ki-niem-15-voaa
Thứ tư 29/07/2026 12:02Thứ tư 29/07/2026 12:02 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Nông nghiệp hữu cơ: Thị trường, thách thức và giải pháp

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Gần đây chúng ta nói nhiều về nông nghiệp hữu cơ, được coi là một giải pháp tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, trong bối cảnh càng ngày chúng ta càng thấy nguy cơ hiện hữu của “canh tác hóa học”, khai thác đến suy kiệt đất đai, nguồn nước.

Đây là chủ trương đúng đắn, nhưng còn khá mới mẻ, vì lâu nay chúng ta tập trung làm nông nghiệp an toàn nhằm đảm bảo an ninh lương thực. Vì vậy, hiểu đúng bản chất của nông nghiệp hữu cơ, những khác biệt so với nông nghiệp an toàn, khó khăn thách thức, nhận diện thị trường, xu hướng phát triển để có bước giải pháp phù hợp là cần thiết.

Sự khác biệt giữa nông nghiệp hữu cơ và nông nghiệp an toàn

Sản phẩm nông nghiệp hữu cơ không chỉ tuyệt đối an toàn cho người mà còn chứa đựng nhiều giá trị nhân văn khác về bảo vệ môi trường, đa dạng sinh học, công bằng cho mọi sinh vật sống trong hệ sinh thái, bền vững cho hôm nay và mai sau. Nông nghiệp hữu cơ có nhiều đặc thù, khác biệt so với nông nghiệp an toàn:

Mô hình nhóm rau hữu cơ Xóm Mòng - Lương Sơn - Hòa Bình được PGS Việt Nam chứng nhận

Một là, cơ sở phải trải qua giai đoạn chuyển đổi sang sản xuất hữu cơ ít nhất 12 tháng đối với cây ngắn ngày, 18 tháng đối với cây dài ngày hoặc tối thiểu 6 tuần đối với gia cầm lấy trứng hoặc 12 tháng đối với trâu, bò… (dự thảo TCVN mới về nông nghiệp hữu cơ). Trong giai đoạn này, phải thực hiện đúng tiêu chuẩn nhưng sản phẩm lại chưa được coi là hữu cơ.

Hai là, không sử dụng thuốc trừ sâu bệnh, phân bón, thuốc trừ cỏ, chất bảo quản, chất phụ gia là hóa chất tổng hợp; thuốc kháng sinh, hoóc môn tăng trưởng; không sử dụng sản phẩm từ công nghệ biến đổi gen, công nghệ nano, xử lý chiếu xạ; chỉ dùng kháng sinh, thuốc thú y tổng hợp khi không còn cách nào khác và nếu sử dụng quá 1 lần cho vật nuôi có vòng đời dưới 1 năm thì sản phẩm đó không còn là hữu cơ…

Ba là, vật tư, công nghệ đầu vào trong sản xuất hữu cơ có nguồn gốc tự nhiên và theo danh mục tại tiêu chuẩn nông nghiệp hữu cơ; ưu tiên sử dụng nguồn hữu cơ tại chỗ (xác thực vật, phân động vật…) để duy trì độ phì của đất và cân bằng dinh dưỡng cho cây trồng.

Bốn là, quan tâm đến cuộc sống của các thành viên trong hệ sinh thái, như hệ vi sinh vật trong đất, loài thiên địch hay đảm bảo diện tích tối thiểu về đồng cỏ, nơi chăn thả, chuồng trại/đầu con; giảm đau đớn, căng thẳng cho con vật khi giết mổ…

Năm là, sản phẩm hữu cơ phải được chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn của tổ chức chứng nhận (bên thứ 3) hoặc của PGS - hệ thống bảo đảm cùng tham gia, áp dụng cho hộ nông dân và bán trong nước (Brazil, Ấn Độ thừa nhận).

Do yêu cầu rất cao như trên, nên sản xuất hữu cơ là khuyến khích, khác với sản xuất an toàn là bắt buộc. Gần đây, trên công luận có nói đến "sản xuất sạch", "sản phẩm sạch", tuy nhiên không có văn bản pháp lý nào quy định về điều này. Theo tôi nên thống nhất có 2 nhóm gồm sản phẩm an toàn (có 2 cấp độ: phù hợp quy chuẩn hoặc phù hợp VietGAP - khuyến khích, vì vẫn dùng hóa chất tổng hợp) và sản phẩm hữu cơ để người tiêu dùng dễ phân biệt. Không nên gọi "sản xuất theo hướng hữu cơ" đối với sản phẩm mới đáp ứng một số tiêu chí hữu cơ, chưa được chứng nhận, đây vẫn coi là sản phẩm an toàn.

Thách thức của nông nghiệp hữu cơ

Cần khẳng định làm nông nghiệp hữu cơ không dễ dàng, nhiều khó khăn và thách thức:

Một là, năng suất cây trồng, vật nuôi thấp hơn so với sản xuất an toàn, do không dùng phân bón hóa học, hoóc môn tăng trưởng, công nghệ gen, công nghệ na nô...

Hai là, đối mặt với dịch bệnh do không dùng thuốc bảo vệ thực vật; hạn chế tối đa dùng thuốc thú y, kháng sinh tổng hợp, trong khi cơ sở hữu cơ và không hữu cơ nằm liền kề, đan xen, mặc dù có vùng đệm nhưng nguy cơ lây truyền dịch bệnh là rất cao.

Ba là, sản xuất hữu cơ tốn nhiều công lao động hơn (thu gom xác thực vật, làm phân hữu cơ, làm cỏ, bẫy bả…),.

Bốn là, giá thành sản phẩm hữu cơ cao hơn đáng kể so với sản phẩm an toàn do năng suất thấp, chi phí cao (lao động thủ công, phí chứng nhận, diện tích chăn thả, chuồng trại/đầu con lớn hơn…) nên thị trường giới hạn là nhóm khách hàng có thu nhập cao.

Vì vậy, vấn đề an ninh lương thực cần được tính đến khi xác định quy mô, lộ trình phát triển nông nghiệp hữu cơ và chỉ sản xuất hữu cơ khi có thị trường, hiệu quả cao hơn.

Thị trường và xu thế của nông nghiệp hữu cơ

Cần khẳng định nông nghiệp hữu cơ là xu hướng tất yếu, ngày càng phát triển bởi vì nông nghiệp hữu cơ là loại hình nông nghiệp bền vững nhất. Thế giới ngày càng văn minh, người tiêu dùng không chỉ đòi hỏi cho mình mà còn cho thế hệ mai sau. Nhóm người tiêu dùng đó đang tăng dần và đó là lý do vì sao thị trường nông sản hữu cơ thế giới đang tăng trưởng mạnh mẽ.

Theo Viện nghiên cứu Nông nghiệp hữu cơ Quốc tế (FiBL) tổng giá trị của thị trường hữu cơ thế giới tăng bình quân 10 - 15% mỗi năm, từ 15,5 tỷ USD (1999) lên 28,7 tỷ USD (2004), 54,9 tỷ USD (2009), 63 tỉ USD (2012) và 80 tỉ USD (2014). Năm 2015 riêng thị trường thực phẩm và đồ uống đạt trên 81,6 tỷ USD, lớn nhất là Mỹ (27,1 tỷ USD), Đức (7,9 tỷ USD) và Pháp (4,8 tỷ USD)…

Ở trong nước, thị trường sản phẩm hữu cơ mới hình thành vài năm nay và đang tăng trưởng. Một bộ phận người tiêu dùng trung lưu ở thành phố, có nhu cầu sản phẩm hữu cơ, chủ yếu vì muốn đảm bảo an toàn thực phẩm. Một số mô hình hiệu quả như Rau hữu cơ PGS Thanh Xuân – Hà Nội, Lương Sơn, Tân Lạc – Hòa Bình, Văn Trác – Hà Nam; Ecolink-Ecomart, Oganic Đà Lạt, Phú Viễn - Cà Mau; TH (1.000 con bò sữa), Vinamilk (500 con bò sữa); lợn Bảo Châu, Hoa Viên (Hà Nội); nước giải khát TH Herbals…

Giải pháp phát triển nông nghiệp hữu cơ

Nông nghiệp hữu cơ nước ta đang ở giai đoạn ban đầu, để phát triển bền vững theo tôi nên triển khai các biện pháp sau:

Mô hình nhóm rau hữu cơ Thanh Thủy - Trác Văn - Duy Tiên - Hà Nam được PGS Việt Nam chứng nhận

Một là, xác định rõ khung pháp lý tại dự thảo Nghị định nông nghiệp hữu cơ. Sản xuất hữu cơ không bắt buộc nhưng do tính đặc thù, giá bán cao nên rất dễ bị lợi dụng, làm thị trường hữu cơ không minh bạch, vi phạm quyền người tiêu dùng. Vì vậy, sản xuất hữu cơ phải theo tiêu chuẩn được nhà nước chấp thuận, được chứng nhận phù hợp, có nhãn, lô gô minh bạch… Nhà nước cần ưu tiên cho cơ sở sản xuất hữu cơ được hưởng các chính sách đã ban hành và có chính sách đặc thù đối với hộ nông dân, hợp tác xã. Cần xử lý tình trạng “treo đầu dê, bán thịt chó”; bảo vệ người sản xuất hữu cơ chân chính, thị trường hữu cơ non trẻ.

Hai là, sớm ban hành TCVN mới về nông nghiệp hữu cơ (thay thế TCVN 1141:2015). Đây là quy định kỹ thuật rất quan trọng, tiếp cận, hài hòa tiêu chuẩn quốc tế, nhưng phải cụ thể, “Việt Nam hóa” để nông dân hiểu và áp dụng được. Việc rà soát, chỉnh sửa, đặc biệt là bổ sung vật tư đầu vào được phép sử dụng là rất cần thiết; cần đổi mới mà vẫn tuân thủ các nguyên tắc hữu cơ để năng suất hữu cơ cao hơn, chi phí thấp hơn.

Ba là, phát triển thị trường sản phẩm hữu cơ ở trong và ngoài nước. Thị trường không tự nhiên mà có nên rất cần vai trò của doanh nghiệp liên kết với nông dân, vai trò khâu nối của Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam. Nhà nước cần hỗ trợ phát triển thị trường, ví dụ hỗ trợ “bữa ăn hữu cơ” tại các trường học, nhà ăn công cộng, các điểm bán lẻ; đưa sản xuất hữu cơ vào chương trình giáo dục các cấp; hỗ trợ các chiến dịch truyền thông nâng cao nhận thức của người tiêu dùng… như kinh nghiệm của các nước .

Bốn là, ưu tiên những sản phẩm có giá trị gia tăng cao, sản phẩm đang có thị trường xuất khẩu lớn để từng bước chuyển một phần sang sản xuất hữu cơ. Bên cạnh thực phẩm hữu cơ (rau quả, gạo, tiêu, cà phê, chè, sữa, thịt, trứng, tôm, cá tra…) nên quan tâm đúng mức tới dược liệu, mỹ phẩm hữu cơ; không chỉ sản phẩm tươi, thô mà cần chế biến đa dạng để có giá trị cao hơn, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng.

Năm là, ưu tiên quy hoạch vùng có điều kiện đất đai, khí hậu thuận lợi cho đối tương cây trồng, vật nuôi sản xuất hữu cơ; lựa chọn loài cây trồng, vật nuôi và đầu tư nghiên cứu tạo giống mới thích ứng, chống chịu sâu bệnh, ngoại cảnh bất lợi tốt.

Sáu là, muốn có một ngành sản xuất hữu cơ lớn mạnh, cần khuyến khích sản xuất các vật tư đầu vào (hạt giống, con giống hữu cơ; phân bón hữu cơ, vi sinh vật có ích, thức ăn chăn nuôi, thủy sản hữu cơ, thuốc thảo mộc...).

Bảy là, nông nghiệp hữu cơ rất thân thiện với môi trường. Nhà nước nên chính thức chấp nhận sản xuất hữu cơ là hoạt động thân thiện với môi trường, sản phẩm hữu cơ có chứng nhận được gắn Nhãn xanh Việt Nam mà không cần thủ tục xét duyệt và được hưởng ưu đãi, hỗ trợ theo luật bảo vệ môi trường.

khuyennong.lamdong.gov.vn

Bài liên quan

Bài 3: Nông nghiệp hữu cơ ở Nghệ An: Khi ý chí vượt khó khăn

Bài 3: Nông nghiệp hữu cơ ở Nghệ An: Khi ý chí vượt khó khăn

Mặc dù còn nhiều “điểm nghẽn” cần gỡ…nhưng việc phát triển nông nghiệp hữu cơ không còn là lựa chọn mang tính thử nghiệm, mà đã trở thành một giải pháp chiến lược nhằm xây dựng nền nông nghiệp tỉnh Nghệ An bền vững, an toàn và có giá trị gia tăng cao, đáp ứng xu hướng tiêu dùng xanh - sạch
Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam: Khơi dậy tiềm năng xanh từ chính sách

Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam: Khơi dậy tiềm năng xanh từ chính sách

Nông nghiệp hữu cơ đang dần trở thành xu hướng tất yếu trên thế giới và Việt Nam cũng không nằm ngoài dòng chảy này. Với những chính sách hỗ trợ mạnh mẽ từ Chính phủ, đặc biệt là Nghị định số 109/2018/NĐ-CP về Nông nghiệp hữu cơ và Quyết định số 885/QĐ-TTg, cùng với sự vào cuộc của các địa phương, nông nghiệp hữu cơ Việt Nam được kỳ vọng sẽ phát triển vượt bậc trong giai đoạn 2025-2030, góp phần xây dựng nền nông nghiệp xanh, bền vững và hiện đại.
Đồng Tháp: Thành công bước đầu trên hành trình nông nghiệp hữu cơ

Đồng Tháp: Thành công bước đầu trên hành trình nông nghiệp hữu cơ

Nông nghiệp hữu cơ đang mang lại lợi ích kinh tế và môi trường cho Đồng Tháp, thể hiện qua các mô hình sản xuất thành công và tiềm năng phát triển lâu dài.
Khánh Hòa: Hướng tới nông nghiệp hữu cơ, nâng tầm giá trị

Khánh Hòa: Hướng tới nông nghiệp hữu cơ, nâng tầm giá trị

Nông nghiệp hữu cơ đang trở thành hướng đi tất yếu tại tỉnh Khánh Hòa, đặc biệt ở các huyện miền núi, mang lại lợi ích về sức khỏe, môi trường và kinh tế, mở ra tương lai tươi sáng cho nông nghiệp.
Công nghệ Hàn Quốc đổ bộ vào thị trường thiết bị nông nghiệp Việt Nam

Công nghệ Hàn Quốc đổ bộ vào thị trường thiết bị nông nghiệp Việt Nam

Hàn Quốc đang đẩy mạnh xuất khẩu thiết bị nông nghiệp sang Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang chuyển đổi sang nông nghiệp hữu cơ.
Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam: Làn gió mới cho bữa ăn sạch

Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam: Làn gió mới cho bữa ăn sạch

Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ với gần 500.000 ha sản xuất, đáp ứng nhu cầu sản phẩm sạch.

CÁC TIN BÀI KHÁC

Diện tích sản xuất nông nghiệp hữu cơ ở Lâm Đồng đạt hơn 2 nghìn héc-ta

Diện tích sản xuất nông nghiệp hữu cơ ở Lâm Đồng đạt hơn 2 nghìn héc-ta

Với lợi thế về khí hậu, thổ nhưỡng và nguồn nước, Lâm Đồng đang từng bước khẳng định vị thế là một trong những địa phương đi đầu cả nước về phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp xanh và nông nghiệp hữu cơ. Sau 5 năm triển khai Đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2020-2025, diện tích sản xuất hữu cơ trên địa bàn tỉnh đã tăng mạnh, đạt hơn 2.000 ha.
An Giang phát động đề cử điển hình tiên tiến vì sự phát triển nông nghiệp hữu cơ Việt Nam

An Giang phát động đề cử điển hình tiên tiến vì sự phát triển nông nghiệp hữu cơ Việt Nam

Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang đã có văn bản đề nghị các đơn vị trực thuộc cùng UBND các xã, phường, đặc khu triển khai công tác tuyên truyền, rà soát và giới thiệu các tập thể, cá nhân tiêu biểu tham gia Chương trình tôn vinh điển hình tiên tiến vì sự nghiệp phát triển nông nghiệp hữu cơ Việt Nam năm 2026, góp phần lan tỏa những mô hình, sáng kiến hiệu quả trong lĩnh vực nông nghiệp hữu cơ.
Festival Organic Foods 2026: Điểm hẹn của thực phẩm hữu cơ và tiêu dùng xanh

Festival Organic Foods 2026: Điểm hẹn của thực phẩm hữu cơ và tiêu dùng xanh

Hàng chục thương hiệu thực phẩm hữu cơ sẽ cùng hội tụ tại Festival Organic Foods 2026, mang đến chuỗi hoạt động trải nghiệm, dùng thử sản phẩm và ưu đãi dành cho người tiêu dùng. Sự kiện do Farmers Market và Organicfood.vn tổ chức, kỳ vọng góp phần lan tỏa tiêu dùng xanh, đồng thời tạo thêm động lực cho sự phát triển của thị trường thực phẩm hữu cơ tại Việt Nam.
Thực trạng và giải pháp phát triển sản phẩm OCOP ở Việt Nam

Thực trạng và giải pháp phát triển sản phẩm OCOP ở Việt Nam

Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) đã góp phần khai thác tiềm năng địa phương, nâng cao giá trị nông sản và thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn ở Việt Nam. Tuy nhiên, nhiều sản phẩm OCOP vẫn gặp khó khăn về chất lượng, xây dựng thương hiệu, tiêu thụ và mở rộng thị trường. Việc hoàn thiện cơ chế hỗ trợ, nâng cao năng lực sản xuất và đẩy mạnh xúc tiến thương mại là những giải pháp quan trọng để phát triển OCOP bền vững.
Lâm Đồng đề xuất tôn vinh các điển hình tiên tiến phát triển Nông nghiệp hữu cơ lần thứ III năm 2026

Lâm Đồng đề xuất tôn vinh các điển hình tiên tiến phát triển Nông nghiệp hữu cơ lần thứ III năm 2026

Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Lâm Đồng vừa có văn bản đề nghị các đơn vị chuyên môn rà soát, giới thiệu những tập thể, cá nhân tiêu biểu trong phát triển nông nghiệp hữu cơ để tham mưu Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh đề cử tham gia Chương trình “Lễ tôn vinh điển hình tiên tiến phát triển nông nghiệp hữu cơ Việt Nam lần thứ III – 2026”. Đây được xem là dịp ghi nhận, lan tỏa những mô hình sản xuất hữu cơ hiệu quả, góp phần thúc đẩy phát triển nền nông nghiệp xanh, bền vững trên địa bàn tỉnh.
Vai trò của cây che phủ trong canh tác hữu cơ và bảo vệ độ phì nhiêu của đất

Vai trò của cây che phủ trong canh tác hữu cơ và bảo vệ độ phì nhiêu của đất

Cây che phủ đất giữ vai trò quan trọng trong canh tác hữu cơ, góp phần bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và nâng cao độ phì nhiêu. Việc sử dụng cây che phủ giúp gia tăng chất hữu cơ, cải thiện hoạt động vi sinh vật, sử dụng hiệu quả dinh dưỡng, hướng tới nền nông nghiệp xanh, tuần hoàn và phát triển bền vững.
Tháo gỡ những “điểm nghẽn” trong chuỗi giá trị hồ tiêu tỉnh Lâm Đồng

Tháo gỡ những “điểm nghẽn” trong chuỗi giá trị hồ tiêu tỉnh Lâm Đồng

Với lợi thế là địa phương có diện tích hồ tiêu lớn nhất cả nước, tỉnh Lâm Đồng đang chuyển mạnh từ phát triển theo sản lượng sang hướng tập trung nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Đây cũng là định hướng xuyên suốt được các nhà quản lý, chuyên gia, doanh nghiệp và người sản xuất chia sẻ tại Hội thảo "Giải pháp phát triển hồ tiêu bền vững tỉnh Lâm Đồng", nhằm xây dựng ngành hàng hồ tiêu đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường xuất khẩu.
Một số biện pháp quản lý sâu bệnh tổng hợp trong sản xuất rau hữu cơ

Một số biện pháp quản lý sâu bệnh tổng hợp trong sản xuất rau hữu cơ

Quản lý sâu bệnh tổng hợp (IPM) là giải pháp cốt lõi giúp sản xuất rau hữu cơ đạt hiệu quả, giảm thiểu tác động đến môi trường và bảo đảm an toàn thực phẩm. Việc kết hợp đồng bộ các biện pháp sinh học, canh tác và cơ giới góp phần nâng cao năng suất, chất lượng nông sản và phát triển nông nghiệp bền vững.
Đào tạo hơn 1,3 triệu lao động, hình thành lực lượng nông dân số và quản trị hợp tác xã hiện đại

Đào tạo hơn 1,3 triệu lao động, hình thành lực lượng nông dân số và quản trị hợp tác xã hiện đại

Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành Kế hoạch đào tạo nâng cao chất lượng lao động ngành nông nghiệp giai đoạn 2026–2030, đặt mục tiêu xây dựng lực lượng nông dân số, nông dân chuyên nghiệp và đội ngũ quản trị hợp tác xã hiện đại, đáp ứng yêu cầu phát triển nền nông nghiệp xanh, hữu cơ, thông minh và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Liên kết vùng để kiến tạo hệ sinh thái nông nghiệp thông minh, kinh tế xanh

Liên kết vùng để kiến tạo hệ sinh thái nông nghiệp thông minh, kinh tế xanh

Liên kết lợi thế của Hà Nội, Bắc Ninh và Hưng Yên trong một chuỗi giá trị thống nhất được xác định là hướng đi quan trọng để mở rộng không gian phát triển nông nghiệp. Từ quy hoạch vùng nguyên liệu, hạ tầng dữ liệu, logistics lạnh, chế biến sâu đến phân phối hiện đại và thương mại điện tử xuyên biên giới, vấn đề đặt ra là phải chuyển những cam kết liên kết thành chương trình hành động có đầu mối, nguồn lực và sản phẩm cụ thể.
Từ nông nghiệp truyền thống sang nông nghiệp tuần hoàn: Thực trạng, thách thức và giải pháp

Từ nông nghiệp truyền thống sang nông nghiệp tuần hoàn: Thực trạng, thách thức và giải pháp

Nông nghiệp tuần hoàn đang được xem là hướng đi tất yếu nhằm hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững và tăng trưởng xanh. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi từ nông nghiệp truyền thống sang nông nghiệp tuần hoàn ở Việt Nam vẫn đối mặt với nhiều thách thức về nhận thức, công nghệ, nguồn vốn và liên kết thị trường. Việc hoàn thiện chính sách, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực của người sản xuất là những giải pháp quan trọng để xây dựng nền nông nghiệp hiệu quả, thân thiện với môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Đầu tư hạ tầng nông nghiệp công nghệ cao: Cơ hội từ chính sách mới

Đầu tư hạ tầng nông nghiệp công nghệ cao: Cơ hội từ chính sách mới

Trong hành trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng nông nghiệp theo hướng xanh, bền vững và số hóa, đầu tư hạ tầng nông nghiệp công nghệ cao (NNCNC) được xác định là trụ cột chiến lược nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam.
XEM THÊM
dam-ca-mau-chi-vi-hoa
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2026 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính