Thứ sáu 17/04/2026 20:00Thứ sáu 17/04/2026 20:00 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Nông nghiệp hữu cơ: Thị trường, thách thức và giải pháp

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Gần đây chúng ta nói nhiều về nông nghiệp hữu cơ, được coi là một giải pháp tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, trong bối cảnh càng ngày chúng ta càng thấy nguy cơ hiện hữu của “canh tác hóa học”, khai thác đến suy kiệt đất đai, nguồn nước.

Đây là chủ trương đúng đắn, nhưng còn khá mới mẻ, vì lâu nay chúng ta tập trung làm nông nghiệp an toàn nhằm đảm bảo an ninh lương thực. Vì vậy, hiểu đúng bản chất của nông nghiệp hữu cơ, những khác biệt so với nông nghiệp an toàn, khó khăn thách thức, nhận diện thị trường, xu hướng phát triển để có bước giải pháp phù hợp là cần thiết.

Sự khác biệt giữa nông nghiệp hữu cơ và nông nghiệp an toàn

Sản phẩm nông nghiệp hữu cơ không chỉ tuyệt đối an toàn cho người mà còn chứa đựng nhiều giá trị nhân văn khác về bảo vệ môi trường, đa dạng sinh học, công bằng cho mọi sinh vật sống trong hệ sinh thái, bền vững cho hôm nay và mai sau. Nông nghiệp hữu cơ có nhiều đặc thù, khác biệt so với nông nghiệp an toàn:

Mô hình nhóm rau hữu cơ Xóm Mòng - Lương Sơn - Hòa Bình được PGS Việt Nam chứng nhận

Một là, cơ sở phải trải qua giai đoạn chuyển đổi sang sản xuất hữu cơ ít nhất 12 tháng đối với cây ngắn ngày, 18 tháng đối với cây dài ngày hoặc tối thiểu 6 tuần đối với gia cầm lấy trứng hoặc 12 tháng đối với trâu, bò… (dự thảo TCVN mới về nông nghiệp hữu cơ). Trong giai đoạn này, phải thực hiện đúng tiêu chuẩn nhưng sản phẩm lại chưa được coi là hữu cơ.

Hai là, không sử dụng thuốc trừ sâu bệnh, phân bón, thuốc trừ cỏ, chất bảo quản, chất phụ gia là hóa chất tổng hợp; thuốc kháng sinh, hoóc môn tăng trưởng; không sử dụng sản phẩm từ công nghệ biến đổi gen, công nghệ nano, xử lý chiếu xạ; chỉ dùng kháng sinh, thuốc thú y tổng hợp khi không còn cách nào khác và nếu sử dụng quá 1 lần cho vật nuôi có vòng đời dưới 1 năm thì sản phẩm đó không còn là hữu cơ…

Ba là, vật tư, công nghệ đầu vào trong sản xuất hữu cơ có nguồn gốc tự nhiên và theo danh mục tại tiêu chuẩn nông nghiệp hữu cơ; ưu tiên sử dụng nguồn hữu cơ tại chỗ (xác thực vật, phân động vật…) để duy trì độ phì của đất và cân bằng dinh dưỡng cho cây trồng.

Bốn là, quan tâm đến cuộc sống của các thành viên trong hệ sinh thái, như hệ vi sinh vật trong đất, loài thiên địch hay đảm bảo diện tích tối thiểu về đồng cỏ, nơi chăn thả, chuồng trại/đầu con; giảm đau đớn, căng thẳng cho con vật khi giết mổ…

Năm là, sản phẩm hữu cơ phải được chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn của tổ chức chứng nhận (bên thứ 3) hoặc của PGS - hệ thống bảo đảm cùng tham gia, áp dụng cho hộ nông dân và bán trong nước (Brazil, Ấn Độ thừa nhận).

Do yêu cầu rất cao như trên, nên sản xuất hữu cơ là khuyến khích, khác với sản xuất an toàn là bắt buộc. Gần đây, trên công luận có nói đến "sản xuất sạch", "sản phẩm sạch", tuy nhiên không có văn bản pháp lý nào quy định về điều này. Theo tôi nên thống nhất có 2 nhóm gồm sản phẩm an toàn (có 2 cấp độ: phù hợp quy chuẩn hoặc phù hợp VietGAP - khuyến khích, vì vẫn dùng hóa chất tổng hợp) và sản phẩm hữu cơ để người tiêu dùng dễ phân biệt. Không nên gọi "sản xuất theo hướng hữu cơ" đối với sản phẩm mới đáp ứng một số tiêu chí hữu cơ, chưa được chứng nhận, đây vẫn coi là sản phẩm an toàn.

Thách thức của nông nghiệp hữu cơ

Cần khẳng định làm nông nghiệp hữu cơ không dễ dàng, nhiều khó khăn và thách thức:

Một là, năng suất cây trồng, vật nuôi thấp hơn so với sản xuất an toàn, do không dùng phân bón hóa học, hoóc môn tăng trưởng, công nghệ gen, công nghệ na nô...

Hai là, đối mặt với dịch bệnh do không dùng thuốc bảo vệ thực vật; hạn chế tối đa dùng thuốc thú y, kháng sinh tổng hợp, trong khi cơ sở hữu cơ và không hữu cơ nằm liền kề, đan xen, mặc dù có vùng đệm nhưng nguy cơ lây truyền dịch bệnh là rất cao.

Ba là, sản xuất hữu cơ tốn nhiều công lao động hơn (thu gom xác thực vật, làm phân hữu cơ, làm cỏ, bẫy bả…),.

Bốn là, giá thành sản phẩm hữu cơ cao hơn đáng kể so với sản phẩm an toàn do năng suất thấp, chi phí cao (lao động thủ công, phí chứng nhận, diện tích chăn thả, chuồng trại/đầu con lớn hơn…) nên thị trường giới hạn là nhóm khách hàng có thu nhập cao.

Vì vậy, vấn đề an ninh lương thực cần được tính đến khi xác định quy mô, lộ trình phát triển nông nghiệp hữu cơ và chỉ sản xuất hữu cơ khi có thị trường, hiệu quả cao hơn.

Thị trường và xu thế của nông nghiệp hữu cơ

Cần khẳng định nông nghiệp hữu cơ là xu hướng tất yếu, ngày càng phát triển bởi vì nông nghiệp hữu cơ là loại hình nông nghiệp bền vững nhất. Thế giới ngày càng văn minh, người tiêu dùng không chỉ đòi hỏi cho mình mà còn cho thế hệ mai sau. Nhóm người tiêu dùng đó đang tăng dần và đó là lý do vì sao thị trường nông sản hữu cơ thế giới đang tăng trưởng mạnh mẽ.

Theo Viện nghiên cứu Nông nghiệp hữu cơ Quốc tế (FiBL) tổng giá trị của thị trường hữu cơ thế giới tăng bình quân 10 - 15% mỗi năm, từ 15,5 tỷ USD (1999) lên 28,7 tỷ USD (2004), 54,9 tỷ USD (2009), 63 tỉ USD (2012) và 80 tỉ USD (2014). Năm 2015 riêng thị trường thực phẩm và đồ uống đạt trên 81,6 tỷ USD, lớn nhất là Mỹ (27,1 tỷ USD), Đức (7,9 tỷ USD) và Pháp (4,8 tỷ USD)…

Ở trong nước, thị trường sản phẩm hữu cơ mới hình thành vài năm nay và đang tăng trưởng. Một bộ phận người tiêu dùng trung lưu ở thành phố, có nhu cầu sản phẩm hữu cơ, chủ yếu vì muốn đảm bảo an toàn thực phẩm. Một số mô hình hiệu quả như Rau hữu cơ PGS Thanh Xuân – Hà Nội, Lương Sơn, Tân Lạc – Hòa Bình, Văn Trác – Hà Nam; Ecolink-Ecomart, Oganic Đà Lạt, Phú Viễn - Cà Mau; TH (1.000 con bò sữa), Vinamilk (500 con bò sữa); lợn Bảo Châu, Hoa Viên (Hà Nội); nước giải khát TH Herbals…

Giải pháp phát triển nông nghiệp hữu cơ

Nông nghiệp hữu cơ nước ta đang ở giai đoạn ban đầu, để phát triển bền vững theo tôi nên triển khai các biện pháp sau:

Mô hình nhóm rau hữu cơ Thanh Thủy - Trác Văn - Duy Tiên - Hà Nam được PGS Việt Nam chứng nhận

Một là, xác định rõ khung pháp lý tại dự thảo Nghị định nông nghiệp hữu cơ. Sản xuất hữu cơ không bắt buộc nhưng do tính đặc thù, giá bán cao nên rất dễ bị lợi dụng, làm thị trường hữu cơ không minh bạch, vi phạm quyền người tiêu dùng. Vì vậy, sản xuất hữu cơ phải theo tiêu chuẩn được nhà nước chấp thuận, được chứng nhận phù hợp, có nhãn, lô gô minh bạch… Nhà nước cần ưu tiên cho cơ sở sản xuất hữu cơ được hưởng các chính sách đã ban hành và có chính sách đặc thù đối với hộ nông dân, hợp tác xã. Cần xử lý tình trạng “treo đầu dê, bán thịt chó”; bảo vệ người sản xuất hữu cơ chân chính, thị trường hữu cơ non trẻ.

Hai là, sớm ban hành TCVN mới về nông nghiệp hữu cơ (thay thế TCVN 1141:2015). Đây là quy định kỹ thuật rất quan trọng, tiếp cận, hài hòa tiêu chuẩn quốc tế, nhưng phải cụ thể, “Việt Nam hóa” để nông dân hiểu và áp dụng được. Việc rà soát, chỉnh sửa, đặc biệt là bổ sung vật tư đầu vào được phép sử dụng là rất cần thiết; cần đổi mới mà vẫn tuân thủ các nguyên tắc hữu cơ để năng suất hữu cơ cao hơn, chi phí thấp hơn.

Ba là, phát triển thị trường sản phẩm hữu cơ ở trong và ngoài nước. Thị trường không tự nhiên mà có nên rất cần vai trò của doanh nghiệp liên kết với nông dân, vai trò khâu nối của Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam. Nhà nước cần hỗ trợ phát triển thị trường, ví dụ hỗ trợ “bữa ăn hữu cơ” tại các trường học, nhà ăn công cộng, các điểm bán lẻ; đưa sản xuất hữu cơ vào chương trình giáo dục các cấp; hỗ trợ các chiến dịch truyền thông nâng cao nhận thức của người tiêu dùng… như kinh nghiệm của các nước .

Bốn là, ưu tiên những sản phẩm có giá trị gia tăng cao, sản phẩm đang có thị trường xuất khẩu lớn để từng bước chuyển một phần sang sản xuất hữu cơ. Bên cạnh thực phẩm hữu cơ (rau quả, gạo, tiêu, cà phê, chè, sữa, thịt, trứng, tôm, cá tra…) nên quan tâm đúng mức tới dược liệu, mỹ phẩm hữu cơ; không chỉ sản phẩm tươi, thô mà cần chế biến đa dạng để có giá trị cao hơn, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng.

Năm là, ưu tiên quy hoạch vùng có điều kiện đất đai, khí hậu thuận lợi cho đối tương cây trồng, vật nuôi sản xuất hữu cơ; lựa chọn loài cây trồng, vật nuôi và đầu tư nghiên cứu tạo giống mới thích ứng, chống chịu sâu bệnh, ngoại cảnh bất lợi tốt.

Sáu là, muốn có một ngành sản xuất hữu cơ lớn mạnh, cần khuyến khích sản xuất các vật tư đầu vào (hạt giống, con giống hữu cơ; phân bón hữu cơ, vi sinh vật có ích, thức ăn chăn nuôi, thủy sản hữu cơ, thuốc thảo mộc...).

Bảy là, nông nghiệp hữu cơ rất thân thiện với môi trường. Nhà nước nên chính thức chấp nhận sản xuất hữu cơ là hoạt động thân thiện với môi trường, sản phẩm hữu cơ có chứng nhận được gắn Nhãn xanh Việt Nam mà không cần thủ tục xét duyệt và được hưởng ưu đãi, hỗ trợ theo luật bảo vệ môi trường.

khuyennong.lamdong.gov.vn

Bài liên quan

Bài 3: Nông nghiệp hữu cơ ở Nghệ An: Khi ý chí vượt khó khăn

Bài 3: Nông nghiệp hữu cơ ở Nghệ An: Khi ý chí vượt khó khăn

Mặc dù còn nhiều “điểm nghẽn” cần gỡ…nhưng việc phát triển nông nghiệp hữu cơ không còn là lựa chọn mang tính thử nghiệm, mà đã trở thành một giải pháp chiến lược nhằm xây dựng nền nông nghiệp tỉnh Nghệ An bền vững, an toàn và có giá trị gia tăng cao, đáp ứng xu hướng tiêu dùng xanh - sạch
Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam: Khơi dậy tiềm năng xanh từ chính sách

Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam: Khơi dậy tiềm năng xanh từ chính sách

Nông nghiệp hữu cơ đang dần trở thành xu hướng tất yếu trên thế giới và Việt Nam cũng không nằm ngoài dòng chảy này. Với những chính sách hỗ trợ mạnh mẽ từ Chính phủ, đặc biệt là Nghị định số 109/2018/NĐ-CP về Nông nghiệp hữu cơ và Quyết định số 885/QĐ-TTg, cùng với sự vào cuộc của các địa phương, nông nghiệp hữu cơ Việt Nam được kỳ vọng sẽ phát triển vượt bậc trong giai đoạn 2025-2030, góp phần xây dựng nền nông nghiệp xanh, bền vững và hiện đại.
Đồng Tháp: Thành công bước đầu trên hành trình nông nghiệp hữu cơ

Đồng Tháp: Thành công bước đầu trên hành trình nông nghiệp hữu cơ

Nông nghiệp hữu cơ đang mang lại lợi ích kinh tế và môi trường cho Đồng Tháp, thể hiện qua các mô hình sản xuất thành công và tiềm năng phát triển lâu dài.
Khánh Hòa: Hướng tới nông nghiệp hữu cơ, nâng tầm giá trị

Khánh Hòa: Hướng tới nông nghiệp hữu cơ, nâng tầm giá trị

Nông nghiệp hữu cơ đang trở thành hướng đi tất yếu tại tỉnh Khánh Hòa, đặc biệt ở các huyện miền núi, mang lại lợi ích về sức khỏe, môi trường và kinh tế, mở ra tương lai tươi sáng cho nông nghiệp.
Công nghệ Hàn Quốc đổ bộ vào thị trường thiết bị nông nghiệp Việt Nam

Công nghệ Hàn Quốc đổ bộ vào thị trường thiết bị nông nghiệp Việt Nam

Hàn Quốc đang đẩy mạnh xuất khẩu thiết bị nông nghiệp sang Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang chuyển đổi sang nông nghiệp hữu cơ.
Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam: Làn gió mới cho bữa ăn sạch

Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam: Làn gió mới cho bữa ăn sạch

Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ với gần 500.000 ha sản xuất, đáp ứng nhu cầu sản phẩm sạch.

CÁC TIN BÀI KHÁC

Nghiên cứu xây dựng công thức ủ thân chuối thải loại sau thu hoạch thành phân bón hữu cơ chất lượng cao

Nghiên cứu xây dựng công thức ủ thân chuối thải loại sau thu hoạch thành phân bón hữu cơ chất lượng cao

Nghiên cứu tập trung vào việc tận dụng thân chuối thải loại để sản xuất phân bón hữu cơ, góp phần giảm chất thải nông nghiệp tại Việt Nam. Nguyên liệu sử dụng trong nghiên cứu là thân chuối sau thu hoạch được lấy từ vườn chuối ogarnic của hộ gia đình chị Lê Tuyết Mai tại xã Xuyên Mộc, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ẩm thực chay: Lựa chọn xanh hướng tới lối sống bền vững

Ẩm thực chay: Lựa chọn xanh hướng tới lối sống bền vững

Sự quan tâm đến sức khỏe đang thúc đẩy xu hướng ăn chay trở nên phổ biến rộng rãi trong xã hội hiện đại. Tại các thành phố lớn, nhiều người tìm đến chế độ thuần ăn thực vật với kỳ vọng cải thiện sức khỏe và góp phần điều trị một số bệnh lý. Tuy nhiên, hành trình này thường đối mặt với những thách thức đáng kể, xuất phát từ sự thiếu hụt kiến thức và kinh nghiệm.
Công nghệ xanh và sinh học - Động lực cho tương lai phát triển

Công nghệ xanh và sinh học - Động lực cho tương lai phát triển

Trong bối cảnh thế giới đang đối mặt với hàng loạt thách thức như biến đổi khí hậu, cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường và dịch bệnh toàn cầu, hai lĩnh vực Công nghệ xanh và Công nghệ sinh học đang nổi lên như những trụ cột chiến lược, định hình tương lai phát triển dài hạn của nhân loại. Không chỉ mang lại giải pháp cho các vấn đề cấp bách, hai lĩnh vực này còn mở ra một mô hình phát triển mới - hài hòa giữa kinh tế, môi trường và con người.
Công nghệ truy xuất nguồn gốc: “Tấm hộ chiếu” minh bạch cho nông sản du lịch

Công nghệ truy xuất nguồn gốc: “Tấm hộ chiếu” minh bạch cho nông sản du lịch

Trong kỷ nguyên số, khi người tiêu dùng không chỉ ăn bằng vị giác mà còn bằng niềm tin, do vậy việc ứng dụng công nghệ truy xuất nguồn gốc (TXNG) như QR Code hay Blockchain không còn là một lựa chọn cộng thêm, mà đã trở thành xu hướng tất yếu - một “tấm hộ chiếu” quyền lực giúp nông sản tự tin bước vào thị trường du lịch cao cấp.
Triển khai thực hiện Chiến lược Sở hữu trí tuệ đến năm 2030: Động lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển

Triển khai thực hiện Chiến lược Sở hữu trí tuệ đến năm 2030: Động lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển

Trong bối cảnh kinh tế tri thức và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang phát triển mạnh mẽ, sở hữu trí tuệ (SHTT) ngày càng trở thành nguồn lực quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Giải pháp tạo nguồn thực phẩm sạch cho phát triển du lịch

Giải pháp tạo nguồn thực phẩm sạch cho phát triển du lịch

Hiện nay, ẩm thực ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên bản sắc của du lịch Việt Nam. Không chỉ dừng lại ở việc thưởng thức món ăn, du khách ngày nay quan tâm nhiều hơn đến nguồn gốc nguyên liệu, quy trình sản xuất và mức độ an toàn của thực phẩm. Do đó cần nhìn nhận rõ vai trò, đánh giá đúng thực trạng nguồn cung thực phẩm sạch để có những giải pháp phát triển phù hợp.
Thuyết di truyền Mendel - Nền tảng của di truyền học hiện đại

Thuyết di truyền Mendel - Nền tảng của di truyền học hiện đại

Thuyết di truyền của Gregor Mendel được xem là nền tảng của di truyền học hiện đại, mở ra một cách hiểu hoàn toàn mới về cách các đặc điểm sinh học được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Dù được công bố từ giữa thế kỷ XIX, những phát hiện của Mendel vẫn giữ nguyên giá trị khoa học và được ứng dụng rộng rãi trong nông nghiệp, y học và công nghệ sinh học ngày nay.
Du lịch xanh cần “chuẩn hóa” thực phẩm sạch

Du lịch xanh cần “chuẩn hóa” thực phẩm sạch

Du lịch xanh không thể chỉ được đo bằng cảnh quan trong lành, vật liệu thân thiện với môi trường hay những khẩu hiệu giảm phát thải. Với du khách, “màu xanh” của một điểm đến còn nằm ngay trong bữa ăn hằng ngày - thực phẩm có an toàn hay không, có minh bạch nguồn gốc hay không, có được kiểm soát xuyên suốt từ vùng nguyên liệu đến bàn ăn hay không. Khi khái niệm “thực phẩm sạch” vẫn còn được hiểu theo nhiều cách khác nhau, việc chuẩn hóa từ tiêu chuẩn, chứng nhận đến truy xuất và hậu kiểm đang trở thành yêu cầu cấp thiết để du lịch xanh phát triển đúng nghĩa và bền vững.
Đảm bảo an toàn thực phẩm mùa lễ hội: Đồng bộ nhiều giải pháp

Đảm bảo an toàn thực phẩm mùa lễ hội: Đồng bộ nhiều giải pháp

Mùa lễ hội đầu năm luôn là thời điểm sôi động của đời sống văn hóa - xã hội tại Việt Nam. Từ các lễ hội truyền thống ở làng quê đến những sự kiện văn hóa, du lịch quy mô lớn, hàng triệu người dân và du khách cùng tham gia, kéo theo nhu cầu tiêu dùng thực phẩm tăng mạnh. Tuy nhiên, bên cạnh không khí vui tươi và giá trị văn hóa đặc sắc, vấn đề an toàn thực phẩm trong mùa lễ hội luôn là mối lo thường trực của xã hội. Trong bối cảnh lượng thực phẩm tiêu thụ lớn, hoạt động kinh doanh mang tính thời vụ và điều kiện kiểm soát còn nhiều hạn chế, nguy cơ mất an toàn thực phẩm có thể gia tăng nếu không có những giải pháp quản lý và nâng cao nhận thức kịp thời.
Lúa mì (tiểu mạch) - Nền tảng của văn minh nông nghiệp nhân loại

Lúa mì (tiểu mạch) - Nền tảng của văn minh nông nghiệp nhân loại

Lúa mì, hay còn gọi là tiểu mạch, có tên khoa học là Triticum spp., là một trong những cây lương thực quan trọng nhất của nhân loại. Cùng với lúa gạo và ngô, lúa mì tạo thành “bộ ba” cây trồng nuôi sống phần lớn dân số thế giới. Không chỉ là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu, lúa mì còn gắn liền với lịch sử phát triển của các nền văn minh cổ đại và hiện đại.
Chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi, hướng tới phát triển nông nghiệp bền vững

Chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi, hướng tới phát triển nông nghiệp bền vững

Sáng 07/4, UBND xã Yên Phú, tỉnh Tuyên Quang tổ chức Hội nghị tọa đàm định hướng chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi, hướng tới phát triển nông nghiệp bền vững năm 2026. Tọa đàm không chỉ là dịp để địa phương xác định hướng đi mới cho sản xuất nông nghiệp, mà còn làm rõ thực trạng sản xuất nông, lâm nghiệp, chăn nuôi, thủy sản, chỉ ra những khó khăn, hạn chế và gợi mở các giải pháp phát huy tiềm năng, lợi thế địa phương trong giai đoạn tới.
Ngô, khoai, sắn - “bệ đỡ” thầm lặng của an ninh lương thực Việt Nam

Ngô, khoai, sắn - “bệ đỡ” thầm lặng của an ninh lương thực Việt Nam

Ngô, khoai và sắn là ba loại cây trồng quen thuộc, gắn bó lâu đời với sản xuất nông nghiệp và đời sống người dân Việt Nam. Không chỉ đóng vai trò là nguồn lương thực bổ sung, chúng còn góp phần quan trọng vào đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu, gia tăng dân số và những biến động khó lường của thị trường toàn cầu.
XEM THÊM
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2025 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính