Thứ sáu 29/05/2026 23:38Thứ sáu 29/05/2026 23:38 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Nông nghiệp hữu cơ: Thị trường, thách thức và giải pháp

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Gần đây chúng ta nói nhiều về nông nghiệp hữu cơ, được coi là một giải pháp tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, trong bối cảnh càng ngày chúng ta càng thấy nguy cơ hiện hữu của “canh tác hóa học”, khai thác đến suy kiệt đất đai, nguồn nước.

Đây là chủ trương đúng đắn, nhưng còn khá mới mẻ, vì lâu nay chúng ta tập trung làm nông nghiệp an toàn nhằm đảm bảo an ninh lương thực. Vì vậy, hiểu đúng bản chất của nông nghiệp hữu cơ, những khác biệt so với nông nghiệp an toàn, khó khăn thách thức, nhận diện thị trường, xu hướng phát triển để có bước giải pháp phù hợp là cần thiết.

Sự khác biệt giữa nông nghiệp hữu cơ và nông nghiệp an toàn

Sản phẩm nông nghiệp hữu cơ không chỉ tuyệt đối an toàn cho người mà còn chứa đựng nhiều giá trị nhân văn khác về bảo vệ môi trường, đa dạng sinh học, công bằng cho mọi sinh vật sống trong hệ sinh thái, bền vững cho hôm nay và mai sau. Nông nghiệp hữu cơ có nhiều đặc thù, khác biệt so với nông nghiệp an toàn:

Mô hình nhóm rau hữu cơ Xóm Mòng - Lương Sơn - Hòa Bình được PGS Việt Nam chứng nhận

Một là, cơ sở phải trải qua giai đoạn chuyển đổi sang sản xuất hữu cơ ít nhất 12 tháng đối với cây ngắn ngày, 18 tháng đối với cây dài ngày hoặc tối thiểu 6 tuần đối với gia cầm lấy trứng hoặc 12 tháng đối với trâu, bò… (dự thảo TCVN mới về nông nghiệp hữu cơ). Trong giai đoạn này, phải thực hiện đúng tiêu chuẩn nhưng sản phẩm lại chưa được coi là hữu cơ.

Hai là, không sử dụng thuốc trừ sâu bệnh, phân bón, thuốc trừ cỏ, chất bảo quản, chất phụ gia là hóa chất tổng hợp; thuốc kháng sinh, hoóc môn tăng trưởng; không sử dụng sản phẩm từ công nghệ biến đổi gen, công nghệ nano, xử lý chiếu xạ; chỉ dùng kháng sinh, thuốc thú y tổng hợp khi không còn cách nào khác và nếu sử dụng quá 1 lần cho vật nuôi có vòng đời dưới 1 năm thì sản phẩm đó không còn là hữu cơ…

Ba là, vật tư, công nghệ đầu vào trong sản xuất hữu cơ có nguồn gốc tự nhiên và theo danh mục tại tiêu chuẩn nông nghiệp hữu cơ; ưu tiên sử dụng nguồn hữu cơ tại chỗ (xác thực vật, phân động vật…) để duy trì độ phì của đất và cân bằng dinh dưỡng cho cây trồng.

Bốn là, quan tâm đến cuộc sống của các thành viên trong hệ sinh thái, như hệ vi sinh vật trong đất, loài thiên địch hay đảm bảo diện tích tối thiểu về đồng cỏ, nơi chăn thả, chuồng trại/đầu con; giảm đau đớn, căng thẳng cho con vật khi giết mổ…

Năm là, sản phẩm hữu cơ phải được chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn của tổ chức chứng nhận (bên thứ 3) hoặc của PGS - hệ thống bảo đảm cùng tham gia, áp dụng cho hộ nông dân và bán trong nước (Brazil, Ấn Độ thừa nhận).

Do yêu cầu rất cao như trên, nên sản xuất hữu cơ là khuyến khích, khác với sản xuất an toàn là bắt buộc. Gần đây, trên công luận có nói đến "sản xuất sạch", "sản phẩm sạch", tuy nhiên không có văn bản pháp lý nào quy định về điều này. Theo tôi nên thống nhất có 2 nhóm gồm sản phẩm an toàn (có 2 cấp độ: phù hợp quy chuẩn hoặc phù hợp VietGAP - khuyến khích, vì vẫn dùng hóa chất tổng hợp) và sản phẩm hữu cơ để người tiêu dùng dễ phân biệt. Không nên gọi "sản xuất theo hướng hữu cơ" đối với sản phẩm mới đáp ứng một số tiêu chí hữu cơ, chưa được chứng nhận, đây vẫn coi là sản phẩm an toàn.

Thách thức của nông nghiệp hữu cơ

Cần khẳng định làm nông nghiệp hữu cơ không dễ dàng, nhiều khó khăn và thách thức:

Một là, năng suất cây trồng, vật nuôi thấp hơn so với sản xuất an toàn, do không dùng phân bón hóa học, hoóc môn tăng trưởng, công nghệ gen, công nghệ na nô...

Hai là, đối mặt với dịch bệnh do không dùng thuốc bảo vệ thực vật; hạn chế tối đa dùng thuốc thú y, kháng sinh tổng hợp, trong khi cơ sở hữu cơ và không hữu cơ nằm liền kề, đan xen, mặc dù có vùng đệm nhưng nguy cơ lây truyền dịch bệnh là rất cao.

Ba là, sản xuất hữu cơ tốn nhiều công lao động hơn (thu gom xác thực vật, làm phân hữu cơ, làm cỏ, bẫy bả…),.

Bốn là, giá thành sản phẩm hữu cơ cao hơn đáng kể so với sản phẩm an toàn do năng suất thấp, chi phí cao (lao động thủ công, phí chứng nhận, diện tích chăn thả, chuồng trại/đầu con lớn hơn…) nên thị trường giới hạn là nhóm khách hàng có thu nhập cao.

Vì vậy, vấn đề an ninh lương thực cần được tính đến khi xác định quy mô, lộ trình phát triển nông nghiệp hữu cơ và chỉ sản xuất hữu cơ khi có thị trường, hiệu quả cao hơn.

Thị trường và xu thế của nông nghiệp hữu cơ

Cần khẳng định nông nghiệp hữu cơ là xu hướng tất yếu, ngày càng phát triển bởi vì nông nghiệp hữu cơ là loại hình nông nghiệp bền vững nhất. Thế giới ngày càng văn minh, người tiêu dùng không chỉ đòi hỏi cho mình mà còn cho thế hệ mai sau. Nhóm người tiêu dùng đó đang tăng dần và đó là lý do vì sao thị trường nông sản hữu cơ thế giới đang tăng trưởng mạnh mẽ.

Theo Viện nghiên cứu Nông nghiệp hữu cơ Quốc tế (FiBL) tổng giá trị của thị trường hữu cơ thế giới tăng bình quân 10 - 15% mỗi năm, từ 15,5 tỷ USD (1999) lên 28,7 tỷ USD (2004), 54,9 tỷ USD (2009), 63 tỉ USD (2012) và 80 tỉ USD (2014). Năm 2015 riêng thị trường thực phẩm và đồ uống đạt trên 81,6 tỷ USD, lớn nhất là Mỹ (27,1 tỷ USD), Đức (7,9 tỷ USD) và Pháp (4,8 tỷ USD)…

Ở trong nước, thị trường sản phẩm hữu cơ mới hình thành vài năm nay và đang tăng trưởng. Một bộ phận người tiêu dùng trung lưu ở thành phố, có nhu cầu sản phẩm hữu cơ, chủ yếu vì muốn đảm bảo an toàn thực phẩm. Một số mô hình hiệu quả như Rau hữu cơ PGS Thanh Xuân – Hà Nội, Lương Sơn, Tân Lạc – Hòa Bình, Văn Trác – Hà Nam; Ecolink-Ecomart, Oganic Đà Lạt, Phú Viễn - Cà Mau; TH (1.000 con bò sữa), Vinamilk (500 con bò sữa); lợn Bảo Châu, Hoa Viên (Hà Nội); nước giải khát TH Herbals…

Giải pháp phát triển nông nghiệp hữu cơ

Nông nghiệp hữu cơ nước ta đang ở giai đoạn ban đầu, để phát triển bền vững theo tôi nên triển khai các biện pháp sau:

Mô hình nhóm rau hữu cơ Thanh Thủy - Trác Văn - Duy Tiên - Hà Nam được PGS Việt Nam chứng nhận

Một là, xác định rõ khung pháp lý tại dự thảo Nghị định nông nghiệp hữu cơ. Sản xuất hữu cơ không bắt buộc nhưng do tính đặc thù, giá bán cao nên rất dễ bị lợi dụng, làm thị trường hữu cơ không minh bạch, vi phạm quyền người tiêu dùng. Vì vậy, sản xuất hữu cơ phải theo tiêu chuẩn được nhà nước chấp thuận, được chứng nhận phù hợp, có nhãn, lô gô minh bạch… Nhà nước cần ưu tiên cho cơ sở sản xuất hữu cơ được hưởng các chính sách đã ban hành và có chính sách đặc thù đối với hộ nông dân, hợp tác xã. Cần xử lý tình trạng “treo đầu dê, bán thịt chó”; bảo vệ người sản xuất hữu cơ chân chính, thị trường hữu cơ non trẻ.

Hai là, sớm ban hành TCVN mới về nông nghiệp hữu cơ (thay thế TCVN 1141:2015). Đây là quy định kỹ thuật rất quan trọng, tiếp cận, hài hòa tiêu chuẩn quốc tế, nhưng phải cụ thể, “Việt Nam hóa” để nông dân hiểu và áp dụng được. Việc rà soát, chỉnh sửa, đặc biệt là bổ sung vật tư đầu vào được phép sử dụng là rất cần thiết; cần đổi mới mà vẫn tuân thủ các nguyên tắc hữu cơ để năng suất hữu cơ cao hơn, chi phí thấp hơn.

Ba là, phát triển thị trường sản phẩm hữu cơ ở trong và ngoài nước. Thị trường không tự nhiên mà có nên rất cần vai trò của doanh nghiệp liên kết với nông dân, vai trò khâu nối của Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam. Nhà nước cần hỗ trợ phát triển thị trường, ví dụ hỗ trợ “bữa ăn hữu cơ” tại các trường học, nhà ăn công cộng, các điểm bán lẻ; đưa sản xuất hữu cơ vào chương trình giáo dục các cấp; hỗ trợ các chiến dịch truyền thông nâng cao nhận thức của người tiêu dùng… như kinh nghiệm của các nước .

Bốn là, ưu tiên những sản phẩm có giá trị gia tăng cao, sản phẩm đang có thị trường xuất khẩu lớn để từng bước chuyển một phần sang sản xuất hữu cơ. Bên cạnh thực phẩm hữu cơ (rau quả, gạo, tiêu, cà phê, chè, sữa, thịt, trứng, tôm, cá tra…) nên quan tâm đúng mức tới dược liệu, mỹ phẩm hữu cơ; không chỉ sản phẩm tươi, thô mà cần chế biến đa dạng để có giá trị cao hơn, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng.

Năm là, ưu tiên quy hoạch vùng có điều kiện đất đai, khí hậu thuận lợi cho đối tương cây trồng, vật nuôi sản xuất hữu cơ; lựa chọn loài cây trồng, vật nuôi và đầu tư nghiên cứu tạo giống mới thích ứng, chống chịu sâu bệnh, ngoại cảnh bất lợi tốt.

Sáu là, muốn có một ngành sản xuất hữu cơ lớn mạnh, cần khuyến khích sản xuất các vật tư đầu vào (hạt giống, con giống hữu cơ; phân bón hữu cơ, vi sinh vật có ích, thức ăn chăn nuôi, thủy sản hữu cơ, thuốc thảo mộc...).

Bảy là, nông nghiệp hữu cơ rất thân thiện với môi trường. Nhà nước nên chính thức chấp nhận sản xuất hữu cơ là hoạt động thân thiện với môi trường, sản phẩm hữu cơ có chứng nhận được gắn Nhãn xanh Việt Nam mà không cần thủ tục xét duyệt và được hưởng ưu đãi, hỗ trợ theo luật bảo vệ môi trường.

khuyennong.lamdong.gov.vn

Bài liên quan

Bài 3: Nông nghiệp hữu cơ ở Nghệ An: Khi ý chí vượt khó khăn

Bài 3: Nông nghiệp hữu cơ ở Nghệ An: Khi ý chí vượt khó khăn

Mặc dù còn nhiều “điểm nghẽn” cần gỡ…nhưng việc phát triển nông nghiệp hữu cơ không còn là lựa chọn mang tính thử nghiệm, mà đã trở thành một giải pháp chiến lược nhằm xây dựng nền nông nghiệp tỉnh Nghệ An bền vững, an toàn và có giá trị gia tăng cao, đáp ứng xu hướng tiêu dùng xanh - sạch
Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam: Khơi dậy tiềm năng xanh từ chính sách

Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam: Khơi dậy tiềm năng xanh từ chính sách

Nông nghiệp hữu cơ đang dần trở thành xu hướng tất yếu trên thế giới và Việt Nam cũng không nằm ngoài dòng chảy này. Với những chính sách hỗ trợ mạnh mẽ từ Chính phủ, đặc biệt là Nghị định số 109/2018/NĐ-CP về Nông nghiệp hữu cơ và Quyết định số 885/QĐ-TTg, cùng với sự vào cuộc của các địa phương, nông nghiệp hữu cơ Việt Nam được kỳ vọng sẽ phát triển vượt bậc trong giai đoạn 2025-2030, góp phần xây dựng nền nông nghiệp xanh, bền vững và hiện đại.
Đồng Tháp: Thành công bước đầu trên hành trình nông nghiệp hữu cơ

Đồng Tháp: Thành công bước đầu trên hành trình nông nghiệp hữu cơ

Nông nghiệp hữu cơ đang mang lại lợi ích kinh tế và môi trường cho Đồng Tháp, thể hiện qua các mô hình sản xuất thành công và tiềm năng phát triển lâu dài.
Khánh Hòa: Hướng tới nông nghiệp hữu cơ, nâng tầm giá trị

Khánh Hòa: Hướng tới nông nghiệp hữu cơ, nâng tầm giá trị

Nông nghiệp hữu cơ đang trở thành hướng đi tất yếu tại tỉnh Khánh Hòa, đặc biệt ở các huyện miền núi, mang lại lợi ích về sức khỏe, môi trường và kinh tế, mở ra tương lai tươi sáng cho nông nghiệp.
Công nghệ Hàn Quốc đổ bộ vào thị trường thiết bị nông nghiệp Việt Nam

Công nghệ Hàn Quốc đổ bộ vào thị trường thiết bị nông nghiệp Việt Nam

Hàn Quốc đang đẩy mạnh xuất khẩu thiết bị nông nghiệp sang Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang chuyển đổi sang nông nghiệp hữu cơ.
Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam: Làn gió mới cho bữa ăn sạch

Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam: Làn gió mới cho bữa ăn sạch

Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ với gần 500.000 ha sản xuất, đáp ứng nhu cầu sản phẩm sạch.

CÁC TIN BÀI KHÁC

Giữa hai vụ lúa ở Hải Phòng: Tận dụng "khoảng trống" sinh lời

Giữa hai vụ lúa ở Hải Phòng: Tận dụng "khoảng trống" sinh lời

Vụ lúa hè thu vừa khép lại, các cánh đồng tại Hải Phòng bước vào quỹ thời gian trống từ 60 đến 75 ngày trước khi bước vào vụ đông xuân. Với tư duy canh tác hiện đại, nhà nông đất Cảng không để đất "ngủ đông" mà chủ động đưa cây màu ngắn ngày vào xen canh, biến khoảng thời gian chuyển giao này thành vụ sản xuất đem lại giá trị kinh tế cao, đồng thời cải tạo đất toàn diện.
Tìm lời giải cho phát triển kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp Việt Nam

Tìm lời giải cho phát triển kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp Việt Nam

Ngày 26/5/2026, tại Hà Nội, Viện Chính sách Kinh tế môi trường phối hợp với UNDP Việt Nam và Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường tổ chức Tọa đàm "Thực trạng và triển vọng áp dụng kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp". Sự kiện góp phần nhận diện rõ hơn tiềm năng, điểm nghẽn và các giải pháp để đưa kinh tế tuần hoàn từ định hướng chính sách vào mô hình sản xuất nông nghiệp cụ thể, hiệu quả và bền vững.
Triển khai nhiều giải pháp phát triển thanh long bền vững

Triển khai nhiều giải pháp phát triển thanh long bền vững

Trước yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường xuất khẩu và những khó khăn trong sản xuất nông nghiệp hiện nay, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lâm Đồng đang triển khai nhiều giải pháp nhằm thúc đẩy sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu thanh long theo hướng bền vững, nâng cao giá trị sản phẩm và mở rộng thị trường tiêu thụ.
Đề án 885 về phát triển nông nghiệp hữu cơ: Cơ sở lý luận, thực tiễn triển khai và định hướng giải pháp

Đề án 885 về phát triển nông nghiệp hữu cơ: Cơ sở lý luận, thực tiễn triển khai và định hướng giải pháp

Tóm tắt: Phát triển nông nghiệp hữu cơ là xu hướng tất yếu trong bối cảnh biến đổi khí hậu, suy thoái tài nguyên và yêu cầu ngày càng cao về an toàn thực phẩm trên phạm vi toàn cầu. Tại Việt Nam, Đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2020–2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 885/QĐ-TTg (gọi tắt là Đề án 885) đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong định hướng phát triển nền nông nghiệp xanh, bền vững và hội nhập.
Giải bài toán mã số vùng trồng sầu riêng Tây Nguyên: Từ thực trạng xen canh cà phê đến yêu cầu luật hóa

Giải bài toán mã số vùng trồng sầu riêng Tây Nguyên: Từ thực trạng xen canh cà phê đến yêu cầu luật hóa

Ngành hàng xuất khẩu sầu riêng Việt Nam đang bước vào một kỷ nguyên mới đầy nghiêm ngặt. Theo Lệnh số 280 của Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC) chính thức có hiệu lực từ ngày 01/06/2026 (thay thế Lệnh 248 cũ), hệ thống quản lý đã chuyển dịch mạnh mẽ sang cơ chế đánh giá rủi ro toàn diện. Quy định này thắt chặt kiểm soát từ quy trình sản xuất, lịch sử tuân thủ an toàn thực phẩm cho đến mã số vùng trồng (MSVT) và cơ sở đóng gói. Tại "thủ phủ" Tây Nguyên, nơi sầu riêng mang lại giá trị kinh tế "khổng lồ" nhưng phần lớn lại được canh tác dưới hình thức xen canh trong vườn cà phê, việc chuẩn hóa MSVT theo mô hình hữu cơ an toàn đang trở thành bài toán sinh tử của cả ngành hàng.
Ngành hàng hữu cơ Việt Nam trước “làn sóng” tiêu chuẩn mới toàn cầu

Ngành hàng hữu cơ Việt Nam trước “làn sóng” tiêu chuẩn mới toàn cầu

Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, nhu cầu tiêu dùng thực phẩm xanh, an toàn và bền vững tại châu Âu và Hoa Kỳ vẫn tiếp tục tăng, mở ra cơ hội lớn cho nông sản hữu cơ Việt Nam mở rộng thị trường xuất khẩu. Nhưng cùng với đó, các tiêu chuẩn về truy xuất nguồn gốc, trách nhiệm môi trường và tính minh bạch trong chuỗi cung ứng cũng đang siết chặt hơn bao giờ hết.
Xâm nhập mặn và những tác động nghiêm trọng đối với an ninh lương thực và nông nghiệp

Xâm nhập mặn và những tác động nghiêm trọng đối với an ninh lương thực và nông nghiệp

Xâm nhập mặn (hay ngập mặn) là một trong những thách thức nghiêm trọng nhất đối với ngành nông nghiệp, đặc biệt là tại các vùng đồng bằng hạ lưu sông như Đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam.
ĐH Nông Lâm - ĐH Huế tăng cường hợp tác phát triển nông nghiệp hiện đại, bền vững

ĐH Nông Lâm - ĐH Huế tăng cường hợp tác phát triển nông nghiệp hiện đại, bền vững

Sự đồng hành giữa Nhà trường và doanh nghiệp được kỳ vọng sẽ mở ra nhiều cơ hội học tập, thực tập, việc làm cho sinh viên, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo
Liên kết "3 nhà" trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành nông nghiệp

Liên kết "3 nhà" trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành nông nghiệp

Không thể phát triển theo cách riêng lẻ, Nhà nước, trường đại học và doanh nghiệp cần hình thành hệ sinh thái liên kết thực chất để đào tạo nhân lực, nghiên cứu khoa học và thương mại hóa công nghệ phục vụ phát triển nông nghiệp hiện đại, bền vững.
6 đặc điểm cốt lõi cấu thành nên diện mạo của nền kinh tế xanh hiện đại

6 đặc điểm cốt lõi cấu thành nên diện mạo của nền kinh tế xanh hiện đại

Trong điều kiện biến đổi khí hậu đang trở thành thách thức sống còn của nhân loại, khái niệm "Nền kinh tế xanh" (Green Economy) không còn là một lựa chọn mang tính lý thuyết mà đã trở thành mệnh lệnh cấp bách.
Phân hữu cơ từ thân chuối giúp cây khỏe, giảm sâu bệnh, tiết kiệm chi phí

Phân hữu cơ từ thân chuối giúp cây khỏe, giảm sâu bệnh, tiết kiệm chi phí

Tận dụng phụ phẩm từ quá trình sản xuất sợi chuối, mô hình sản xuất phân hữu cơ dạng lỏng tại An Giang bước đầu cho kết quả tích cực khi giúp nông dân giảm tới 90% chi phí phân bón, cải thiện chất lượng đất và thúc đẩy phát triển nông nghiệp tuần hoàn.
Nghiên cứu khoa học của WASI cần gắn chặt với nhu cầu thị trường

Nghiên cứu khoa học của WASI cần gắn chặt với nhu cầu thị trường

Trong chuyến công tác tại tỉnh Đắk Lắk, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng cùng đoàn công tác đã có buổi làm việc với Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên (WASI), nhằm đánh giá kết quả hoạt động và định hướng phát triển trong thời gian tới.
XEM THÊM
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2025 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính