ki-niem-15-voaa
Thứ ba 14/07/2026 21:47Thứ ba 14/07/2026 21:47 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Vượt qua thách thức để phát triển nông nghiệp hữu cơ

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Nông nghiệp hữu cơ, một mô hình sản xuất thân thiện với môi trường và sức khỏe người tiêu dùng, đang ngày càng thu hút sự quan tâm của cả người sản xuất lẫn người tiêu dùng tại Việt Nam. Tuy nhiên, để nông nghiệp hữu cơ phát triển mạnh mẽ và bền vững, vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua.
Vườn rau hữu cơ Thành Công, xã Thanh Xuân, Sóc Sơn, Hà Nội. Ảnh VOAA
Vườn rau hữu cơ Thành Công, xã Thanh Xuân, Sóc Sơn, Hà Nội. Ảnh VOAA

Chi phí sản xuất cao và năng suất thấp

Một trong những rào cản lớn nhất đối với việc phát triển nông nghiệp hữu cơ là chi phí sản xuất cao. So với nông nghiệp truyền thống, việc sản xuất nông sản hữu cơ yêu cầu nhiều yếu tố đầu vào như giống cây trồng chất lượng, phân bón hữu cơ, biện pháp kiểm soát sâu bệnh tự nhiên, đòi hỏi nông dân đầu tư lớn.

Bên cạnh đó, nông sản hữu cơ có năng suất thấp hơn so với canh tác thông thường, do không sử dụng hóa chất hoặc các chất kích thích tăng trưởng. Điều này làm tăng chi phí sản xuất và làm cho sản phẩm hữu cơ có giá thành cao hơn, khiến người tiêu dùng phải cân nhắc khi lựa chọn.

Thiếu hệ thống chứng nhận và quản lý chất lượng

Việc thiếu một hệ thống chứng nhận hữu cơ đầy đủ và minh bạch khiến cho thị trường nông sản hữu cơ tại Việt Nam gặp nhiều khó khăn. Thực tế, các cơ sở sản xuất nông sản hữu cơ không được kiểm tra, giám sát chặt chẽ dẫn đến tình trạng nhiều sản phẩm chưa đạt chuẩn nhưng vẫn được gắn nhãn “hữu cơ”.

Điều này không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm mà còn làm giảm niềm tin của người tiêu dùng vào các sản phẩm hữu cơ. Hệ thống chứng nhận chất lượng cần được hoàn thiện để đảm bảo rằng sản phẩm hữu cơ thực sự đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế, từ đó tạo dựng lòng tin với người tiêu dùng.

Thị trường tiêu thụ chưa ổn định

Mặc dù nhu cầu về thực phẩm hữu cơ đang gia tăng, thị trường tiêu thụ sản phẩm hữu cơ tại Việt Nam vẫn chưa phát triển ổn định và đồng đều. Các sản phẩm hữu cơ chủ yếu chỉ xuất hiện tại các thành phố lớn, trong khi ở các khu vực nông thôn, người dân vẫn chưa mặn mà với sản phẩm hữu cơ do giá thành cao và thiếu thông tin về lợi ích của nó. Điều này khiến cho nông dân gặp khó khăn trong việc tiêu thụ sản phẩm của mình, từ đó giảm động lực để tiếp tục sản xuất nông sản hữu cơ.

Ngoài ra, hệ thống phân phối hiện tại chủ yếu phụ thuộc vào các kênh bán lẻ truyền thống, trong khi sự phát triển của các kênh phân phối hiện đại như thương mại điện tử và chuỗi siêu thị hữu cơ vẫn còn hạn chế. Việc xây dựng các kênh phân phối hiệu quả, kết nối trực tiếp giữa nông dân và người tiêu dùng sẽ giúp mở rộng thị trường cho sản phẩm hữu cơ.

Thiếu sự hỗ trợ từ chính sách

Nông nghiệp hữu cơ được coi là một hướng đi bền vững, nhưng chính sách hỗ trợ từ Nhà nước đối với mô hình này vẫn còn thiếu và chưa thực sự hiệu quả. Các nông dân sản xuất hữu cơ vẫn phải đối mặt với các khó khăn về tín dụng, thiếu chính sách bảo vệ giá trị sản phẩm và không được hưởng các ưu đãi thuế như các mô hình sản xuất khác.

Điều này khiến nông dân ngần ngại chuyển sang canh tác hữu cơ, dù họ nhận thức được lợi ích lâu dài mà mô hình này mang lại. Để nông nghiệp hữu cơ phát triển bền vững, cần có chính sách hỗ trợ mạnh mẽ từ Nhà nước, bao gồm các chương trình khuyến khích chuyển đổi sang canh tác hữu cơ, hỗ trợ đào tạo kỹ thuật và mở rộng các kênh tiêu thụ.

Thiếu nguồn nhân lực và đào tạo chuyên sâu

Một yếu tố quan trọng không thể bỏ qua khi phát triển nông nghiệp hữu cơ là nguồn nhân lực. Nông dân vẫn chưa có đầy đủ kiến thức và kỹ năng để áp dụng các phương pháp canh tác hữu cơ hiệu quả.

Hơn nữa, việc chuyển từ sản xuất nông nghiệp truyền thống sang hữu cơ đòi hỏi thời gian để học hỏi, thay đổi thói quen và nâng cao kỹ năng. Việc thiếu các chương trình đào tạo bài bản cho nông dân về kỹ thuật canh tác hữu cơ, xử lý đất đai và phòng trừ sâu bệnh tự nhiên đang là một yếu tố cản trở quá trình chuyển đổi. Chính vì vậy, các khóa đào tạo, hội thảo và các chương trình hỗ trợ kỹ thuật phải được triển khai mạnh mẽ hơn để cung cấp cho nông dân các kiến thức cần thiết.

Th.S Đặng Thị Bích Hường – Phó Chủ tịch, Tổng thư ký Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam chia sẻ về cách nhận diện sản phẩm hữu cơ, logo của các chứng nhận hữu cơ trên thế giới.
Th.S Đặng Thị Bích Hường - Phó Chủ tịch, Tổng thư ký Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam (VOAA) chia sẻ về cách nhận diện sản phẩm hữu cơ, logo của các chứng nhận hữu cơ trên thế giới. Ảnh VOAA

Để vượt qua những thách thức trên, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan Nhà nước, doanh nghiệp, và người dân. Chính phủ cần hoàn thiện các chính sách hỗ trợ, đẩy mạnh việc xây dựng hệ thống chứng nhận chất lượng và tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiêu thụ sản phẩm hữu cơ.

Các tổ chức, hợp tác xã nông dân cần đầu tư vào hệ thống đào tạo, chia sẻ kiến thức và kết nối thị trường, đồng thời phát triển các mô hình tiêu thụ hiệu quả như thương mại điện tử và các chuỗi cửa hàng hữu cơ. Khi các yếu tố này được giải quyết, nông nghiệp hữu cơ sẽ có cơ hội phát triển mạnh mẽ hơn và trở thành nền tảng cho một nền nông nghiệp bền vững trong tương lai.

Phát triển nông nghiệp hữu cơ tại Việt Nam là một bước đi đúng đắn trong xu hướng phát triển nông nghiệp bền vững, bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng. Tuy nhiên, để mô hình này thực sự phát triển mạnh mẽ và bền vững, cần phải vượt qua những thách thức lớn về chi phí sản xuất, quản lý chất lượng, thị trường tiêu thụ, chính sách và nguồn nhân lực. Các bên liên quan cần hợp tác để tạo dựng một nền tảng vững chắc, từ đó thúc đẩy nông nghiệp hữu cơ phát triển lâu dài và mang lại lợi ích cho xã hội.

Biến đổi khí hậu tác động mạnh mẽ đến đời sống kinh tế toàn cầu, đầu tư cho phát triển xanh là xu hướng tất yếu. Những năm qua, nước ta đã có bước chuyển mới hướng tới một nền kinh tế xanh, trong đó có việc đẩy mạnh phát triển nông nghiệp xanh để bảo đảm bền vững các trụ cột kinh tế - xã hội - môi trường.

Trong bối cảnh đó, nhiều cơ chế, chính sách tạo điều kiện phát triển nông nghiệp xanh đã được ban hành, như: Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 16/6/2022, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 khẳng định, vai trò của nông nghiệp là lợi thế quốc gia, trụ đỡ của nền kinh tế, trong đó phát triển nông nghiệp gắn với nông nghiệp xanh, hữu cơ, tuần hoàn, gắn với nhu cầu thị trường.

Trước đó, năm 2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 109/2018/NĐ-CP về nông nghiệp hữu cơ và năm 2020 Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 885/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2020-2030. Mục tiêu phát triển nền nông nghiệp hữu cơ có giá trị gia tăng cao, bền vững, thân thiện với môi trường sinh thái, gắn với kinh tế nông nghiệp tuần hoàn phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Sản phẩm nông nghiệp hữu cơ được chứng nhận phù hợp với tiêu chuẩn nông nghiệp hữu cơ của khu vực và thế giới; đưa Việt Nam trở thành quốc gia có trình độ sản xuất nông nghiệp hữu cơ ngang bằng các nước tiên tiến trên thế giới.

Bài liên quan

Bảo vệ động vật hoang dã - Hành động thiết thực vì sự phát triển bền vững

Bảo vệ động vật hoang dã - Hành động thiết thực vì sự phát triển bền vững

Việc bảo vệ động vật hoang dã là góp phần duy trì cân bằng hệ sinh thái và còn là trách nhiệm của mỗi cá nhân trong việc gìn giữ tài nguyên thiên nhiên...
Gian nan hành trình tìm "hộ chiếu” quốc tế cho hạt gạo ruộng rươi đất Cảng

Gian nan hành trình tìm "hộ chiếu” quốc tế cho hạt gạo ruộng rươi đất Cảng

Nằm biệt lập ngoài đê bãi bồi xã Kiến Quốc, nay là xã Nghi Dương, TP. Hải Phòng, những cánh đồng lúa - rươi của Công ty CP Đầu tư Hải Âu Việt cùng các hộ dân liên kết đang viết nên một câu chuyện đặc biệt về nông nghiệp bền vững. Trải qua gần 10 năm kiên trì bám trụ, hạt gạo bãi bồi nơi đây đã chính thức giành được "tấm hộ chiếu" khắt khe để bước ra thế giới.
Tp. Huế: Phường Thuận An đấu giá đất nông nghiệp, thúc đẩy phát triển bền vững

Tp. Huế: Phường Thuận An đấu giá đất nông nghiệp, thúc đẩy phát triển bền vững

Việc tổ chức đấu giá quỹ đất công ích góp phần khai thác hiệu quả nguồn lực đất đai, tăng nguồn thu cho ngân sách và tạo cơ hội cho người dân...
BVTW Huế: Lan tỏa giá trị nhân văn, khẳng định bước tiến của y học Việt Nam

BVTW Huế: Lan tỏa giá trị nhân văn, khẳng định bước tiến của y học Việt Nam

Một bệnh nhân mắc xơ gan giai đoạn cuối đã được xuất viện trong tình trạng sức khỏe ổn định sau ca ghép gan từ người hiến chết não tại Bệnh viện Trung ương Huế
Huế chuyển đổi mục đích gần 382 ha rừng trồng để triển khai 3 dự án trọng điểm

Huế chuyển đổi mục đích gần 382 ha rừng trồng để triển khai 3 dự án trọng điểm

Theo nghị quyết được thông qua, tổng diện tích rừng trồng được chuyển mục đích sử dụng là 381,97 ha.Trong đó, diện tích rừng sản xuất chiếm 379,15 ha...
Tp. Huế kịp thời khống chế một vụ cháy trên diện tích khoảng 4 ha

Tp. Huế kịp thời khống chế một vụ cháy trên diện tích khoảng 4 ha

Thực tế cho thấy, phần lớn các vụ cháy thực bì và cháy rừng đều xuất phát từ những hoạt động sử dụng lửa thiếu kiểm soát trong điều kiện thời tiết khô nóng...

CÁC TIN BÀI KHÁC

Quan hệ tương hỗ giữa số hoá và kinh tế xanh trong phát triển bền vững

Quan hệ tương hỗ giữa số hoá và kinh tế xanh trong phát triển bền vững

Số hoá và kinh tế xanh có mối quan hệ tương hỗ chặt chẽ trong phát triển bền vững. Công nghệ số giúp tối ưu sử dụng tài nguyên, giảm phát thải và nâng cao hiệu quả quản lý, trong khi kinh tế xanh tạo động lực cho đổi mới công nghệ sạch, thúc đẩy mô hình sản xuất, tiêu dùng thân thiện với môi trường và tăng trưởng dài hạn.
Giảm phát thải và loại bỏ khí nhà kính - Đột phá chiến lược để đạt được mục tiêu Net Zero

Giảm phát thải và loại bỏ khí nhà kính - Đột phá chiến lược để đạt được mục tiêu Net Zero

Biến đổi khí hậu ngày càng nghiêm trọng, giảm phát thải khí nhà kính đã trở thành nhiệm vụ cấp bách của toàn cầu. Nhiều quốc gia đã đưa ra cam kết đạt mức phát thải ròng bằng “0” (Net Zero) vào giữa thế kỷ XXI nhằm hạn chế mức tăng nhiệt độ trái đất.
Đánh giá hiệu quả kinh tế và môi trường của mô hình sản xuất rau hữu cơ tại tỉnh Tuyên Quang

Đánh giá hiệu quả kinh tế và môi trường của mô hình sản xuất rau hữu cơ tại tỉnh Tuyên Quang

Nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế và môi trường của mô hình sản xuất rau hữu cơ tại tỉnh Tuyên Quang cho thấy, dù chi phí lao động cao hơn sản xuất truyền thống, mô hình vẫn mang lại lợi nhuận vượt trội, đồng thời giảm ô nhiễm môi trường, cải thiện độ phì nhiêu đất và góp phần thúc đẩy nền nông nghiệp phát triển bền vững.
Phát động bình chọn các điển hình tiên tiến phát triển nông nghiệp hữu cơ Việt Nam năm 2026

Phát động bình chọn các điển hình tiên tiến phát triển nông nghiệp hữu cơ Việt Nam năm 2026

Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam (VOAA) vừa có Công văn đề nghị Ủy ban nhân dân, Sở Nông nghiệp và Môi trường các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phối hợp giới thiệu, đề cử các tập thể, cá nhân tiêu biểu tham gia Chương trình “Lễ tôn vinh điển hình tiên tiến phát triển nông nghiệp hữu cơ Việt Nam lần thứ III – 2026”.
Nuôi trùn quế dưới điện mặt trời: Lợi ích “kép” trên một diện tích

Nuôi trùn quế dưới điện mặt trời: Lợi ích “kép” trên một diện tích

Tận dụng phần diện tích bên dưới các tấm pin để nuôi trùn quế đang mở ra hướng kết hợp giữa sản xuất năng lượng tái tạo và nông nghiệp hữu cơ tuần hoàn. Tuy nhiên, để mô hình phát huy hiệu quả, chủ đầu tư phải giải quyết đồng thời các yêu cầu về kỹ thuật nuôi, an toàn điện, môi trường, đất đai và đầu ra sản phẩm.
Lợi ích của thị trường carbon đối với Việt Nam

Lợi ích của thị trường carbon đối với Việt Nam

Biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp, việc cắt giảm phát thải khí nhà kính đã trở thành ưu tiên hàng đầu của nhiều quốc gia. Tuy nhiên, giảm phát thải không chỉ là vấn đề môi trường mà còn liên quan mật thiết đến tăng trưởng kinh tế, năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững.
Hội Nông dân xã Chân Mây - Lăng Cô biến phụ phẩm thành tài nguyên

Hội Nông dân xã Chân Mây - Lăng Cô biến phụ phẩm thành tài nguyên

Sáng 30/6, Hội Nông dân xã Chân Mây - Lăng Cô đã tổ chức Lễ ra mắt Tổ hội nghề nghiệp “Sản xuất phân bón hữu cơ từ bã tràm”, xây dựng nền nông nghiệp xanh...
Một số vấn đề về phát triển nông nghiệp xanh ở Việt Nam

Một số vấn đề về phát triển nông nghiệp xanh ở Việt Nam

Phát triển nông nghiệp xanh đang trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm hướng tới tăng trưởng bền vững ở Việt Nam. Tuy nhiên, quá trình này vẫn đối mặt với nhiều khó khăn như quy mô sản xuất nhỏ lẻ, hạn chế về công nghệ, nguồn vốn và thị trường. Việc tháo gỡ các rào cản sẽ tạo động lực cho nông nghiệp xanh phát triển hiệu quả.
Bảo tồn và phát huy giá trị vườn quốc gia Cát Bà - di sản thiên nhiên thế giới thực trạng và giải pháp

Bảo tồn và phát huy giá trị vườn quốc gia Cát Bà - di sản thiên nhiên thế giới thực trạng và giải pháp

Vườn quốc gia Cát Bà, thành phần của Di sản Thiên nhiên Thế giới Vịnh Hạ Long - Quần đảo Cát Bà, đang đối mặt với áp lực từ du lịch và biến đổi môi trường. Bài viết phân tích thực trạng bảo tồn, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm phát huy giá trị di sản theo hướng bền vững.
Ứng dụng phân hữu cơ vi sinh trong canh tác lúa để giảm sử dụng phân hóa học

Ứng dụng phân hữu cơ vi sinh trong canh tác lúa để giảm sử dụng phân hóa học

Nghiên cứu đánh giá hiệu quả ứng dụng phân hữu cơ vi sinh trong canh tác lúa nhằm giảm sử dụng phân hóa học. Kết quả cho thấy có thể giảm 20–30% lượng phân hóa học mà vẫn duy trì hoặc tăng năng suất, đồng thời cải thiện độ phì đất, bảo vệ môi trường và nâng cao hiệu quả kinh tế cho nông dân.
Đàn kiến vàng "kể chuyện" làm hữu cơ giữa vườn tắc Cần Thơ

Đàn kiến vàng "kể chuyện" làm hữu cơ giữa vườn tắc Cần Thơ

Giữa khu vườn tắc xanh mướt rộng gần 6 ha ở xã Tân Hòa, TP Cần Thơ, TSKH Hà Phúc Mịch, Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam (VOAA), dừng chân khá lâu dưới một tán cây ken đặc những tổ kiến vàng. Theo ông, sự xuất hiện của những loài côn trùng nhỏ bé ấy là dấu hiệu dễ nhận thấy nhất cho thấy khu vườn đang được chăm sóc theo hướng thuận tự nhiên.
Cấu trúc quản trị rừng và tác động đến hiệu quả môi trường - bằng chứng từ dữ liệu cấp tỉnh tại Việt Nam

Cấu trúc quản trị rừng và tác động đến hiệu quả môi trường - bằng chứng từ dữ liệu cấp tỉnh tại Việt Nam

Nghiên cứu này phân tích mối quan hệ giữa cấu trúc quản trị rừng và hiệu quả môi trường tại Việt Nam, dựa trên dữ liệu tổng hợp từ 12 tỉnh theo báo cáo của các địa phương năm 2025. Kết quả cho thấy, hiệu quả môi trường (được phản ánh thông qua số vụ vi phạm lâm nghiệp và tiềm năng hấp thụ carbon) không phụ thuộc đơn thuần vào quy mô tài nguyên rừng, mà chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi cấu trúc quản trị, đặc biệt là mức độ phân cấp và xác lập quyền sở hữu rừng
XEM THÊM
dam-ca-mau-chi-vi-hoa
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2025 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính