Chủ nhật 17/05/2026 17:36Chủ nhật 17/05/2026 17:36 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Phát triển vùng nguyên liệu đạt chuẩn - Bài 1: Nền tảng khởi tạo chuỗi cung ứng bền vững

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Phát triển vùng nguyên liệu nông, lâm, thủy sản đạt chuẩn, quy mô tập trung và gắn kết bền vững với doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ là xu thế tất yếu của nông nghiệp hiện đại. Đây là nền tảng cốt lõi để xây dựng chuỗi giá trị hiệu quả, minh bạch, nâng cao chất lượng sản phẩm và tối đa hóa thu nhập cho các bên.
Phát triển vùng nguyên liệu đạt chuẩn - Bài 1: Nền tảng khởi tạo chuỗi cung ứng bền vững
(Ảnh minh họa)

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng và nhu cầu thị trường về nông sản minh bạch, chất lượng cao ngày càng tăng, việc phát triển các vùng nguyên liệu đạt chuẩn, quy mô tập trung và gắn kết bền vững với doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ đã trở thành xu hướng tất yếu của nền nông nghiệp hiện đại. Vùng nguyên liệu đạt chuẩn là nền tảng cốt lõi để xây dựng các chuỗi giá trị nông sản hiệu quả và bền vững. Việc chuẩn hóa và tập trung hóa sản xuất mang lại nhiều lợi ích: giúp nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm tổn thất sau thu hoạch và minh bạch hóa quy trình sản xuất; tăng thu nhập ổn định cho nông dân, hợp tác xã (HTX) và doanh nghiệp; đồng thời tạo cơ sở vững chắc cho Nhà nước trong việc quản lý chất lượng, hỗ trợ chính sách (tín dụng, bảo hiểm) và phát triển đồng bộ hệ thống hạ tầng nông nghiệp.

Sau hơn 8 năm thực hiện đề án “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững” và gần 4 năm triển khai kế hoạch cơ cấu lại ngành giai đoạn 2017–2020, nông nghiệp Việt Nam đã đạt được nhiều tiến bộ đáng kể. Sản xuất bắt đầu chuyển đổi theo hướng hình thành các vùng nguyên liệu tập trung quy mô lớn, chuyên canh các nông sản chủ lực như tôm, cá tra, lúa gạo, trái cây, gỗ lớn, gắn với chế biến và tiêu thụ theo chuỗi giá trị. Đây là bước đi quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng và khả năng cạnh tranh của nông sản Việt trên thị trường trong nước và quốc tế.

Tuy nhiên, ngành nông nghiệp vẫn bộc lộ nhiều hạn chế. Sản xuất nhỏ lẻ, manh mún phổ biến, các hộ nông dân chưa liên kết chặt chẽ thành hợp tác xã hay nhóm liên kết với doanh nghiệp chế biến và tiêu thụ. Nhiều nhà máy chế biến thiếu nguồn nguyên liệu ổn định, trong khi một số vùng nguyên liệu đã hình thành nhưng chưa được tổ chức, quản trị và trang bị hạ tầng đầy đủ. Việc thiếu cơ sở dữ liệu sản xuất, truy xuất nguồn gốc và thương hiệu hàng hóa còn hạn chế triển khai đồng bộ các chính sách hỗ trợ của Nhà nước, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh của nông sản.

Trước bối cảnh hội nhập kinh tế sâu rộng và tác động ngày càng lớn của biến đổi khí hậu, việc phát triển các vùng nguyên liệu quy mô lớn, tập trung, hiện đại và bền vững trở thành yêu cầu cấp thiết. Nhằm thực hiện mục tiêu này, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đã chỉ đạo xây dựng “Đề án thí điểm xây dựng vùng nguyên liệu nông, lâm sản đạt chuẩn giai đoạn 2022–2025” trên 13 tỉnh, tập trung vào các sản phẩm chủ lực như cây ăn quả, lúa gạo, cà phê, gỗ lớn. Kinh nghiệm từ 5 vùng nguyên liệu thí điểm này sẽ là cơ sở quan trọng để nhân rộng mô hình ra cả nước, góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp hiện đại, nâng cao thu nhập cho nông dân và phát triển bền vững ngành nông nghiệp Việt Nam.

Thúc đẩy liên kết với doanh nghiệp - khởi tạo chuỗi cung ứng bền vững

Liên kết với doanh nghiệp chế biến và tiêu thụ được xác định là cơ sở để hình thành các vùng nguyên liệu quy mô tập trung, đồng bộ và bền vững. Doanh nghiệp, với vai trò là đầu tàu trong chuỗi giá trị, cam kết thu mua sản phẩm lâu dài và ổn định, từ đó đảm bảo đầu ra rõ ràng, ổn định và minh bạch. Sự cam kết này giúp nông dân và hợp tác xã yên tâm đầu tư vào sản xuất theo quy trình đạt chuẩn, đồng thời giảm thiểu rủi ro từ biến động thị trường hoặc yếu tố ngoại cảnh.

Liên kết doanh nghiệp - nông hộ còn khuyến khích ứng dụng khoa học - công nghệ, giống mới, quy trình canh tác tiên tiến, từ đó nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị thương phẩm. Khi vùng nguyên liệu được tổ chức và quản trị theo nhu cầu thị trường, nó sẽ chuyển từ trạng thái manh mún, tự phát sang trạng thái tập trung, chuẩn hóa và có kiểm soát, tạo ra chuỗi cung ứng đồng bộ từ khâu sản xuất đến chế biến và tiêu thụ.

Ngoài việc đảm bảo ổn định nguồn cung cho doanh nghiệp, mô hình liên kết còn tạo nền tảng phát triển bền vững cho nông dân và hợp tác xã, hình thành thói quen sản xuất theo tiêu chuẩn, nâng cao năng lực quản lý và phát triển thương hiệu. Đồng thời, mối liên kết này còn thúc đẩy sự lan tỏa kỹ thuật và quản trị, hình thành hệ sinh thái sản xuất - chế biến - tiêu thụ có khả năng đáp ứng yêu cầu khắt khe của thị trường, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành hàng trên quy mô cả nước và quốc tế.

Thứ trưởng Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng phát biểu tại Hội nghị.
Thứ trưởng Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng phát biểu tại Hội nghị sơ kết 6 năm triển khai Nghị định số 98/2018/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.

Sau hơn 6 năm triển khai Nghị định 98/2018/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, hướng đi này đã chứng minh tính đúng đắn và phù hợp với đòi hỏi của một nền nông nghiệp hiện đại. Liên kết đã tạo ra bước chuyển mạnh mẽ về tư duy tổ chức sản xuất: giúp chuẩn hóa quy trình, hình thành các vùng nguyên liệu lớn, tập trung, từ đó nâng tầm thương hiệu nông sản Việt trên thị trường quốc tế. Nông dân đã thay đổi tư duy, chuyển từ sản xuất tự phát sang sản xuất theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp, gắn với tiêu chuẩn kỹ thuật và được đảm bảo đầu ra ổn định.

Kết quả sơ kết 6 năm triển khai Nghị định 98 hết sức tích cực. Đến nay, cả nước đã hình thành hơn 3.500 mô hình liên kết chuỗi giá trị, thu hút khoảng 300.000 hộ nông dân tham gia. Đặc biệt, có tới gần 2.000 hợp tác xã (HTX) và tổ hợp tác đóng vai trò đầu mối, tổ chức vùng nguyên liệu và kiểm soát chất lượng. Khoảng 70% mô hình liên kết có sự tham gia của HTX trong vai trò đầu mối. Tổng vốn đầu tư huy động cho các mô hình này đã đạt trên 20.000 tỷ đồng, với tỷ lệ đối ứng vốn của doanh nghiệp chiếm từ 50–60%. Điều này thể hiện xu hướng chia sẻ rủi ro giữa các chủ thể. Với 2.938 dự án liên kết được phê duyệt, tổng vốn huy động đạt hơn 15.200 tỷ đồng, trong đó ngân sách Nhà nước chỉ chiếm 21%. Con số này cho thấy, mỗi đồng ngân sách bỏ ra đã thu hút được 4,6 đồng vốn xã hội đầu tư cho chuỗi liên kết. Nhờ đó, tỷ lệ sản phẩm nông nghiệp được sản xuất theo mô hình hợp tác đã tăng hơn 3 lần so với năm 2016, đạt trên 32% vào cuối năm 2025.

Liên kết không còn dừng lại ở hợp đồng mua – bán nông sản đơn thuần như trước đây, mà đã chuyển sang mô hình quản trị chuỗi giá trị khép kín hơn. Điển hình là Hợp tác xã Long Thành Phát (Đồng Nai) liên kết với Công ty KOYU & UNITEK, nơi nông dân không chỉ ký hợp đồng tiêu thụ mà còn được tăng quyền đàm phán trong việc tự đàm phán với nhà cung cấp vật tư, dịch vụ. Đây là một bước tiến quan trọng. Nhờ cơ chế hỗ trợ của nghị định, nhiều HTX đã được đầu tư kho bảo quản, máy sấy, hệ thống truy xuất nguồn gốc và được đào tạo về năng lực quản trị, giúp họ đủ sức đóng vai trò "xương sống" của chuỗi liên kết.

Phát biểu tại Hội nghị sơ kết 6 năm triển khai Nghị định số 98/2018/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp tổ chức ngày 11/11/2025, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng nhấn mạnh: “Liên kết chuỗi giá trị là chìa khóa thể chế cho nền nông nghiệp hiện đại, thích ứng biến đổi khí hậu và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Đây không chỉ là chỉ đạo, mà còn là định hướng chiến lược cho tương lai ngành nông nghiệp Việt Nam”.

Tầm nhìn đến năm 2030

Phát triển vùng nguyên liệu đạt chuẩn - Bài 1: Nền tảng khởi tạo chuỗi cung ứng bền vững
Việc chuẩn hóa và tập trung hóa sản xuất mang lại nhiều lợi ích: giúp nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm tổn thất sau thu hoạch và minh bạch hóa quy trình sản xuất; tăng thu nhập ổn định cho nông dân, hợp tác xã (HTX) và doanh nghiệp;...

Trong bối cảnh yêu cầu tăng trưởng kinh tế và xuất khẩu nông sản ngày càng cao (mục tiêu tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 65 tỷ USD trong năm 2025), Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành Kế hoạch đẩy nhanh tiến độ thực hiện và đánh giá kết quả Đề án thí điểm giai đoạn 2022 - 2025, đồng thời đề xuất nhân rộng và xây dựng Đề án cho giai đoạn 2026 - 2030.

Kế hoạch lần này cho thấy quyết tâm của ngành nông nghiệp trong việc cải thiện chất lượng chuỗi cung ứng và tăng năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên thị trường toàn cầu. Theo đó, Bộ sẽ tập trung vào 05 nhiệm vụ trọng tâm trong năm 2025: Đẩy mạnh công tác truyền thông về thành quả đạt được; Đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ của Đề án giai đoạn thí điểm (2022 - 2025) để hoàn thành đúng thời gian, đạt hiệu quả, chất lượng; Rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển vùng nguyên liệu; Hướng dẫn triển khai chính sách đầu tư hạ tầng cho HTX phát triển vùng nguyên liệu, thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị; Nghiên cứu xây dựng hệ thống tiêu chí, chỉ tiêu vùng nguyên liệu nông sản đạt chuẩn và hướng dẫn các địa phương mở rộng vùng nguyên liệu.

Về Tầm nhìn 2030, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã đặt mục tiêu mở rộng vùng nguyên liệu lên 1.829.161 ha tại 13 tỉnh (gấp hơn 10 lần so với giai đoạn thí điểm). Điểm mấu chốt là 100% diện tích mở rộng này sẽ có hợp đồng liên kết tiêu thụ sản phẩm với doanh nghiệp, đảm bảo sự ổn định và bền vững tuyệt đối cho chuỗi giá trị nông sản chủ lực.

Đồng thời, Đề án cũng hướng tới việc hoàn thiện chuỗi giá trị bằng cách xây dựng 05 trung tâm logistic hỗ trợ hợp tác xã tại các vùng trọng điểm. Các trung tâm logistic này đóng vai trò là "cầu nối" vật chất và đầu mối trong sơ chế, chế biến, bảo quản, đóng gói và phân phối sản phẩm. Sự ra đời của chúng đảm bảo sự thông suốt, chuyên nghiệp hóa quá trình lưu thông sản phẩm từ vùng nguyên liệu đến thị trường, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh.

Đề án thí điểm được triển khai trên địa bàn 46 huyện, thành phố thuộc 13 tỉnh. Sự thành công của Đề án phụ thuộc vào sự cam kết hợp lực của các thành phần trong chuỗi cung ứng: Bên A (Nguồn cung) gồm 273 HTX và 186.280 hộ nông dân cam kết sản xuất đạt chuẩn; Bên B (Tiêu thụ/Chế biến) là các doanh nghiệp lớn cam kết liên kết, đầu tư và tiêu thụ sản phẩm; và Bên C (Hỗ trợ Chuỗi) là các tổ chức tín dụng (AgriBank), bảo hiểm (ABIC), và công ty công nghệ số hỗ trợ vốn, quản lý rủi ro và số hóa dữ liệu, giúp chuỗi vận hành minh bạch, hiệu quả và an toàn.

Còn tiếp Phát triển vùng nguyên liệu đạt chuẩn - Bài 2: Tái cơ cấu nông nghiệp và thúc đẩy hội nhập quốc tế sâu rộng

Giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt -Bài 1: Tính cấp thiết để phát triển nông nghiệp bền vững Giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt -Bài 1: Tính cấp thiết để phát triển nông nghiệp bền vững

Trước diễn biến phức tạp và khó lường của biến đổi khí hậu, sản xuất giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt trở thành ...

Giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt - Bài 2: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam Giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt - Bài 2: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Trong hơn một thập kỷ qua, giảm phát thải khí nhà kính trong nông nghiệp - đặc biệt là lĩnh vực trồng trọt đã được ...

Giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt - Bài cuối: Truyền thông dẫn dắt và lan tỏa tri thức phát triển nông nghiệp xanh Giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt - Bài cuối: Truyền thông dẫn dắt và lan tỏa tri thức phát triển nông nghiệp xanh

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng tác động mạnh mẽ đến sản xuất nông nghiệp, giảm phát thải trong lĩnh vực trồng ...

Bài liên quan

24 tỉnh thành cần ứng phó với nguy cơ thiếu nước

24 tỉnh thành cần ứng phó với nguy cơ thiếu nước

Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa có công văn đề nghị UBND 24 tỉnh, thành phố chủ động triển khai các giải pháp ứng phó nguy cơ thiếu hụt nguồn nước do huy động thủy điện trong bối cảnh bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia mùa cạn năm 2026.
Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản vượt 23 tỷ USD: Áp lực chuyển từ sản lượng sang giá trị

Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản vượt 23 tỷ USD: Áp lực chuyển từ sản lượng sang giá trị

4 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng, đạt 23,04 tỷ USD, tăng 5,4% so với cùng kỳ. Kết quả này cho thấy vai trò quan trọng của khu vực nông nghiệp trong ổn định kinh tế, song cũng đặt ra yêu cầu ngày càng rõ về chất lượng, tiêu chuẩn, truy xuất nguồn gốc và phát triển chuỗi giá trị bền vững.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất 12 vị trí công tác phải định kỳ chuyển đổi

Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất 12 vị trí công tác phải định kỳ chuyển đổi

Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang lấy ý kiến dự thảo Thông tư quy định danh mục và thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí công tác trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc lĩnh vực nông nghiệp và môi trường. Theo dự thảo, có 12 vị trí công tác phải định kỳ chuyển đổi, với thời hạn từ đủ 2 năm đến 5 năm nhằm phòng ngừa tham nhũng, bảo đảm khách quan trong thực thi công vụ.
Cập nhật quy định SPS, hỗ trợ xuất khẩu nông sản

Cập nhật quy định SPS, hỗ trợ xuất khẩu nông sản

Sáng 14/5, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với phối hợp với UBND tỉnh Đắk Lắk tổ chức Hội nghị “Cập nhật và phổ biến thông tin các quy định về an toàn thực phẩm và kiểm dịch động, thực vật (SPS) trong Hiệp định RCEP và Nghị định số 280 của Trung Quốc”. Hội nghị do Thứ trưởng Võ Văn Hưng chủ trì, cùng đồng chủ trì của Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk Nguyễn Thiên Văn, thu hút sự tham gia hội nghị có hơn 150 đại biểu tham dự trực tiếp và các điểm cầu tại 34 tỉnh/thành phố là các nhà quản lý, doanh nghiệp, hợp tác xã và người sản xuất.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng làm việc với UBND tỉnh Đắk Lắk

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng làm việc với UBND tỉnh Đắk Lắk

Đoàn công tác của Bộ Nông nghiệp và Môi trường do Thứ trưởng Võ Văn Hưng làm Trưởng đoàn đã có buổi làm việc với UBND tỉnh Đắk Lắk nhằm đánh giá tình hình phát triển nông nghiệp, môi trường và tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc của địa phương.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường hướng dẫn chuyển đổi mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói

Bộ Nông nghiệp và Môi trường hướng dẫn chuyển đổi mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói

Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành Văn bản số 4547/BNNMT-TTTV hướng dẫn các địa phương thống nhất triển khai Nghị định số 38/2026/NĐ-CP về mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói. Việc chuẩn hóa mã số nhằm tăng cường truy xuất nguồn gốc, đáp ứng yêu cầu kiểm dịch thực vật và các quy định ngày càng chặt chẽ của thị trường nhập khẩu.

CÁC TIN BÀI KHÁC

"Đòn bẩy" hiện đại hóa ngành chăn nuôi Việt Nam

"Đòn bẩy" hiện đại hóa ngành chăn nuôi Việt Nam

Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (khóa XIII) về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia được ban hành trong khi ngành chăn nuôi Việt Nam đang đứng trước những yêu cầu cấp thiết về đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất và hội nhập quốc tế. Đây không chỉ là một văn bản định hướng chính sách mà còn là “kim chỉ nam” thúc đẩy quá trình hiện đại hóa toàn diện ngành chăn nuôi - từ phương thức sản xuất, quản trị chuỗi giá trị đến ứng dụng khoa học công nghệ và phát triển bền vững.
Nông nghiệp hữu cơ không chỉ là kỹ thuật, mà là niềm tin và kỷ luật cộng đồng

Nông nghiệp hữu cơ không chỉ là kỹ thuật, mà là niềm tin và kỷ luật cộng đồng

Sáng 10/5, trong khuôn khổ Khóa tập huấn Lãnh đạo Nông nghiệp Sinh thái và Hữu cơ (AOLC 2026), các học viên đã tham quan thực địa mô hình sản xuất rau hữu cơ của Liên nhóm hữu cơ Thanh Xuân tại xã Nội Bài, Hà Nội. Sau gần hai thập kỷ bền bỉ, mô hình này tiếp tục cho thấy vai trò quan trọng của cộng đồng, kỷ luật sản xuất và hệ thống bảo đảm có sự tham gia trong phát triển nông nghiệp hữu cơ.
Phục hồi rừng bản địa - những kết quả ban đầu và triển vọng phát triển

Phục hồi rừng bản địa - những kết quả ban đầu và triển vọng phát triển

Tại hội thảo, nhiều đại biểu khẳng định phục hồi rừng bản địa có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên và khả năng hấp thụ carbon...
Cao Bằng có đưa di sản văn hóa “múa rồng – kỳ lân” thành tài nguyên du lịch đặc sắc?

Cao Bằng có đưa di sản văn hóa “múa rồng – kỳ lân” thành tài nguyên du lịch đặc sắc?

Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống mở ra nhiều cơ hội cho phát triển kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực du lịch văn hoá. Tại Cao Bằng, múa rồng – kỳ lân là một loại hình nghệ thuật dân gian đặc sắc có lịch sử truyền thống văn hoá tồn tại qua nhiều thế hệ và gắn bó mật thiết với đời sống tinh thần của cộng đồng các dân tộc. Trong xu hướng phát triển du lịch văn hoá hiện nay, việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống, trong đó có nghệ thuật múa rồng – kỳ lân, để trở thành sản phẩm du lịch đặc trưng được xem là hướng đi quan trọng. Điều này không chỉ góp phần gìn giữ và lan toả những giá trị văn hoá truyền thống mà còn quảng bá hình ảnh, con người và bản sắc văn hoá Cao Bằng đến với du khách trong nước và quốc tế.
Công nghiệp văn hóa: Động cơ mới cho sự phát triển và quyền lực mềm

Công nghiệp văn hóa: Động cơ mới cho sự phát triển và quyền lực mềm

Trong thế kỷ XXI, khái niệm về sự giàu có của một quốc gia không còn chỉ đo lường bằng trữ lượng dầu mỏ, quặng sắt hay số lượng nhà máy sản xuất thép. Một loại hình kinh tế mới, dựa trên sức mạnh của sự sáng tạo, trí tuệ và bản sắc dân tộc, đang trỗi dậy mạnh mẽ: Công nghiệp văn hóa (Cultural Industries).
Khi người cao tuổi ‘thắp lửa’ kinh tế xanh

Khi người cao tuổi ‘thắp lửa’ kinh tế xanh

Nông nghiệp hữu cơ tuần hoàn đang trở thành hướng đi tất yếu để bảo vệ hành tinh và sức khỏe cộng đồng. Tại Phú Thọ, hình ảnh những người cao tuổi tiên phong khởi nghiệp xanh đã minh chứng cho sức mạnh của kinh nghiệm kết nối cùng khát vọng bền vững.
Đan Mạch chia sẻ kinh nghiệm về truyền thông nhãn hữu cơ qua những ví dụ thực tiễn điển hình

Đan Mạch chia sẻ kinh nghiệm về truyền thông nhãn hữu cơ qua những ví dụ thực tiễn điển hình

Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường phối hợp với Đại sứ quán Đan Mạch tại Việt Nam tổ chức Hội thảo về “Truyền thông và nâng cao nhận thức đối với nông nghiệp hữu cơ” từ ngày 6 -7/5 tại Hà Nội.
Xây dựng mạng lưới lãnh đạo tiên phong cho nông nghiệp sinh thái và hữu cơ Việt Nam

Xây dựng mạng lưới lãnh đạo tiên phong cho nông nghiệp sinh thái và hữu cơ Việt Nam

Ngày 7/5, tại Hà Nội, Khóa tập huấn Lãnh đạo Nông nghiệp Sinh thái và Hữu cơ (AOLC) chính thức khai mạc với sự phối hợp tổ chức của Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam, IFOAM Organics International và Naturland. Chương trình quy tụ 27 học viên được tuyển chọn từ gần 70 hồ sơ trên cả nước, hướng tới xây dựng mạng lưới những nhân tố tiên phong thúc đẩy nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp hữu cơ và hệ thống thực phẩm bền vững tại Việt Nam.
Mã số vùng trồng: "Giấy thông hành" cho Nông sản Việt vươn xa

Mã số vùng trồng: "Giấy thông hành" cho Nông sản Việt vươn xa

Trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, nông nghiệp Việt Nam đang chuyển dịch mạnh mẽ từ tư duy "sản xuất nông nghiệp" sang "kinh tế nông nghiệp". Một trong những yếu tố then chốt, đóng vai trò là "bệ đỡ" vững chắc để nông sản Việt vượt qua các rào cản kỹ thuật khắt khe và tiến quân vào các thị trường cao cấp chính là Mã số vùng trồng (MSVT).
Hiện trạng phát triển nông nghiệp hữu cơ tại Việt Nam

Hiện trạng phát triển nông nghiệp hữu cơ tại Việt Nam

Với lịch sử canh tác hữu cơ đã hình thành từ lâu, nông nghiệp Việt Nam là ngành có lợi thế so sánh bởi tính đa dạng và quy mô sản lượng, chất lượng hàng đầu thế giới. Cùng với đó, các nông sản có nhiều tiềm năng nhưng chưa được khai thác hợp lý, đặc biệt là thủy sản, rau quả và dược liệu, song do cơ chế chính sách và đầu tư quảng bá xúc tiến thương mại, khả năng ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất hữu cơ còn hạn chế, diện tích nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam còn chưa khai thác hết tiềm năng.
Thực hành tiết kiệm là để phát triển

Thực hành tiết kiệm là để phát triển

Tiết kiệm là một trong những đức tính quan trọng của con người, đặc biệt trong xã hội hiện đại với nhiều biến động về kinh tế và môi trường. Không chỉ đơn thuần là việc giảm chi tiêu hay cất giữ tiền bạc, tiết kiệm còn là một lối sống, một tư duy giúp cá nhân và xã hội phát triển bền vững.
Chấm phá xu hướng phát triển nông nghiệp hữu cơ trên thế giới

Chấm phá xu hướng phát triển nông nghiệp hữu cơ trên thế giới

Các nguyên tắc sản xuất nông nghiệp hữu cơ được quy định trong tiêu chuẩn của IFOAM, với mục tiêu đảm bảo hệ sinh thái cây trồng, vật nuôi, tạo ra những sản phẩm có chất lượng an toàn với người sử dụng, đem lại hiệu quả kinh tế, duy trì và nâng cao độ màu mỡ của đất.
XEM THÊM
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2025 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính