ki-niem-15-voaa
Thứ hai 02/11/2026 05:06Thứ hai 02/11/2026 05:06 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Phát triển vùng nguyên liệu đạt chuẩn - Bài 2: Tái cơ cấu nông nghiệp và thúc đẩy hội nhập quốc tế sâu rộng

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Trong tiến trình tái cơ cấu nông nghiệp, việc phát triển vùng nguyên liệu đạt chuẩn được xem là động lực quan trọng giúp nâng cao chất lượng, giá trị và sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên thị trường toàn cầu. Đây không chỉ là yêu cầu tất yếu nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế ngày càng khắt khe, mà còn là bước đi chiến lược giúp ngành nông nghiệp chuyển đổi sang mô hình sản xuất hiện đại, bền vững và hội nhập quốc tế hiệu quả hơn.
Phát triển vùng nguyên liệu đạt chuẩn - Bài 2: Tái cơ cấu nông nghiệp và thúc đẩy hội nhập quốc tế sâu rộng
Sáng 12/11/2025, tại Hà Nội, Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu chỉ đạo tại lễ Kỷ niệm 80 năm ngành nông nghiệp và môi trường (1945 - 2025) và Đại hội Thi đua yêu nước lần thứ I.

Phát biểu chỉ đạo tại Lễ kỷ niệm 80 năm ngành Nông nghiệp và Môi trường, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh yêu cầu cấp thiết phải “tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững”, coi đây là định hướng chiến lược trong giai đoạn phát triển mới. Theo đó, ngành nông nghiệp cần chuyển mạnh từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu, từ tăng sản lượng sang nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả, đồng thời đẩy mạnh xây dựng thương hiệu, phát triển nông nghiệp sinh thái, hữu cơ, tuần hoàn, ứng dụng công nghệ cao và gắn sản xuất với chế biến sâu. Tư tưởng chỉ đạo này không chỉ khẳng định quyết tâm đổi mới mô hình tăng trưởng nông nghiệp mà còn mở ra con đường để Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị nông sản toàn cầu, hướng tới nền nông nghiệp hiện đại, hiệu quả và bền vững.

Phát triển vùng nguyên liệu đạt chuẩn - Bài 1: Nền tảng khởi tạo chuỗi cung ứng bền vững Phát triển vùng nguyên liệu đạt chuẩn - Bài 1: Nền tảng khởi tạo chuỗi cung ứng bền vững

Phát triển vùng nguyên liệu nông, lâm, thủy sản đạt chuẩn, quy mô tập trung và gắn kết bền vững với doanh nghiệp chế biến, ...

Tái cơ cấu nông nghiệp - chuyển từ “lượng” sang “chất”

Trong hơn một thập kỷ qua, chương trình tái cơ cấu ngành trồng trọt đã làm thay đổi căn bản diện mạo nông nghiệp Việt Nam. Từ những cánh đồng lúa năng suất thấp, nông dân được khuyến khích chuyển sang cây trồng có giá trị kinh tế cao, phù hợp thổ nhưỡng và nhu cầu thị trường. Đây là bước ngoặt đưa nông nghiệp từ chú trọng sản lượng sang tập trung vào giá trị.

Quá trình tái cơ cấu cây trồng đã tạo ra sự chuyển mình mạnh mẽ, đặt nền móng vững chắc cho việc hình thành các vùng nguyên liệu tập trung, chuyên canh trên cả nước. Cụ thể, ở miền Bắc trung du và miền núi, hàng chục nghìn hecta lúa năng suất thấp đã được thay thế bằng các loại cây ăn quả giá trị cao như vải, nhãn, cam, bưởi, chuối, giúp nông dân nâng cao thu nhập; tại Đồng bằng sông Cửu Long, giai đoạn 2013 – 2020 chứng kiến hơn 478.000 hecta đất lúa chuyển sang trồng các loại cây ăn trái như xoài, mít, sầu riêng, dừa, không chỉ tạo thêm hàng trăm nghìn việc làm mà còn nâng giá trị kinh tế gấp 2–3 lần; đồng thời, Tây Nguyên vươn lên thành trung tâm cà phê và hồ tiêu của thế giới, còn miền Trung khẳng định vị thế với những cây đặc sản như thanh long, dứa và chanh leo.

Song song với chuyển đổi diện tích, chính sách đất đai linh hoạt và định hướng phát triển bền vững đã thay đổi tư duy nông nghiệp: từ “trồng nhiều” sang “trồng có thương hiệu”. Quyết định 174/QĐ-TTg năm 2021 đặt mục tiêu phát triển trồng trọt hiện đại, gắn sản phẩm đặc trưng với thương hiệu quốc gia.

Sự chuyển đổi này đã mang lại thành tựu rõ rệt: hệ thống mã số vùng trồng xuất khẩu - linh hồn của vùng nguyên liệu đạt chuẩn - hiện đạt hơn 7.000 mã, gấp ba lần năm 2018. Các mô hình liên kết nông dân - doanh nghiệp - nhà khoa học đã hình thành chuỗi giá trị bền vững, điển hình là cà phê Đắk Lắk có truy xuất nguồn gốc và chứng chỉ carbon, xoài, chuối Đồng Tháp được chế biến, xuất khẩu sang Nhật Bản, Hàn Quốc. Chính sự gắn kết và chuẩn hóa quy trình này đã giúp giá trị sản xuất trồng trọt năm 2024 tăng 35% so với 2013, đưa Việt Nam vào top 10 quốc gia xuất khẩu rau quả lớn nhất thế giới, đồng thời góp phần định hình lại kinh tế nông thôn theo hướng thích ứng biến đổi khí hậu và đa dạng sinh kế. Tái cơ cấu chính là bước đi căn bản nhất để kiến tạo các vùng nguyên liệu chất lượng cao, có khả năng cạnh tranh toàn cầu.

Ngoài ra, tái cơ cấu còn góp phần định hình lại kinh tế nông thôn: ruộng lúa kém hiệu quả chuyển sang hoa, rau màu, cây dược liệu; mô hình cây ăn quả kết hợp du lịch sinh thái ở miền núi phía Bắc; hay kết hợp trồng trọt - thủy sản ở ĐBSCL để thích ứng biến đổi khí hậu.

Tiến trình hội nhập quốc tế

Hội nhập quốc tế là chiến lược xuyên suốt, có tính lịch sử, luôn gắn liền với sự phát triển của đất nước. Ngay từ những ngày đầu lập nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ tinh thần Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước, thể hiện mong muốn "thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực”. Tư tưởng "kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại" đó đã được Đảng ta vận dụng sáng tạo, gắn cách mạng nước ta với trào lưu tiến bộ chung. Bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng xác định hội nhập quốc tế là hình thức, trình độ phát triển cao của hợp tác quốc tế, nhằm "đặt đất nước vào dòng chảy chính của thời đại," tranh thủ nguồn lực bên ngoài cho phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao vị thế quốc gia.

Tư duy hội nhập của Việt Nam đã trải qua quá trình phát triển từ có giới hạn, có chọn lọc, đến hội nhập sâu rộng, toàn diện. Hội nhập kinh tế quốc tế được xác định là trọng tâm ban đầu, được đề ra lần đầu tại Đại hội Đảng lần thứ IX. Đến Đại hội XI, tư duy chuyển sang "hội nhập quốc tế trên tất cả các lĩnh vực." Sự ra đời của Nghị quyết 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 là "quyết sách đột phá," đánh dấu bước ngoặt quan trọng: hội nhập được định vị là động lực quan trọng đưa đất nước vào kỷ nguyên mới, chuyển từ tiếp nhận sang đóng góp, từ hội nhập sâu rộng sang hội nhập đầy đủ, và từ vị thế đi sau sang trạng thái vươn lên, tiên phong.

Phát triển vùng nguyên liệu đạt chuẩn - Bài 2: Tái cơ cấu nông nghiệp và thúc đẩy hội nhập quốc tế sâu rộng
Việt Nam xuất khẩu gạo hữu cơ sang thị trường châu Âu.

Trong 40 năm đổi mới, tiến trình hội nhập quốc tế đã đạt những kết quả mang tầm vóc lịch sử, thay đổi căn bản thế và lực của đất nước. Về đối ngoại, từ một quốc gia bị bao vây cô lập, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia, có quan hệ Đối tác chiến lược và Đối tác toàn diện với 34 nước. Về kinh tế, Việt Nam đã trở thành một trong 34 nền kinh tế lớn nhất thế giới, quy mô kinh tế tăng gần 100 lần so với năm 1986, và thu nhập bình quân đầu người tăng lên gần 5.000 USD.

Thành công của hội nhập kinh tế thể hiện rõ qua việc tham gia 17 Hiệp định thương mại tự do (FTA), gắn kết Việt Nam với hơn 60 nền kinh tế chủ chốt. Điều này đã đưa Việt Nam lọt vào nhóm 20 nước có quy mô thương mại lớn nhất thế giới, đồng thời nằm trong nhóm 20 nền kinh tế thu hút nhiều vốn FDI nhất thế giới từ năm 2019. Những thành quả này góp phần tích lũy thế và lực, là cơ sở cho sự bứt phá tiếp theo.

Đứng trước thời điểm lịch sử và bối cảnh thế giới đa cực, đa trung tâm, Đảng xác định hội nhập quốc tế phải là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, nhằm đảm bảo cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc. Nghị quyết 59 định hướng một cuộc cách mạng trong hành động theo nguyên tắc: Nội lực có vai trò quyết định, kết hợp nhuần nhuyễn giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại; Người dân và doanh nghiệp là trung tâm, chủ thể, động lực; và hội nhập phải mang tính chất "đồng bộ, toàn diện, sâu rộng," vừa hợp tác vừa đấu tranh.

Theo định hướng này, Hội nhập kinh tế vẫn là trung tâm, ưu tiên cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng và thúc đẩy chuyển đổi số. Việt Nam sẽ tập trung tận dụng hiệu quả các FTA thế hệ mới, thu hút FDI chất lượng cao (nhất là trong các lĩnh vực mới nổi như chip bán dẫn, AI), và hoàn thiện thể chế liên quan đến kinh tế xanh, kinh tế số, giảm phát thải các-bon. Các lĩnh vực khác như chính trị, an ninh, quốc phòng, khoa học - công nghệ, văn hóa, giáo dục đều phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế, hướng tới mục tiêu xây dựng chiến lược phát triển con người Việt Nam của "thế hệ vươn mình."

Vùng nguyên liệu đạt chuẩn - động lực hội nhập quốc tế sâu rộng

Phát triển vùng nguyên liệu đạt chuẩn - Bài 2: Tái cơ cấu nông nghiệp và thúc đẩy hội nhập quốc tế sâu rộng
Mô hình bưởi được cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn hữu cơ.

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu, vùng nguyên liệu đạt chuẩn không chỉ là yêu cầu nội tại mà còn là “tấm hộ chiếu” để nông sản Việt Nam thâm nhập và đứng vững tại các thị trường khó tính. Vùng nguyên liệu được tổ chức tốt là cơ sở để đảm bảo nguồn cung ổn định, có chất lượng đồng đều, và là nền tảng duy nhất để thực hiện hiệu quả việc truy xuất nguồn gốc và an toàn thực phẩm theo yêu cầu của các thị trường xuất khẩu. Nếu không có vùng nguyên liệu đạt chuẩn, việc đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế như Hữu cơ, GlobalGAP hay các tiêu chuẩn về môi trường và xã hội (ESG) là điều bất khả thi, dẫn đến việc nông sản dễ dàng bị chặn lại bởi các rào cản phi thuế quan (SPS/TBT).

Để đáp ứng nhu cầu của thị trường tiêu thụ trong nước và quốc tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đã chỉ đạo xây dựng “Đề án thí điểm xây dựng vùng nguyên liệu nông, lâm sản đạt chuẩn phục vụ tiêu thụ trong nước và xuất khẩu giai đoạn 2022 - 2025” nhằm thí điểm phát triển 05 vùng nguyên liệu nông, lâm sản đạt chuẩn phục vụ tiêu thụ trong nước và xuất khẩu; thí điểm cơ chế, cách làm trên địa bàn 13 tỉnh trải dài từ Bắc vào Nam với các sản phẩm chủ lực như: cây ăn quả, lúa gạo, cà phê, gỗ lớn rừng trồng giai đoạn 2022-2025, qua đó tổng kết rút kinh nghiệm và nhân rộng những mô hình hiệu quả ra cả nước là rất cần thiết. Bên cạnh đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng vừa ban hành Kế hoạch đẩy nhanh tiến độ thực hiện và đánh giá kết quả Đề án thí điểm giai đoạn 2022 - 2025, đồng thời đề xuất nhân rộng và xây dựng Đề án cho giai đoạn 2026 - 2030.

Quan điểm và mục tiêu xây dựng Đề án

Xây dựng vùng nguyên liệu phục vụ chế biến và tiêu thụ phải gắn liền với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và hệ sinh thái. Việc này đồng thời thúc đẩy công tác chế biến, bảo quản, tiêu thụ và xây dựng thương hiệu các sản phẩm nông, lâm, thủy sản.

Vùng nguyên liệu cần phát triển trên cơ sở nhu cầu thực tế của thị trường và điều kiện tự nhiên đặc thù của từng vùng. Các vùng sản xuất phải được gắn kết chặt chẽ với công nghiệp bảo quản, chế biến và thị trường tiêu thụ, hình thành các vùng chuyên canh tập trung, đồng thời ứng dụng khoa học - công nghệ, đặc biệt là công nghệ cao, công nghệ sinh học, nông nghiệp sinh thái, hữu cơ, thông minh và kinh tế tuần hoàn trong sản xuất và kinh doanh nông nghiệp.

Phát triển vùng nguyên liệu phải kết hợp với tổ chức lại sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng và đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ, bảo quản, chế biến nhằm tối đa hóa giá trị gia tăng, nâng cao thu nhập cho người dân, đồng thời góp phần thay đổi bộ mặt nông thôn và xây dựng nông thôn mới.

Nhà nước và các doanh nghiệp cần đầu tư nâng cấp hạ tầng, trang thiết bị phục vụ sản xuất, kinh doanh, chế biến và vận chuyển nông sản. Đồng thời, các hợp tác xã trong vùng nguyên liệu phải được hỗ trợ để tham gia hiệu quả các hoạt động xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm, mở rộng liên kết và hợp tác với doanh nghiệp, từ đó nâng cao năng lực hoạt động, năng lực cạnh tranh và khả năng tiếp cận khoa học - công nghệ.

Nhà nước khuyến khích liên kết, hợp tác giữa doanh nghiệp và hợp tác xã nông nghiệp để hình thành các chuỗi giá trị nông sản, mở rộng thị trường tiêu thụ, xây dựng liên doanh, liên kết làm đầu mối cung cấp nông sản trong nước và hướng tới xuất khẩu, đồng thời tạo nền tảng phát triển bền vững.

Phát triển vùng nguyên liệu đạt chuẩn - Bài 2: Tái cơ cấu nông nghiệp và thúc đẩy hội nhập quốc tế sâu rộng
Vùng nguyên liệu cần phát triển trên cơ sở nhu cầu thực tế của thị trường và điều kiện tự nhiên đặc thù của từng vùng. (Ảnh minh họa)

Việc xây dựng vùng nguyên liệu phục vụ chế biến và tiêu thụ phải đồng bộ với cơ chế chính sách, huy động được mọi nguồn lực của các thành phần kinh tế kết hợp với sự hỗ trợ của Nhà nước, nhằm đảm bảo sản xuất hiệu quả, bền vững và an toàn môi trường sinh thái.

Về mục tiêu chung, Bộ hướng tới hình thành 05 vùng sản xuất nguyên liệu nông, lâm nghiệp quy mô hàng hóa tập trung, hiện đại, ứng dụng công nghệ tiên tiến, trên cơ sở liên kết bền vững giữa các hợp tác xã nông nghiệp và doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ. Mục tiêu của việc này là thúc đẩy quá trình cơ cấu lại ngành nông nghiệp một cách nhanh chóng, hiệu quả và bền vững, đồng thời góp phần xây dựng nông thôn mới. Các hợp tác xã nông nghiệp sẽ được phát triển và nâng cao vai trò trong chuỗi giá trị nông sản, nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm, giảm giá thành nguyên liệu đầu vào phục vụ chế biến và tiêu thụ. Hoạt động này sẽ giúp tăng thu nhập và cải thiện đời sống của người dân địa phương.

Mục tiêu của Đề án được chia làm 2 mục tiêu cụ thể tương ứng với 2 giai đoạn là 2022-2023 và 2024-2025. Trong giai đoạn 2022-2023, mục tiêu là hình thành được 05 vùng nguyên liệu đạt chuẩn, có quy mô tập trung với tổng diện tích khoảng 166.800 ha, bao gồm: cây ăn quả vùng miền núi phía Bắc (14.000 ha), gỗ rừng trồng chứng chỉ bền vững tại vùng Duyên hải miền Trung (22.900 ha), cà phê Tây Nguyên (19.700 ha), lúa gạo vùng Tứ Giác Long Xuyên (50.000 ha) và cây ăn quả vùng Đồng Tháp Mười (60.200 ha). Cùng với đó, các chuỗi liên kết sản xuất – chế biến – tiêu thụ giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân sẽ được hình thành, nhằm giảm chi phí đầu vào sản xuất từ 5–10%, giảm tổn thất sau thu hoạch 5–10%, đồng thời tăng giá trị nông sản 10–20% và nâng thu nhập của nông dân từ 5–10%. Ngoài ra, dự án hướng tới nâng cao năng lực cho ít nhất 250 hợp tác xã nông nghiệp, phát triển cơ sở hạ tầng vùng nguyên liệu với hệ thống giao thông, thủy lợi, kho lạnh, nhà sơ chế và bảo quản nông sản, cũng như trang thiết bị phục vụ sản xuất. Bên cạnh đó, việc số hóa dữ liệu vùng nguyên liệu, áp dụng phần mềm quản lý, thí điểm các chính sách tín dụng ưu đãi và bảo hiểm nông nghiệp cũng được triển khai nhằm tăng hiệu quả quản lý, sản xuất và truy xuất nguồn gốc sản phẩm.

Trong giai đoạn tiếp theo (2024-2025), mục tiêu là mở rộng và hoàn thiện hệ thống hạ tầng chế biến, bảo quản, logistics phục vụ chuỗi giá trị nông sản thông qua việc xây dựng 05 trung tâm logistic hỗ trợ hợp tác xã. Cụ thể, gồm Trung tâm logistic chuỗi lúa gạo tại huyện Thoại Sơn (tỉnh An Giang), Trung tâm logistic lúa–tôm hữu cơ tại huyện An Minh (tỉnh Kiên Giang), Trung tâm logistic chế biến tôm tại huyện Cù Lao Dung (tỉnh Sóc Trăng), Trung tâm logistic trái cây Mỹ Hiệp (tỉnh Đồng Tháp) và Trung tâm logistic chuỗi cà phê tại tỉnh Gia Lai. Các trung tâm này sẽ đóng vai trò đầu mối trong sơ chế, chế biến, bảo quản và phân phối sản phẩm, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng thị trường tiêu thụ và thúc đẩy phát triển bền vững ngành nông nghiệp./.

Giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt -Bài 1: Tính cấp thiết để phát triển nông nghiệp bền vững Giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt -Bài 1: Tính cấp thiết để phát triển nông nghiệp bền vững

Trước diễn biến phức tạp và khó lường của biến đổi khí hậu, sản xuất giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt trở thành ...

Giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt - Bài 2: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam Giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt - Bài 2: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Trong hơn một thập kỷ qua, giảm phát thải khí nhà kính trong nông nghiệp - đặc biệt là lĩnh vực trồng trọt đã được ...

Giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt - Bài cuối: Truyền thông dẫn dắt và lan tỏa tri thức phát triển nông nghiệp xanh Giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt - Bài cuối: Truyền thông dẫn dắt và lan tỏa tri thức phát triển nông nghiệp xanh

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng tác động mạnh mẽ đến sản xuất nông nghiệp, giảm phát thải trong lĩnh vực trồng ...

Bài liên quan

Nông nghiệp tri thức đưa nông sản Việt vươn tầm quốc tế

Nông nghiệp tri thức đưa nông sản Việt vươn tầm quốc tế

Chuyển đổi số và khoa học công nghệ đang trở thành động lực cốt lõi giúp ngành trồng trọt Việt Nam tối ưu hóa chi phí, nâng cao chất lượng và chinh phục thị trường toàn cầu.
Gia Lai: Ia Hrú phát huy thế mạnh, nâng tầm giá trị nông nghiệp

Gia Lai: Ia Hrú phát huy thế mạnh, nâng tầm giá trị nông nghiệp

Với diện tích gieo trồng gần 8.900 ha cùng thế mạnh về cà phê, hồ tiêu, sầu riêng và chăn nuôi, xã Ia Hrú đang từng bước phát huy tiềm năng sản xuất nông nghiệp, thúc đẩy liên kết tiêu thụ nông sản, hướng đến nâng cao giá trị kinh tế và thu nhập cho người dân.
Đà Nẵng: Tam Xuân chuyển động trên nhiều lĩnh vực phát triển

Đà Nẵng: Tam Xuân chuyển động trên nhiều lĩnh vực phát triển

Tam Xuân, TP Đà Nẵng ghi nhận kết quả trong sản xuất, chuyển đổi số và quản lý đất đai, đồng thời thúc đẩy du lịch cộng đồng gắn với biển Tam Tiến.
Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 56,3 tỷ USD sau 9 tháng

Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 56,3 tỷ USD sau 9 tháng

Sau 9 tháng năm 2026, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 56,3 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả sản xuất lúa và thủy sản tiếp tục tăng trưởng, tạo cơ sở để ngành nông nghiệp đẩy mạnh các nhiệm vụ trong quý IV, phấn đấu hoàn thành mục tiêu xuất khẩu cả năm từ 74 tỷ USD trở lên.
Đi làm thủ tục đất đai, người dân cần biết những gì?

Đi làm thủ tục đất đai, người dân cần biết những gì?

Nộp hồ sơ cần giấy tờ gì, bao lâu có kết quả, nếu bị chậm thì hỏi ai? Nắm rõ những điều này sẽ giúp người dân chủ động hơn và bảo vệ quyền lợi của mình khi làm thủ tục đất đai.
Gạo Ông Cua ST25 giành giải Nhì tại cuộc thi “Gạo ngon nhất thế giới 2026”

Gạo Ông Cua ST25 giành giải Nhì tại cuộc thi “Gạo ngon nhất thế giới 2026”

Gạo Ông Cua ST25 của Việt Nam giành giải Nhì cuộc thi “Gạo ngon nhất thế giới 2026” diễn ra tại Philippines ngày 9/10. Kết quả tiếp tục khẳng định sự hiện diện của gạo thơm Việt Nam tại sân chơi quốc tế.

CÁC TIN BÀI KHÁC

Gỡ nút thắt vật tư nông nghiệp hữu cơ - Kỳ 2: Giải pháp từ chính sách đến thị trường

Gỡ nút thắt vật tư nông nghiệp hữu cơ - Kỳ 2: Giải pháp từ chính sách đến thị trường

Chuẩn hóa nguyên liệu, nâng cao chất lượng phân bón, phát triển chế phẩm sinh học và tăng cường liên kết sản xuất là những giải pháp được đặt ra từ thực tiễn doanh nghiệp. Để các giải pháp phát huy hiệu quả, cần có sự phối hợp giữa cơ quan quản lý, đơn vị nghiên cứu, doanh nghiệp và người sản xuất hữu cơ.
Cố Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn - người tiên phong đưa cây mắc ca từ Australia về Việt Nam

Cố Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn - người tiên phong đưa cây mắc ca từ Australia về Việt Nam

Trong hành trình đổi mới nông nghiệp Việt Nam, có những con người không chỉ để lại dấu ấn qua những quyết sách trong thời gian đương chức, mà còn được nhớ đến bởi tầm nhìn vượt trước thời gian. Cố Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn là một trong những người như vậy. Gắn bó với lĩnh vực nông nghiệp trong nhiều năm, ông quan tâm đến việc tìm kiếm những giống cây trồng mới, có giá trị kinh tế cao, phù hợp với điều kiện sinh thái nước ta. Trong câu chuyện phát triển cây mắc ca ở Việt Nam, tên tuổi ông gắn với những nỗ lực vận động, nghiên cứu và thúc đẩy đưa loại cây có nguồn gốc từ Australia này vào sản xuất.
Gỡ nút thắt vật tư nông nghiệp hữu cơ - Kỳ 1: Những rào cản từ thực tiễn

Gỡ nút thắt vật tư nông nghiệp hữu cơ - Kỳ 1: Những rào cản từ thực tiễn

Vật tư đầu vào đáp ứng tiêu chuẩn, giá thành hợp lý và phát huy hiệu quả trên đồng ruộng đang là mối quan tâm của nhiều doanh nghiệp sản xuất hữu cơ. Tại hội nghị về vật tư đầu vào tổ chức ngày 17/10 ở TP. Hồ Chí Minh, những khó khăn từ khâu sản xuất phân bón đến sử dụng chế phẩm sinh học đã được đặt ra, cho thấy yêu cầu tháo gỡ các rào cản trong chuỗi cung ứng vật tư phục vụ nông nghiệp hữu cơ.
Phú Thọ tăng cường hợp tác phát triển các sản phẩm nông nghiệp giá trị kinh tế cao

Phú Thọ tăng cường hợp tác phát triển các sản phẩm nông nghiệp giá trị kinh tế cao

Đồng chí Phạm Đại Dương - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Phú Thọ đã chủ trì hội nghị trao đổi hợp tác với Viện Di truyền Nông nghiệp Việt Nam về phát triển các sản phẩm nông nghiệp giá trị kinh tế cao giai đoạn 2026 - 2035.
Thúc đẩy nông nghiệp hữu cơ và sinh thái: Tháo gỡ điểm nghẽn, kết nối thị trường

Thúc đẩy nông nghiệp hữu cơ và sinh thái: Tháo gỡ điểm nghẽn, kết nối thị trường

Từ vật tư đầu vào, tiêu chuẩn, chứng nhận đến tổ chức sản xuất, chế biến và tiêu thụ, nhiều vấn đề thực tiễn được các nhà khoa học, doanh nghiệp, hợp tác xã đưa ra tại Hội thảo “Thúc đẩy phát triển nông nghiệp hữu cơ và sinh thái ở Việt Nam”. Nhìn lại chặng đường 15 năm hình thành và phát triển của Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam (VOAA) (2011 - 2026), các đại biểu đề xuất những giải pháp để mở rộng sản xuất, củng cố niềm tin thị trường và nâng cao giá trị cho người làm hữu cơ.
Làm sạch thị trường phân bón Việt Nam - Kỳ 3: Phân bón giả và cái giá phải trả của người nông dân

Làm sạch thị trường phân bón Việt Nam - Kỳ 3: Phân bón giả và cái giá phải trả của người nông dân

Thị trường phân bón liên tiếp phát hiện các vụ sản xuất, kinh doanh hàng giả với quy mô lớn, cho thấy công tác kiểm soát chất lượng vật tư nông nghiệp cần được siết chặt. Tình trạng này không chỉ ảnh hưởng đến chi phí, năng suất và hiệu quả mùa vụ của người nông dân mà còn tác động đến uy tín của doanh nghiệp chân chính và tính minh bạch của thị trường.
Phụ nữ Bằng Lăng - Tự tin, sáng tạo, chung sức xây dựng nông nghiệp hữu cơ

Phụ nữ Bằng Lăng - Tự tin, sáng tạo, chung sức xây dựng nông nghiệp hữu cơ

Từ những nương cà phê không thuốc cỏ, những luống rau xanh nói không với hóa chất đến vai trò giữ bình yên thôn bản, phụ nữ thôn Bằng Lăng đang khẳng định hình ảnh người phụ nữ Tây Nguyên thời đại mới - tự chủ kinh tế và giữ màu xanh cho đất.
Làm sạch thị trường phân bón Việt Nam - Kỳ 2: Cần giải pháp đồng bộ

Làm sạch thị trường phân bón Việt Nam - Kỳ 2: Cần giải pháp đồng bộ

Muốn ngăn chặn hiệu quả phân bón giả, phân bón kém chất lượng, không thể chỉ dừng ở việc phát hiện và xử phạt những vụ vi phạm riêng lẻ. Yêu cầu đặt ra là phải kiểm soát từ nguồn sản xuất, minh bạch chuỗi phân phối, nâng cao năng lực kiểm nghiệm và xác lập trách nhiệm phối hợp giữa Nhà nước, hiệp hội, doanh nghiệp trong bảo vệ quyền lợi người nông dân.
Áp lực cạnh tranh và giảm giá nông sản: Đâu là cốt lõi?

Áp lực cạnh tranh và giảm giá nông sản: Đâu là cốt lõi?

Trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, nông sản Việt Nam đứng trước cơ hội mở rộng thị trường nhưng cũng phải đối mặt với áp lực cạnh tranh gay gắt về giá cả, chất lượng và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn. Tình trạng được mùa mất giá, giá bán bấp bênh, chi phí đầu vào tăng cao vẫn là nỗi lo thường trực của người sản xuất. Vậy đâu là nguyên nhân cốt lõi và giải pháp nào giúp nông sản Việt thoát khỏi vòng luẩn quẩn cạnh tranh bằng giá rẻ?
Thúc đẩy giáo dục STEAM, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Thúc đẩy giáo dục STEAM, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Đại học Huế thúc đẩy giáo dục STEAM, tăng hợp tác doanh nghiệp, mở rộng thực tập và phát triển nhân lực chất lượng cao, hướng đến phát triển bền vững...
Làm sạch thị trường phân bón Việt Nam - Kỳ 1: Phân bón giả và những “lỗ hổng” trong quản lý

Làm sạch thị trường phân bón Việt Nam - Kỳ 1: Phân bón giả và những “lỗ hổng” trong quản lý

Phân bón giả, phân bón kém chất lượng không chỉ gây thiệt hại cho người nông dân, làm tổn hại uy tín doanh nghiệp mà còn đặt ra những thách thức đối với công tác quản lý vật tư nông nghiệp. Những vụ việc được phát hiện gần đây cho thấy, bên cạnh thủ đoạn gian lận ngày càng tinh vi, vẫn còn những bất cập cần được nhận diện và khắc phục từ khâu sản xuất đến lưu thông, phân phối.
Tháo gỡ điểm nghẽn vật tư đầu vào cho nông nghiệp hữu cơ

Tháo gỡ điểm nghẽn vật tư đầu vào cho nông nghiệp hữu cơ

Vật tư đầu vào đạt chuẩn có vai trò quan trọng đối với chất lượng nông sản hữu cơ, song nguồn cung, giá thành và khả năng kiểm soát chất lượng vẫn là những thách thức đối với người sản xuất. Tháo gỡ các điểm nghẽn này đòi hỏi sự phối hợp giữa doanh nghiệp, hiệp hội và nông dân nhằm xây dựng chuỗi cung ứng vật tư minh bạch, ổn định và đáp ứng yêu cầu sản xuất hữu cơ.
XEM THÊM
dam-ca-mau-chi-vi-hoa
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2026 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính