội địa và xuất khẩu.

- Sản phẩm chè hữu cơ có tiềm năng để đa dạng hóa sản phẩm, tạo các sản phẩm mới thích hợp với nhiều thị trường, nhiều ngành hàng: chè matcha, chè dược liệu…

Khó khăn và thách thức

Nhận thức về canh tác hữu cơ và sản phẩm chè hữu cơ còn hạn chế ở cả người sản xuất và nhà quản lý.

Quy mô sản xuất chè chủ yếu là hộ gia đình, nhiều vườn chè phân tán, xen kẽ với khu dân cư nên khó khăn cho việc tạo vùng sản xuất quy mô lớn, vùng cách ly, dẫn đến tính “Toàn vẹn hữu cơ” không đảm bảo trong sản xuất, thu hoạch và chế biến.

Năng suất và sản lượng chè khi chuyển đổi sang canh tác hữu cơ bị sụt giảm (30 – 40% so với sản xuất thông thường), mẫu mã sản phẩm chè kém (nhất là đối với dòng sản phẩm chè búp, chè nõn, chè đinh – là loại tiêu thụ chính trên thị trường nội địa), dẫn đến ảnh hưởng đến thu nhập của người sản xuất.

Người tiêu dùng chưa tin tưởng và khó phân biệt giữa sản phẩm sản xuất hữu cơ và các sản phẩm thông thường khác;

Nhân sự được đào tạo và có kinh nghiệm về sản xuất Nông nghiệp hữu cơ chưa nhiều.

Hạ tầng phụ trợ (chứng nhận, xúc tiến thương mại, cơ chế đầu tư, dịch vụ đầu vào cho sản xuất hữu cơ…) còn hạn chế.

Đòi hỏi ngày càng cao của người tiêu dùng về chất lượng, mẫu mã, chủng loại sản phẩm.

Rào cản thương mại về chất lượng sản phẩm chè hữu cơ trong nước và trên thế giới ngày càng khắt khe gây khó khăn cho tiêu thụ và xuất khẩu.

Yêu cầu về chứng nhận Hữu cơ quốc tế đối với các sản phẩm chè theo các tiêu chuẩn JAS, IFOAM, EU, USDA… rất chặt chẽ.

Các giải pháp trong phát triển chè hữu cơ trong thời gian tới

Chè là thức uống hàng ngày của người Việt, do vậy yêu cầu về sản phẩm sạch, an toàn, chất lượng lại càng cần thiết, các giải pháp chính trong phát triển sản xuất chè hữu cơ nói chung và chè hữu cơ của Thái Nguyên nói riêng là:

- Tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức chung của toàn xã hội về vai trò của sản xuất và sử dụng sản phẩm chè hữu cơ, từ đó thay đổi hành vi, có thói quen áp dụng sản xuất hữu cơ, sử dụng sản phẩm hữu cơ; thực hiện từng bước vững chắc, xây dựng mô hình điểm và nhân rộng.

- Các địa phương có điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất và chế biến chè hữu cơ cần lựa chọn và xác định đối tượng (giống chè) và vùng sản xuất chè hữu cơ (nên lựa chọn các giống chè đã được chọn tạo phù hợp với điều kiện của địa phương, chọn các vùng ít bị tác động bởi quá trình canh tác thâm canh, dễ cách ly)… để tổ chức thực hiện các mô hình sản xuất chè hữu cơ, lồng ghép sản xuất chè hữu cơ với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững.

- Bản thân các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, hộ gia đình, nông dân cần tư duy, đầu tư xây dựng và thực hiện các dự án, mô hình sản xuất và chế biến chè hữu cơ theo chuỗi giá trị phù hợp quy hoạch và đặc thù địa phương, trong đó doanh nghiệp phải trở thành nòng cốt dẫn dắt, đa dạng hóa nhiều sản phẩm chè hữu cơ mang lại hiệu quả kinh tế cao; chú trọng thực hiện theo tiêu chuẩn trong sản xuất, chế biến sản phẩm chè hữu cơ, đảm bảo chất lượng; chủ động trong xúc tiến thương mại, mở rộng hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực nghiên cứu, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chè hữu cơ.

- Nhà nước có chính sách và đầu tư có trọng tâm khoa học và công nghệ trong sản xuất và chế biến chè hữu cơ: như đào tạo nguồn nhân lực, các đề tài, dự án, chương trình khoa học có tính ứng dụng cao như công nghệ sinh học trong sản xuất chè hữu cơ, nghiên cứu quy trình canh tác, chế biến phù hợp; nghiên cứu các vật tư đầu vào phục vụ cho canh tác và chế biến chè hữu cơ: phân bón sinh học, thuốc bảo vệ thực vật sinh học. Nghiên cứu chọn tạo giống chè mới có năng suất, chất lượng cao, có khả năng chống chịu với dịch hại tốt, phù hợp với quy trình canh tác hữu cơ và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Phát triển nông nghiệp hữu cơ là xu hướng tất yếu, được thể hiện rõ trong Quyết định số 150/QĐ-Ttg ngày 28/01/2022 về Phê duyệt “Chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050” là “… Sản xuất nông nghiệp có trách nhiệm, hiện đại, hiệu quả và bền vững; phát triển nông nghiệp sinh thái, hữu cơ, tuần hoàn, phát thải các-bon thấp, thân thiện với môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu”. Thực hiện chiến lược này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả trong sản xuất chè, bảo vệ sức khỏe của người sản xuất và người tiêu dùng, tạo môi trường sinh thái, nâng cao thương hiệu sản phẩm “chè Thái Nguyên” ở trong nước và quốc tế.n

Bài liên quan

Thái Nguyên thúc đẩy phát triển ngành chè gắn với thương hiệu và chuyển đổi số

Thái Nguyên thúc đẩy phát triển ngành chè gắn với thương hiệu và chuyển đổi số

Nhân Ngày Chè thế giới 21/5, Hội Chè Thái Nguyên tổ chức Tọa đàm “Phát triển ngành chè Thái Nguyên gắn với xây dựng thương hiệu và chuyển đổi số”, nhằm trao đổi các giải pháp nâng cao chất lượng, giá trị và sức cạnh tranh của sản phẩm chè trong giai đoạn mới.
Khởi công tổ hợp sản xuất chè công nghệ cao và sân golf Quân Chu

Khởi công tổ hợp sản xuất chè công nghệ cao và sân golf Quân Chu

Sáng 19/5, tại xã Quân Chu, tỉnh Thái Nguyên diễn ra lễ khởi công Tổ hợp dự án sản xuất, chế biến chè công nghệ cao, vùng nguyên liệu chè hữu cơ và Khu tổ hợp văn hóa, thể dục thể thao sân golf Quân Chu. Đây là một trong những công trình trọng điểm của tỉnh được triển khai nhân dịp kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Phát triển chè hữu cơ, nâng tầm thương hiệu “Đệ nhất danh trà” Thái Nguyên

Phát triển chè hữu cơ, nâng tầm thương hiệu “Đệ nhất danh trà” Thái Nguyên

Ngày 16/5/2026, Chi hội Nông nghiệp Hữu cơ Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên phối hợp với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thái Nguyên tổ chức lớp tập huấn “Kỹ thuật sản xuất chè hữu cơ”. Chương trình nhằm cập nhật kiến thức về nông nghiệp hữu cơ, tiêu chuẩn chứng nhận, kỹ thuật canh tác chè hữu cơ và cơ chế chính sách, góp phần nâng cao chất lượng, giá trị và phát triển bền vững thương hiệu chè Thái Nguyên.
Đặc điểm hình thái giống đào Sớm Địa Linh tỉnh Thái Nguyên

Đặc điểm hình thái giống đào Sớm Địa Linh tỉnh Thái Nguyên

Giống đào Sớm Địa Linh (tại bản Váng, xã Địa Linh, huyện Ba Bể), nay là xã Chợ Rã, tỉnh Thái Nguyên có đặc điểm quả chín sớm nên ít bị sâu bệnh, cây 14 năm tuổi có năng suất cao, phẩm chất quả ngon, có vị ngọt pha chua hình dáng và mầu quả đẹp, có hương thơm, phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng. Giống đào Sớm Địa Linh thường bị một số đối tượng gây hại: sâu đục thân, sâu ăn lá, ruồi vàng hại quả và bệnh chảy gôm, thủng lá. Cần thường xuyên quan sát vườn cây, phát hiện và kịp thời phòng trừ. Địa phương cần có kế hoạch bảo tồn và phát triển giống đào Sớm Địa Linh góp phần phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

CÁC TIN BÀI KHÁC

Liên kết "3 nhà" trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành nông nghiệp

Liên kết "3 nhà" trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành nông nghiệp

Không thể phát triển theo cách riêng lẻ, Nhà nước, trường đại học và doanh nghiệp cần hình thành hệ sinh thái liên kết thực chất để đào tạo nhân lực, nghiên cứu khoa học và thương mại hóa công nghệ phục vụ phát triển nông nghiệp hiện đại, bền vững.
6 đặc điểm cốt lõi cấu thành nên diện mạo của nền kinh tế xanh hiện đại

6 đặc điểm cốt lõi cấu thành nên diện mạo của nền kinh tế xanh hiện đại

Trong điều kiện biến đổi khí hậu đang trở thành thách thức sống còn của nhân loại, khái niệm "Nền kinh tế xanh" (Green Economy) không còn là một lựa chọn mang tính lý thuyết mà đã trở thành mệnh lệnh cấp bách.
Phân hữu cơ từ thân chuối giúp cây khỏe, giảm sâu bệnh, tiết kiệm chi phí

Phân hữu cơ từ thân chuối giúp cây khỏe, giảm sâu bệnh, tiết kiệm chi phí

Tận dụng phụ phẩm từ quá trình sản xuất sợi chuối, mô hình sản xuất phân hữu cơ dạng lỏng tại An Giang bước đầu cho kết quả tích cực khi giúp nông dân giảm tới 90% chi phí phân bón, cải thiện chất lượng đất và thúc đẩy phát triển nông nghiệp tuần hoàn.
Nghiên cứu khoa học của WASI cần gắn chặt với nhu cầu thị trường

Nghiên cứu khoa học của WASI cần gắn chặt với nhu cầu thị trường

Trong chuyến công tác tại tỉnh Đắk Lắk, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng cùng đoàn công tác đã có buổi làm việc với Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên (WASI), nhằm đánh giá kết quả hoạt động và định hướng phát triển trong thời gian tới.
Giải pháp kiến tạo một thị trường tiêu dùng lành mạnh

Giải pháp kiến tạo một thị trường tiêu dùng lành mạnh

Nền kinh tế số đang phát triển như vũ bão, thị trường tiêu dùng trở nên sôi động và đa dạng hơn bao giờ hết. Người tiêu dùng có nhiều lựa chọn hơn, nhưng đồng thời cũng phải đối mặt với vô vàn rủi ro, từ hàng giả, hàng nhái, thông tin sai lệch cho đến các chiêu trò lừa đảo tinh vi.
"Đòn bẩy" hiện đại hóa ngành chăn nuôi Việt Nam

"Đòn bẩy" hiện đại hóa ngành chăn nuôi Việt Nam

Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (khóa XIII) về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia được ban hành trong khi ngành chăn nuôi Việt Nam đang đứng trước những yêu cầu cấp thiết về đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất và hội nhập quốc tế. Đây không chỉ là một văn bản định hướng chính sách mà còn là “kim chỉ nam” thúc đẩy quá trình hiện đại hóa toàn diện ngành chăn nuôi - từ phương thức sản xuất, quản trị chuỗi giá trị đến ứng dụng khoa học công nghệ và phát triển bền vững.
Tầm nhìn chiến lược khơi nguồn lực nâng tầm nông nghiệp Ninh Bình

Tầm nhìn chiến lược khơi nguồn lực nâng tầm nông nghiệp Ninh Bình

Ngày 29 tháng 4 năm 2026, HĐND tỉnh Ninh Bình khóa XVI đã thông qua Nghị quyết số 04/2026/NQ-HĐND quy định nội dung chi, mức hỗ trợ cho hoạt động khuyến nông địa phương. Đây là quyết sách đặc biệt quan trọng, thể hiện sự nhạy bén, kịp thời và tâm thế đồng hành sát sao của chính quyền tỉnh đối với sự nghiệp phát triển nông thôn, tạo ra hành lang pháp lý vững chắc để tiếp sức cho người nông dân trong kỷ nguyên số.
Nông nghiệp hữu cơ không chỉ là kỹ thuật, mà là niềm tin và kỷ luật cộng đồng

Nông nghiệp hữu cơ không chỉ là kỹ thuật, mà là niềm tin và kỷ luật cộng đồng

Sáng 10/5, trong khuôn khổ Khóa tập huấn Lãnh đạo Nông nghiệp Sinh thái và Hữu cơ (AOLC 2026), các học viên đã tham quan thực địa mô hình sản xuất rau hữu cơ của Liên nhóm hữu cơ Thanh Xuân tại xã Nội Bài, Hà Nội. Sau gần hai thập kỷ bền bỉ, mô hình này tiếp tục cho thấy vai trò quan trọng của cộng đồng, kỷ luật sản xuất và hệ thống bảo đảm có sự tham gia trong phát triển nông nghiệp hữu cơ.
Phục hồi rừng bản địa - những kết quả ban đầu và triển vọng phát triển

Phục hồi rừng bản địa - những kết quả ban đầu và triển vọng phát triển

Tại hội thảo, nhiều đại biểu khẳng định phục hồi rừng bản địa có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên và khả năng hấp thụ carbon...
Cao Bằng có đưa di sản văn hóa “múa rồng – kỳ lân” thành tài nguyên du lịch đặc sắc?

Cao Bằng có đưa di sản văn hóa “múa rồng – kỳ lân” thành tài nguyên du lịch đặc sắc?

Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống mở ra nhiều cơ hội cho phát triển kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực du lịch văn hoá. Tại Cao Bằng, múa rồng – kỳ lân là một loại hình nghệ thuật dân gian đặc sắc có lịch sử truyền thống văn hoá tồn tại qua nhiều thế hệ và gắn bó mật thiết với đời sống tinh thần của cộng đồng các dân tộc. Trong xu hướng phát triển du lịch văn hoá hiện nay, việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống, trong đó có nghệ thuật múa rồng – kỳ lân, để trở thành sản phẩm du lịch đặc trưng được xem là hướng đi quan trọng. Điều này không chỉ góp phần gìn giữ và lan toả những giá trị văn hoá truyền thống mà còn quảng bá hình ảnh, con người và bản sắc văn hoá Cao Bằng đến với du khách trong nước và quốc tế.
Công nghiệp văn hóa: Động cơ mới cho sự phát triển và quyền lực mềm

Công nghiệp văn hóa: Động cơ mới cho sự phát triển và quyền lực mềm

Trong thế kỷ XXI, khái niệm về sự giàu có của một quốc gia không còn chỉ đo lường bằng trữ lượng dầu mỏ, quặng sắt hay số lượng nhà máy sản xuất thép. Một loại hình kinh tế mới, dựa trên sức mạnh của sự sáng tạo, trí tuệ và bản sắc dân tộc, đang trỗi dậy mạnh mẽ: Công nghiệp văn hóa (Cultural Industries).
Khi người cao tuổi ‘thắp lửa’ kinh tế xanh

Khi người cao tuổi ‘thắp lửa’ kinh tế xanh

Nông nghiệp hữu cơ tuần hoàn đang trở thành hướng đi tất yếu để bảo vệ hành tinh và sức khỏe cộng đồng. Tại Phú Thọ, hình ảnh những người cao tuổi tiên phong khởi nghiệp xanh đã minh chứng cho sức mạnh của kinh nghiệm kết nối cùng khát vọng bền vững.
XEM THÊM
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2025 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính