![]() |
Những ngày giáp Tết, câu chuyện quen thuộc ở nhiều gia đình không chỉ “ăn gì cho ngon” mà còn là “ăn gì cho sạch”. Nỗi ám ảnh về rau tồn dư thuốc, thịt còn kháng sinh, thực phẩm chế biến chứa chất bảo quản độc hại len lỏi vào những cuộc trò chuyện bên mâm cơm. Người Việt bắt đầu sẵn sàng chi thêm tiền để có thực phẩm an toàn hơn, truy xuất được nguồn gốc rõ ràng, để yên tâm cho gia đình và cũng để bớt cảm giác “mắc nợ” với môi trường.
Trong dòng chuyển dịch đó, nông nghiệp hữu cơ nổi lên như một hướng đi có thể cùng lúc trả lời được hai vấn đề: giảm áp lực lên khí hậu và hệ sinh thái, đồng thời mang tới nguồn thực phẩm an toàn, có giá trị kinh tế cao hơn cho người sản xuất.
Theo số liệu toàn cầu về diện tích và thị trường NNHC trích từ báo cáo “Th e World of Organic Agriculture - Statistics and Emerging Trends 2025” do FiBL và IFOAM - Organics International công bố (năm 2023), đến những năm gần đây, thế giới có gần 99 triệu hecta đất được canh tác theo phương thức hữu cơ. Trong khoảng 10 năm, diện tích đất hữu cơ đã tăng khoảng 150%. Doanh số thực phẩm hữu cơ đã vượt mốc khoảng 136 đến 140 tỷ euro mỗi năm, cho thấy người tiêu dùng toàn cầu đang “bỏ phiếu bằng ví tiền” cho sản phẩm sạch, công bằng, thân thiện với môi trường.
Liên đoàn các phong trào canh tác NNHC quốc tế (IFOAM) định nghĩa nông nghiệp hữu cơ là một hệ thống sản xuất lấy sức khỏe của đất, hệ sinh thái và con người làm nền tảng. Cách sản xuất này dựa trên các quá trình sinh thái, sự đa dạng sinh học và các chu trình tự nhiên, thay vì phụ thuộc vào hóa chất tổng hợp. Điều đó có nghĩa là không dùng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật tổng hợp, chất kích thích tăng trưởng, sản phẩm đột biến gen hay phân bắc, mà ưu tiên luân canh, phân chuồng ủ nóng, phân xanh, phân vi sinh, kết hợp các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp.
Ở chiều ngược lại, nghiên cứu của Ngân hàng Th ế giới về Việt Nam, Trung Quốc,… cho thấy sản xuất nông nghiệp thâm canh hóa chất đã gây ô nhiễm môi trường ở mức độ tương đương công nghiệp. Phân bón hóa học, thuốc trừ sâu trôi xuống sông hồ, ngấm vào mạch nước ngầm, làm suy thoái đất và hệ sinh thái thủy sinh. Th eo Tổ chức Nông lương Liên Hợp Quốc (FAO), nông nghiệp hiện đóng góp khoảng 30% tổng phát thải khí nhà kính toàn cầu, trong đó canh tác hóa học và chăn nuôi công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn.
![]() |
| Chè Shan tuyết là giống đặc sản của tỉnh Tuyên Quang. (Ảnh minh họa) |
Trong bối cảnh đó, canh tác hữu cơ được xem là một lời giải nông nghiệp carbon thấp. Đất được bón nhiều chất hữu cơ có khả năng giữ nước tốt hơn, chống xói mòn, đồng thời là một “bể chứa” carbon tự nhiên, góp phần giảm lượng khí nhà kính trong khí quyển. Hệ thống canh tác đa dạng, tránh phụ thuộc độc canh giúp tăng khả năng chống chịu trước hạn hán, lũ lụt, sâu bệnh, những rủi ro đang gia tăng cùng với biến đổi khí hậu. Không dừng ở môi trường, thực phẩm hữu cơ với quy trình kiểm soát chặt chẽ đầu vào, thường có dư lượng hóa chất thấp hơn đáng kể. Việc giảm tiếp xúc với các chất có nguy cơ rối loạn nội tiết, gây ung thư, bệnh tim mạch hay tiểu đường là mong muốn rất thực của nhiều gia đình, nhất là ở đô thị. Quan trọng hơn, những người trực tiếp làm việc trên đồng ruộng, vốn từng hít thở, chạm tay vào hóa chất hằng ngày, cũng là đối tượng được lợi khi chuyển sang mô hình ít hoặc không dùng thuốc trừ sâu và phân bón vô cơ.Không ngẫu nhiên mà IFOAM xác định tầm nhìn đến năm 2030, NNHC sẽ đóng góp quan trọng cho an ninh lương thực, là lựa chọn được ưa chuộng trong sử dụng đất ở nông thôn, góp phần bảo vệ hệ sinh thái và sức khỏe con người.
Những định hướng chiến lược cho NNHC
Về chính sách, bước ngoặt lớn đến vào năm 2018,khi Chính phủ ban hành Nghị định 109/2018/NĐCP về nông nghiệp hữu cơ, quy định chi tiết từ sản xuất, chế biến, bảo quản, vận chuyển đến ghi nhãn, quảng cáo. Năm 2020, Quyết định 885/QĐ-TTg của Th ủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2020 - 2030 đặt mục tiêu xây dựng nền NNHC có giá trị gia tăng cao, bền vững, thân thiện môi trường, gắn với kinh tế tuần hoàn, phục vụ cả thị trường trong nước và xuất khẩu. Giá trị sản phẩm trên 1 ha đất trồng trọt, nuôi trồng hữu cơ được kỳ vọng cao gấp 1,5 đến 1,8 lần so với sản xuất thông thường.
Về mặt đường lối, Kết luận số 219-KL/TW ngày 26/11/2025 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 19-NQ/TW Trung ương khóa XIII nêu rõ yêu cầu cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng xanh, hữu cơ, tuần hoàn, phát thải thấp, bảo vệ môi trường sinh thái, gắn với ứng dụng công nghệ cao và chuyển đổi số.
Tại Lễ kỷ niệm 80 năm Ngành Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT), Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh nhiệm vụ tái cơ cấu nông nghiệp từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu, từ chạy theo sản lượng sang nâng chất lượng, giá trị gia tăng, xây dựng thương hiệu, phát triển mạnh nông nghiệp sinh thái, hữu cơ, tuần hoàn, ứng dụng công nghệ cao.
Thứ trưởng Bộ NN&MT Phùng Đức Tiến khẳng định xây dựng chuỗi giá trị xanh, gắn với mô hình sản xuất an toàn, thân thiện môi trường, bảo vệ đất đai, nguồn nước, đa dạng sinh học, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, nông nghiệp hữu cơ và nông nghiệp giảm phát thải là nhiệm vụ chiến lược. Th eo ông Tiến, phát triển các chuỗi giá trị xanh là bước đi tất yếu để xây dựng nền nông nghiệp ít phát thải, ít tổn hại môi trường, đồng thời tối ưu hóa lợi ích kinh tế và nâng cao chất lượng sống của người dân.
Nhìn từ các mốc đó, có thể thấy NNHC đã đi từ những nỗ lực “hai bàn tay trắng” đến chỗ được đặt vào trung tâm của chiến lược phát triển nông nghiệp quốc gia.
![]() |
| Lễ trao Giấy chứng nhận chuyển đổi sản xuất hữu cơ năm thứ 2 cho Tổ hợp tác sản xuất bưởi Phúc Trạch hữu cơ (Hà Tĩnh). |
Những mảnh ghép hữu cơ sống động
Trên thực tế, nhiều địa phương đã và đang tìm cách chuyển hóa các chủ trương hữu cơ thành mô hình cụ thể.
Tại Ninh Bình, ngay sau khi Nghị định 109/2018/ NĐ-CP có hiệu lực, ngành nông nghiệp của tỉnh đã thử nghiệm mô hình lúa - cá hữu cơ với quy mô 5 ha. Từ kết quả ban đầu, tỉnh ban hành các nghị quyết hỗ trợ sản xuất lúa hữu cơ, từng bước nhân rộng diện tích lúa và rau màu sản xuất theo quy trình hữu cơ. Tuy vậy, lãnh đạo ngành cũng thừa nhận thách thức là ở những vùng từng thâm canh hóa chất, quá trình chuyển đổi đòi hỏi thời gian dài để cải tạo đất, ổn định lại hệ sinh thái đồng ruộng, chấp nhận giai đoạn đầu năng suất giảm.
Ở Hà Tĩnh, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Nguyễn Hữu Ngọc cho rằng các chủ trương, chính sách khuyến khích NNHC từ trung ương đến địa phương là thuận lợi lớn. Nhận thức của người dân về sản xuất bền vững, lợi ích môi trường và sức khỏe được nâng lên, lực lượng lao động trẻ, có hiểu biết về công nghệ thông tin, nắm bắt kỹ thuật nhanh là một lợi thế. Nhưng Hà Tĩnh cũng đối mặt với bài toán đất đai manh mún, tập quán sử dụng phân bón vô cơ và thuốc BVTV để chạy theo năng suất, khó khăn trong tiếp cận vốn và việc tổ chức các mô hình hữu cơ quy mô lớn, sản xuất theo chuỗi. Tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030, diện tích nhóm đất nông nghiệp sản xuất hữu cơ đạt khoảng 2 đến 2,5% tổng diện tích đất nông nghiệp, nhưng để đạt được con số này đòi hỏi nỗ lực rất lớn.
Còn tại tỉnh miền núi như Tuyên Quang, hiện sở hữu vùng lòng hồ thủy điện hơn 8.000 ha nước sạch, những vùng núi cao trên 1.000 m, rất thuận lợi cho NNHC, đặc biệt với cây chè Shan tuyết đặc sản. Th ế nhưng sản xuất hữu cơ ở đây vẫn chủ yếu nhỏ lẻ, tự phát, thiếu doanh nghiệp dẫn dắt, thiếu chuỗi giá trị khép kín từ sản xuất đến tiêu thụ, đầu tư cho chế biến còn hạn chế. Hệ thống PGS được IFOAM công nhận nhưng chưa được chấp nhận rộng rãi trong chính sách hỗ trợ, khiến nhiều mô hình khó tiếp cận ưu đãi.
Ở Hải Phòng, NNHC thể hiện lăng kính du lịch. Tại Đồ Sơn, Bàng La,… những vườn nho Hạ Đen, nho sữa, những vườn táo muối Bàng La đã trở thành điểm đến trải nghiệm. Mùa hè vừa qua, nhiều gia đình bất ngờ khi ngay giữa thành phố cảng lại có những vườn nho trĩu quả, xanh mướt. Họ mua vé với mức chi phí khoảng 30.000 đồng/người, bước vào không gian xanh, tự tay hái những chùm nho, quả táo, nghe chủ vườn giới thiệu về cách giảm thiểu thuốc bảo vệ thực vật, tăng sử dụng phân bón hữu cơ, biện pháp sinh học.
Những ví dụ ấy cho thấy NNHC đã bước ra khỏi tài liệu, đi vào ruộng đồng, vườn cây, trở thành những mảnh ghép cụ thể trong bức tranh nông thôn mới.
Dù có nhiều tiềm năng, NNHC vẫn đối diện với hàng loạt thách thức không dễ vượt qua. Quy trình sản xuất hữu cơ đòi hỏi nghiêm ngặt về đất, nước, vùng cách ly; cần thời gian dài để chuyển đổi, trong khi người nông dân phải chấp nhận năng suất giảm, chi phí tăng. Việc ứng dụng tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) về hữu cơ ở nhiều nơi gặp khó vì quy hoạch vùng trồng chưa hợp lý, thiếu vùng đệm tách biệt với sản xuất truyền thống.
Thị trường cũng là một bài toán lớn. Nhu cầu vốn vay ưu đãi của các hộ, HTX và doanh nghiệp làm hữu cơ là rất cao, nhưng khả năng tiếp cận tín dụng hạn chế vì thiếu tài sản thế chấp, thủ tục còn phức tạp. Số doanh nghiệp tham gia sản xuất, chế biến, tiêu thụ, liên kết chuỗi hữu cơ chưa nhiều, các mô hình chủ yếu quy mô nhỏ, sức cạnh tranh trên thị trường còn yếu.
Đáng lo ngại nhất là sự mập mờ trong khái niệm và nhãn mác sản phẩm. Ủy viên BTV VOAA Từ Th ị Tuyết Nhung cho biết, về nguyên tắc, sản phẩm hữu cơ phải được chứng nhận theo TCVN hoặc tiêu chuẩn quốc tế được chấp nhận ở Việt Nam, có nhãn chứng nhận với logo, số hiệu đơn vị cấp chứng nhận và số chứng nhận cụ thể. Tuy nhiên, trên thị trường vẫn phổ biến các khái niệm như “hướng hữu cơ”, “tự nhiên”, “eco” được sử dụng tùy tiện, dễ gây nhầm lẫn.
Bà Nhung nhấn mạnh, quá trình chuyển đổi theo tiêu chuẩn hữu cơ có thể có những giai đoạn trung gian, nhưng không thể mập mờ giữa “đang chuyển đổi” và “đã đạt chuẩn hữu cơ”. Bà cho rằng Nhà nước cần có thuật ngữ rõ ràng cho các mô hình sản xuất tốt theo NNHC, đồng thời tăng cường kiểm soát việc dán nhãn, công khai danh sách tổ chức chứng nhận được phép hoạt động, tránh tình trạng người tiêu dùng “mua bằng niềm tin”.
Trong bối cảnh đó, nâng cao nhận thức người tiêu dùng về thế nào là hữu cơ, phân biệt với sản phẩm VietGAP, OCOP hay các nhãn mác khác trở nên đặc biệt quan trọng. Khi người mua hiểu rõ quyền lợi của mình, biết cách đọc nhãn, kiểm tra nguồn gốc, thị trường sẽ có thêm một “lực lượng giám sát” tự nhiên, buộc doanh nghiệp và nhà sản xuất không thể làm ăn gian dối.
Để NNHC thực sự trở thành con đường tất yếu, không chỉ cần cơ chế chính sách, vốn, khoa học công nghệ, mà còn cần một lực đẩy quan trọng từ báo chí và truyền thông. Trong xã hội hiện đại, báo chí, truyền hình, phát thanh, nền tảng số là cầu nối giữa nông dân, doanh nghiệp, nhà khoa học, nhà hoạch định chính sách và người tiêu dùng.
Vai trò của báo chí, truyền thông trước hết là cung cấp thông tin chính xác, dễ hiểu về NNHC: khái niệm, tiêu chuẩn, lợi ích, thách thức, quy trình chứng nhận. Khi công chúng hiểu đúng, họ mới có thể lựa chọn đúng và tạo sức ép tích cực lên thị trường. Không chỉ phản ánh những mô hình điển hình, báo chí còn có trách nhiệm phân tích, lý giải những câu chuyện phía sau tấm nhãn chứng nhận “hữu cơ”, chỉ ra những bất cập trong quản lý, nhãn mác, chứng nhận; đồng thời tôn vinh những nỗ lực của nông dân, HTX, doanh nghiệp.
Các tạp chí chuyên ngành như Tạp chí Hữu cơ Việt Nam, cùng với báo, đài trung ương và địa phương, có thể trở thành những “trung tâm tri thức” về NNHC, là diễn đàn kết nối các chủ thể trong chuỗi giá trị. Báo chí sẽ góp phần đưa câu chuyện “ăn sạch, sống xanh” từ khẩu hiệu thành lựa chọn cụ thể trên bàn ăn, trên đồng ruộng và trong chính sách.
Khi thông tin đúng và đủ, người tiêu dùng sẽ tin rằng chọn hữu cơ không chỉ là chọn một sản phẩm “sạch hơn”, mà là chọn cách đối xử tử tế hơn với đất đai, nước, không khí, với người nông dân và với chính sức khỏe của gia đình mình. Mỗi quyết định bỏ thêm một phần tiền để mua sản phẩm hữu cơ, khi có điều kiện và có thông tin minh bạch, là một lá phiếu ủng hộ cho một nền nông nghiệp ít hóa chất hơn, một nền kinh tế xanh hơn.
Trong không khí Tết, khi chuẩn bị mâm cỗ sum vầy, mỗi bó rau, cân gạo, miếng thịt, hoa quả được sản xuất an toàn, minh bạch không chỉ là sự chăm chút cho một bữa ăn ngon, mà còn là một khoản đầu tư cho tương lai. Hữu cơ vì thế đã đi ra ngoài phạm vi của một trào lưu tiêu dùng. Đó là một lựa chọn phát triển, một cam kết với con cháu mai sau rằng chúng ta không chỉ nghĩ cho hôm nay, mà còn nghĩ cho một ngày mai trong lành hơn.