ki-niem-15-voaa
Thứ hai 02/11/2026 06:19Thứ hai 02/11/2026 06:19 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Phát triển vùng nguyên liệu đạt chuẩn - Bài 1: Nền tảng khởi tạo chuỗi cung ứng bền vững

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Phát triển vùng nguyên liệu nông, lâm, thủy sản đạt chuẩn, quy mô tập trung và gắn kết bền vững với doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ là xu thế tất yếu của nông nghiệp hiện đại. Đây là nền tảng cốt lõi để xây dựng chuỗi giá trị hiệu quả, minh bạch, nâng cao chất lượng sản phẩm và tối đa hóa thu nhập cho các bên.
Phát triển vùng nguyên liệu đạt chuẩn - Bài 1: Nền tảng khởi tạo chuỗi cung ứng bền vững
(Ảnh minh họa)

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng và nhu cầu thị trường về nông sản minh bạch, chất lượng cao ngày càng tăng, việc phát triển các vùng nguyên liệu đạt chuẩn, quy mô tập trung và gắn kết bền vững với doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ đã trở thành xu hướng tất yếu của nền nông nghiệp hiện đại. Vùng nguyên liệu đạt chuẩn là nền tảng cốt lõi để xây dựng các chuỗi giá trị nông sản hiệu quả và bền vững. Việc chuẩn hóa và tập trung hóa sản xuất mang lại nhiều lợi ích: giúp nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm tổn thất sau thu hoạch và minh bạch hóa quy trình sản xuất; tăng thu nhập ổn định cho nông dân, hợp tác xã (HTX) và doanh nghiệp; đồng thời tạo cơ sở vững chắc cho Nhà nước trong việc quản lý chất lượng, hỗ trợ chính sách (tín dụng, bảo hiểm) và phát triển đồng bộ hệ thống hạ tầng nông nghiệp.

Sau hơn 8 năm thực hiện đề án “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững” và gần 4 năm triển khai kế hoạch cơ cấu lại ngành giai đoạn 2017–2020, nông nghiệp Việt Nam đã đạt được nhiều tiến bộ đáng kể. Sản xuất bắt đầu chuyển đổi theo hướng hình thành các vùng nguyên liệu tập trung quy mô lớn, chuyên canh các nông sản chủ lực như tôm, cá tra, lúa gạo, trái cây, gỗ lớn, gắn với chế biến và tiêu thụ theo chuỗi giá trị. Đây là bước đi quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng và khả năng cạnh tranh của nông sản Việt trên thị trường trong nước và quốc tế.

Tuy nhiên, ngành nông nghiệp vẫn bộc lộ nhiều hạn chế. Sản xuất nhỏ lẻ, manh mún phổ biến, các hộ nông dân chưa liên kết chặt chẽ thành hợp tác xã hay nhóm liên kết với doanh nghiệp chế biến và tiêu thụ. Nhiều nhà máy chế biến thiếu nguồn nguyên liệu ổn định, trong khi một số vùng nguyên liệu đã hình thành nhưng chưa được tổ chức, quản trị và trang bị hạ tầng đầy đủ. Việc thiếu cơ sở dữ liệu sản xuất, truy xuất nguồn gốc và thương hiệu hàng hóa còn hạn chế triển khai đồng bộ các chính sách hỗ trợ của Nhà nước, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh của nông sản.

Trước bối cảnh hội nhập kinh tế sâu rộng và tác động ngày càng lớn của biến đổi khí hậu, việc phát triển các vùng nguyên liệu quy mô lớn, tập trung, hiện đại và bền vững trở thành yêu cầu cấp thiết. Nhằm thực hiện mục tiêu này, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đã chỉ đạo xây dựng “Đề án thí điểm xây dựng vùng nguyên liệu nông, lâm sản đạt chuẩn giai đoạn 2022–2025” trên 13 tỉnh, tập trung vào các sản phẩm chủ lực như cây ăn quả, lúa gạo, cà phê, gỗ lớn. Kinh nghiệm từ 5 vùng nguyên liệu thí điểm này sẽ là cơ sở quan trọng để nhân rộng mô hình ra cả nước, góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp hiện đại, nâng cao thu nhập cho nông dân và phát triển bền vững ngành nông nghiệp Việt Nam.

Thúc đẩy liên kết với doanh nghiệp - khởi tạo chuỗi cung ứng bền vững

Liên kết với doanh nghiệp chế biến và tiêu thụ được xác định là cơ sở để hình thành các vùng nguyên liệu quy mô tập trung, đồng bộ và bền vững. Doanh nghiệp, với vai trò là đầu tàu trong chuỗi giá trị, cam kết thu mua sản phẩm lâu dài và ổn định, từ đó đảm bảo đầu ra rõ ràng, ổn định và minh bạch. Sự cam kết này giúp nông dân và hợp tác xã yên tâm đầu tư vào sản xuất theo quy trình đạt chuẩn, đồng thời giảm thiểu rủi ro từ biến động thị trường hoặc yếu tố ngoại cảnh.

Liên kết doanh nghiệp - nông hộ còn khuyến khích ứng dụng khoa học - công nghệ, giống mới, quy trình canh tác tiên tiến, từ đó nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị thương phẩm. Khi vùng nguyên liệu được tổ chức và quản trị theo nhu cầu thị trường, nó sẽ chuyển từ trạng thái manh mún, tự phát sang trạng thái tập trung, chuẩn hóa và có kiểm soát, tạo ra chuỗi cung ứng đồng bộ từ khâu sản xuất đến chế biến và tiêu thụ.

Ngoài việc đảm bảo ổn định nguồn cung cho doanh nghiệp, mô hình liên kết còn tạo nền tảng phát triển bền vững cho nông dân và hợp tác xã, hình thành thói quen sản xuất theo tiêu chuẩn, nâng cao năng lực quản lý và phát triển thương hiệu. Đồng thời, mối liên kết này còn thúc đẩy sự lan tỏa kỹ thuật và quản trị, hình thành hệ sinh thái sản xuất - chế biến - tiêu thụ có khả năng đáp ứng yêu cầu khắt khe của thị trường, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành hàng trên quy mô cả nước và quốc tế.

Thứ trưởng Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng phát biểu tại Hội nghị.
Thứ trưởng Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng phát biểu tại Hội nghị sơ kết 6 năm triển khai Nghị định số 98/2018/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.

Sau hơn 6 năm triển khai Nghị định 98/2018/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, hướng đi này đã chứng minh tính đúng đắn và phù hợp với đòi hỏi của một nền nông nghiệp hiện đại. Liên kết đã tạo ra bước chuyển mạnh mẽ về tư duy tổ chức sản xuất: giúp chuẩn hóa quy trình, hình thành các vùng nguyên liệu lớn, tập trung, từ đó nâng tầm thương hiệu nông sản Việt trên thị trường quốc tế. Nông dân đã thay đổi tư duy, chuyển từ sản xuất tự phát sang sản xuất theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp, gắn với tiêu chuẩn kỹ thuật và được đảm bảo đầu ra ổn định.

Kết quả sơ kết 6 năm triển khai Nghị định 98 hết sức tích cực. Đến nay, cả nước đã hình thành hơn 3.500 mô hình liên kết chuỗi giá trị, thu hút khoảng 300.000 hộ nông dân tham gia. Đặc biệt, có tới gần 2.000 hợp tác xã (HTX) và tổ hợp tác đóng vai trò đầu mối, tổ chức vùng nguyên liệu và kiểm soát chất lượng. Khoảng 70% mô hình liên kết có sự tham gia của HTX trong vai trò đầu mối. Tổng vốn đầu tư huy động cho các mô hình này đã đạt trên 20.000 tỷ đồng, với tỷ lệ đối ứng vốn của doanh nghiệp chiếm từ 50–60%. Điều này thể hiện xu hướng chia sẻ rủi ro giữa các chủ thể. Với 2.938 dự án liên kết được phê duyệt, tổng vốn huy động đạt hơn 15.200 tỷ đồng, trong đó ngân sách Nhà nước chỉ chiếm 21%. Con số này cho thấy, mỗi đồng ngân sách bỏ ra đã thu hút được 4,6 đồng vốn xã hội đầu tư cho chuỗi liên kết. Nhờ đó, tỷ lệ sản phẩm nông nghiệp được sản xuất theo mô hình hợp tác đã tăng hơn 3 lần so với năm 2016, đạt trên 32% vào cuối năm 2025.

Liên kết không còn dừng lại ở hợp đồng mua – bán nông sản đơn thuần như trước đây, mà đã chuyển sang mô hình quản trị chuỗi giá trị khép kín hơn. Điển hình là Hợp tác xã Long Thành Phát (Đồng Nai) liên kết với Công ty KOYU & UNITEK, nơi nông dân không chỉ ký hợp đồng tiêu thụ mà còn được tăng quyền đàm phán trong việc tự đàm phán với nhà cung cấp vật tư, dịch vụ. Đây là một bước tiến quan trọng. Nhờ cơ chế hỗ trợ của nghị định, nhiều HTX đã được đầu tư kho bảo quản, máy sấy, hệ thống truy xuất nguồn gốc và được đào tạo về năng lực quản trị, giúp họ đủ sức đóng vai trò "xương sống" của chuỗi liên kết.

Phát biểu tại Hội nghị sơ kết 6 năm triển khai Nghị định số 98/2018/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp tổ chức ngày 11/11/2025, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng nhấn mạnh: “Liên kết chuỗi giá trị là chìa khóa thể chế cho nền nông nghiệp hiện đại, thích ứng biến đổi khí hậu và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Đây không chỉ là chỉ đạo, mà còn là định hướng chiến lược cho tương lai ngành nông nghiệp Việt Nam”.

Tầm nhìn đến năm 2030

Phát triển vùng nguyên liệu đạt chuẩn - Bài 1: Nền tảng khởi tạo chuỗi cung ứng bền vững
Việc chuẩn hóa và tập trung hóa sản xuất mang lại nhiều lợi ích: giúp nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm tổn thất sau thu hoạch và minh bạch hóa quy trình sản xuất; tăng thu nhập ổn định cho nông dân, hợp tác xã (HTX) và doanh nghiệp;...

Trong bối cảnh yêu cầu tăng trưởng kinh tế và xuất khẩu nông sản ngày càng cao (mục tiêu tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 65 tỷ USD trong năm 2025), Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành Kế hoạch đẩy nhanh tiến độ thực hiện và đánh giá kết quả Đề án thí điểm giai đoạn 2022 - 2025, đồng thời đề xuất nhân rộng và xây dựng Đề án cho giai đoạn 2026 - 2030.

Kế hoạch lần này cho thấy quyết tâm của ngành nông nghiệp trong việc cải thiện chất lượng chuỗi cung ứng và tăng năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên thị trường toàn cầu. Theo đó, Bộ sẽ tập trung vào 05 nhiệm vụ trọng tâm trong năm 2025: Đẩy mạnh công tác truyền thông về thành quả đạt được; Đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ của Đề án giai đoạn thí điểm (2022 - 2025) để hoàn thành đúng thời gian, đạt hiệu quả, chất lượng; Rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển vùng nguyên liệu; Hướng dẫn triển khai chính sách đầu tư hạ tầng cho HTX phát triển vùng nguyên liệu, thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị; Nghiên cứu xây dựng hệ thống tiêu chí, chỉ tiêu vùng nguyên liệu nông sản đạt chuẩn và hướng dẫn các địa phương mở rộng vùng nguyên liệu.

Về Tầm nhìn 2030, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã đặt mục tiêu mở rộng vùng nguyên liệu lên 1.829.161 ha tại 13 tỉnh (gấp hơn 10 lần so với giai đoạn thí điểm). Điểm mấu chốt là 100% diện tích mở rộng này sẽ có hợp đồng liên kết tiêu thụ sản phẩm với doanh nghiệp, đảm bảo sự ổn định và bền vững tuyệt đối cho chuỗi giá trị nông sản chủ lực.

Đồng thời, Đề án cũng hướng tới việc hoàn thiện chuỗi giá trị bằng cách xây dựng 05 trung tâm logistic hỗ trợ hợp tác xã tại các vùng trọng điểm. Các trung tâm logistic này đóng vai trò là "cầu nối" vật chất và đầu mối trong sơ chế, chế biến, bảo quản, đóng gói và phân phối sản phẩm. Sự ra đời của chúng đảm bảo sự thông suốt, chuyên nghiệp hóa quá trình lưu thông sản phẩm từ vùng nguyên liệu đến thị trường, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh.

Đề án thí điểm được triển khai trên địa bàn 46 huyện, thành phố thuộc 13 tỉnh. Sự thành công của Đề án phụ thuộc vào sự cam kết hợp lực của các thành phần trong chuỗi cung ứng: Bên A (Nguồn cung) gồm 273 HTX và 186.280 hộ nông dân cam kết sản xuất đạt chuẩn; Bên B (Tiêu thụ/Chế biến) là các doanh nghiệp lớn cam kết liên kết, đầu tư và tiêu thụ sản phẩm; và Bên C (Hỗ trợ Chuỗi) là các tổ chức tín dụng (AgriBank), bảo hiểm (ABIC), và công ty công nghệ số hỗ trợ vốn, quản lý rủi ro và số hóa dữ liệu, giúp chuỗi vận hành minh bạch, hiệu quả và an toàn.

Còn tiếp ► Phát triển vùng nguyên liệu đạt chuẩn - Bài 2: Tái cơ cấu nông nghiệp và thúc đẩy hội nhập quốc tế sâu rộng

Giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt -Bài 1: Tính cấp thiết để phát triển nông nghiệp bền vững Giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt -Bài 1: Tính cấp thiết để phát triển nông nghiệp bền vững

Trước diễn biến phức tạp và khó lường của biến đổi khí hậu, sản xuất giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt trở thành ...

Giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt - Bài 2: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam Giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt - Bài 2: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Trong hơn một thập kỷ qua, giảm phát thải khí nhà kính trong nông nghiệp - đặc biệt là lĩnh vực trồng trọt đã được ...

Giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt - Bài cuối: Truyền thông dẫn dắt và lan tỏa tri thức phát triển nông nghiệp xanh Giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt - Bài cuối: Truyền thông dẫn dắt và lan tỏa tri thức phát triển nông nghiệp xanh

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng tác động mạnh mẽ đến sản xuất nông nghiệp, giảm phát thải trong lĩnh vực trồng ...

Bài liên quan

Nông nghiệp tri thức đưa nông sản Việt vươn tầm quốc tế

Nông nghiệp tri thức đưa nông sản Việt vươn tầm quốc tế

Chuyển đổi số và khoa học công nghệ đang trở thành động lực cốt lõi giúp ngành trồng trọt Việt Nam tối ưu hóa chi phí, nâng cao chất lượng và chinh phục thị trường toàn cầu.
Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 56,3 tỷ USD sau 9 tháng

Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 56,3 tỷ USD sau 9 tháng

Sau 9 tháng năm 2026, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 56,3 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả sản xuất lúa và thủy sản tiếp tục tăng trưởng, tạo cơ sở để ngành nông nghiệp đẩy mạnh các nhiệm vụ trong quý IV, phấn đấu hoàn thành mục tiêu xuất khẩu cả năm từ 74 tỷ USD trở lên.
Đi làm thủ tục đất đai, người dân cần biết những gì?

Đi làm thủ tục đất đai, người dân cần biết những gì?

Nộp hồ sơ cần giấy tờ gì, bao lâu có kết quả, nếu bị chậm thì hỏi ai? Nắm rõ những điều này sẽ giúp người dân chủ động hơn và bảo vệ quyền lợi của mình khi làm thủ tục đất đai.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường tập trung phát triển công nghệ chiến lược

Bộ Nông nghiệp và Môi trường tập trung phát triển công nghệ chiến lược

Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định các nhiệm vụ công nghệ chiến lược, chuyển đổi số và truy xuất nguồn gốc là trọng tâm, hướng tới sản phẩm có giá trị thực.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường rà soát nhiệm vụ, phấn đấu hoàn thành mục tiêu năm 2026

Bộ Nông nghiệp và Môi trường rà soát nhiệm vụ, phấn đấu hoàn thành mục tiêu năm 2026

Hội nghị giao ban quý III của Bộ Nông nghiệp và Môi trường tập trung đánh giá kết quả 9 tháng, rà soát nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm 3 tháng cuối năm 2026.
453 sản phẩm tranh tài tại Hội thi thủ công mỹ nghệ Việt Nam 2026

453 sản phẩm tranh tài tại Hội thi thủ công mỹ nghệ Việt Nam 2026

Ngày 30/9, Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) thông tin về Hội thi sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam năm 2026. Đây là lần thứ 6 hội thi được tổ chức trên phạm vi cả nước, với thông điệp “Tinh hoa nghề Việt sáng tạo, nâng tầm giá trị và hội nhập”.

CÁC TIN BÀI KHÁC

Nâng cao năng lực sản xuất nông nghiệp cho 150 học viên tại Tuyên Quang

Nâng cao năng lực sản xuất nông nghiệp cho 150 học viên tại Tuyên Quang

Trung tâm Khuyến nông tỉnh Tuyên Quang tổ chức tập huấn kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi an toàn sinh học cho 150 học viên tại 12 địa phương, góp phần chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp tuần hoàn, an toàn và bền vững.
Nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam

Nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam

Mới đây, tại Hà Nội, Hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề “Quản lý tài nguyên bền vững và thúc đẩy chuỗi giá trị nông sản – thực phẩm minh bạch, trách nhiệm trong bối cảnh mới” do Khoa Bất động sản và Kinh tế tài nguyên (Đại học Kinh tế Quốc dân) tổ chức với sự phối hợp của Trường Đại học Mỏ – Địa chất, Trường Đại học Thủ đô Hà Nội và Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam và hướng tới mô hình phát triển kinh tế xanh, minh bạch, có trách nhiệm.
Gỡ nút thắt vật tư nông nghiệp hữu cơ - Kỳ 2: Giải pháp từ chính sách đến thị trường

Gỡ nút thắt vật tư nông nghiệp hữu cơ - Kỳ 2: Giải pháp từ chính sách đến thị trường

Chuẩn hóa nguyên liệu, nâng cao chất lượng phân bón, phát triển chế phẩm sinh học và tăng cường liên kết sản xuất là những giải pháp được đặt ra từ thực tiễn doanh nghiệp. Để các giải pháp phát huy hiệu quả, cần có sự phối hợp giữa cơ quan quản lý, đơn vị nghiên cứu, doanh nghiệp và người sản xuất hữu cơ.
Cố Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn - người tiên phong đưa cây mắc ca từ Australia về Việt Nam

Cố Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn - người tiên phong đưa cây mắc ca từ Australia về Việt Nam

Trong hành trình đổi mới nông nghiệp Việt Nam, có những con người không chỉ để lại dấu ấn qua những quyết sách trong thời gian đương chức, mà còn được nhớ đến bởi tầm nhìn vượt trước thời gian. Cố Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn là một trong những người như vậy. Gắn bó với lĩnh vực nông nghiệp trong nhiều năm, ông quan tâm đến việc tìm kiếm những giống cây trồng mới, có giá trị kinh tế cao, phù hợp với điều kiện sinh thái nước ta. Trong câu chuyện phát triển cây mắc ca ở Việt Nam, tên tuổi ông gắn với những nỗ lực vận động, nghiên cứu và thúc đẩy đưa loại cây có nguồn gốc từ Australia này vào sản xuất.
Gỡ nút thắt vật tư nông nghiệp hữu cơ - Kỳ 1: Những rào cản từ thực tiễn

Gỡ nút thắt vật tư nông nghiệp hữu cơ - Kỳ 1: Những rào cản từ thực tiễn

Vật tư đầu vào đáp ứng tiêu chuẩn, giá thành hợp lý và phát huy hiệu quả trên đồng ruộng đang là mối quan tâm của nhiều doanh nghiệp sản xuất hữu cơ. Tại hội nghị về vật tư đầu vào tổ chức ngày 17/10 ở TP. Hồ Chí Minh, những khó khăn từ khâu sản xuất phân bón đến sử dụng chế phẩm sinh học đã được đặt ra, cho thấy yêu cầu tháo gỡ các rào cản trong chuỗi cung ứng vật tư phục vụ nông nghiệp hữu cơ.
Đắk Lắk khai thác hiệu quả phụ phẩm chăn nuôi để phát triển phân bón hữu cơ

Đắk Lắk khai thác hiệu quả phụ phẩm chăn nuôi để phát triển phân bón hữu cơ

UBND tỉnh Đắk Lắk yêu cầu rà soát toàn diện tình hình hoạt động các dự án chăn nuôi trên địa bàn, đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội, việc sử dụng tài nguyên và tác động môi trường. Tỉnh định hướng phát triển ngành chăn nuôi theo chuỗi giá trị khép kín, đẩy mạnh chế biến sâu, ứng dụng công nghệ cao và kinh tế tuần hoàn, hướng đến nâng cao giá trị gia tăng và phát triển nông nghiệp bền vững.
Tiêu chuẩn hữu cơ - Bài 2: Đừng để giấy chứng nhận đi trước chất lượng

Tiêu chuẩn hữu cơ - Bài 2: Đừng để giấy chứng nhận đi trước chất lượng

Tiêu chuẩn ngày càng hoàn thiện, cơ chế quản lý chất lượng tiếp tục được đổi mới, nhưng thước đo cuối cùng của nông nghiệp hữu cơ vẫn là sự tuân thủ trong sản xuất và niềm tin của người tiêu dùng. Khi chi phí chuyển đổi còn là trở ngại, năng lực kiểm soát chất lượng chưa đồng đều và thông tin sản phẩm có nguy cơ gây nhầm lẫn, câu hỏi đặt ra không chỉ là làm thế nào để có thêm sản phẩm được chứng nhận, mà quan trọng hơn, làm sao để mỗi chứng nhận thực sự có giá trị.
Tiêu chuẩn hữu cơ Việt Nam - Bài 1: Nền tảng đã có, yêu cầu mới đang đặt ra

Tiêu chuẩn hữu cơ Việt Nam - Bài 1: Nền tảng đã có, yêu cầu mới đang đặt ra

Sau gần một thập kỷ xây dựng, Việt Nam đã hình thành hệ thống tiêu chuẩn quốc gia về nông nghiệp hữu cơ, từng bước mở rộng từ trồng trọt, chăn nuôi đến nhiều sản phẩm đặc thù. Đặc biệt, những thay đổi trong pháp luật về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và chất lượng sản phẩm, hàng hóa có hiệu lực từ năm 2026 đang đặt ra yêu cầu nhìn nhận đầy đủ hơn vai trò của tiêu chuẩn. Vấn đề không chỉ là có bao nhiêu tiêu chuẩn được công bố, mà là chúng tạo ra giá trị gì cho sản xuất, quản lý chất lượng và thị trường.
Liên kết "bốn nhà" và tổ chức chuỗi bán ra: Chìa khóa nâng cao giá trị nông sản Việt

Liên kết "bốn nhà" và tổ chức chuỗi bán ra: Chìa khóa nâng cao giá trị nông sản Việt

Trong quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn, liên kết "bốn nhà" gồm Nhà nước, nhà khoa học, nhà nông và nhà doanh nghiệp tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong tổ chức sản xuất, nâng cao chất lượng nông sản và mở rộng thị trường. Tuy nhiên, để mối liên kết này thực sự phát huy hiệu quả, cần chuyển trọng tâm từ hỗ trợ sản xuất sang tổ chức chuỗi giá trị đồng bộ, đặc biệt là khâu tiêu thụ và xây dựng hệ thống bán hàng. Sản xuất tốt mới là điều kiện cần; tổ chức được đầu ra ổn định, có lợi nhuận và đáp ứng nhu cầu thị trường mới là yếu tố quyết định tính bền vững của chuỗi nông sản.
Phú Thọ tăng cường hợp tác phát triển các sản phẩm nông nghiệp giá trị kinh tế cao

Phú Thọ tăng cường hợp tác phát triển các sản phẩm nông nghiệp giá trị kinh tế cao

Đồng chí Phạm Đại Dương - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Phú Thọ đã chủ trì hội nghị trao đổi hợp tác với Viện Di truyền Nông nghiệp Việt Nam về phát triển các sản phẩm nông nghiệp giá trị kinh tế cao giai đoạn 2026 - 2035.
Thúc đẩy nông nghiệp hữu cơ và sinh thái: Tháo gỡ điểm nghẽn, kết nối thị trường

Thúc đẩy nông nghiệp hữu cơ và sinh thái: Tháo gỡ điểm nghẽn, kết nối thị trường

Từ vật tư đầu vào, tiêu chuẩn, chứng nhận đến tổ chức sản xuất, chế biến và tiêu thụ, nhiều vấn đề thực tiễn được các nhà khoa học, doanh nghiệp, hợp tác xã đưa ra tại Hội thảo “Thúc đẩy phát triển nông nghiệp hữu cơ và sinh thái ở Việt Nam”. Nhìn lại chặng đường 15 năm hình thành và phát triển của Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam (VOAA) (2011 - 2026), các đại biểu đề xuất những giải pháp để mở rộng sản xuất, củng cố niềm tin thị trường và nâng cao giá trị cho người làm hữu cơ.
Đắk Lắk phát triển vùng cà phê hữu cơ theo tiêu chuẩn Mỹ và châu Âu hướng đến xuất khẩu

Đắk Lắk phát triển vùng cà phê hữu cơ theo tiêu chuẩn Mỹ và châu Âu hướng đến xuất khẩu

Công ty TNHH MTV Cà phê 15 đang phát triển vùng canh tác cà phê hữu cơ tại xã Ea Tul, tỉnh Đắk Lắk, với diện tích 21,24 ha, hướng đến sản xuất theo tiêu chuẩn USDA-NOP và EU Organic, góp phần nâng cao chất lượng, giá trị và tính bền vững của hạt cà phê.
XEM THÊM
dam-ca-mau-chi-vi-hoa
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2026 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính