ki-niem-15-voaa
Thứ tư 23/09/2026 05:43Thứ tư 23/09/2026 05:43 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Tìm giải pháp nâng cao giá trị chuỗi sản xuất ngành sắn

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Với mục tiêu đến năm 2030 kim ngạch xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn của Việt Nam đạt 1,8-2,0 tỷ USD, hướng tới 2,5 tỷ USD vào năm 2050. Bên cạnh đó góp phần hiện thực hóa mục tiêu nông nghiệp xanh, sinh thái và kinh tế tuần hoàn.
ông Hoàng Văn Hồng – Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông quốc gia phát biểu tại hội thảo.
ông Hoàng Văn Hồng – Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông quốc gia phát biểu tại hội thảo.

Hướng tới nâng cao giá trị của cây sắn

Trong ngày 4/11, Trung tâm khuyến nông Quốc gia đã phối hợp cùng Viện cây lương thực, thực phẩm; Sở Nông nghiệp, Môi trường Thanh Hóa tổ chức hội thảo giải pháp nâng cao hiệu quả chuỗi giá trị sản xuất sắn bền vững tại xã Lam Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Tại hội thảo, ông Hoàng Văn Hồng – Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông quốc gia khẳng định: Sắn là cây trồng được đưa vào danh mục sản phẩm cây trồng chủ lực quốc gia, có đóng góp vô cùng quan trọng trong việc phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống của nhân dân. Sản tại Việt Nam luôn duy trì diện tích ổn định trên 500.000 ha, với sản lượng từ 10-10,7 triệu tấn củ tươi mỗi năm. Các sản phẩm xuất khẩu từ sắn đạt kim ngạch xuất khẩu đạt từ 1,4 - 1,5 tỷ USD/năm, đứng thứ 2 thế giới sau Thái Lan. Cả nước hiện có 140 nhà máy chế biến tinh bột sắn, với tổng công suất thiết kế 13,4 triệu tấn củ tươi/năm.

Ngoài những thuận lợi, ngành hàng sắn vẫn tồn tại một số khó khăn, thạch thức lớn như: sản xuất nhỏ lẻ, phân tán, việc liên kết giữa nhà máy chế biến với người nông dân còn yếu; một số giống sắn đã bị thoái hóa, năng suất và chất lượng thấp, bệnh khảm lá sắn vẫn là mối đe dọa nghiêm trọng; công nghệ chế biến và ứng dụng khoa học kỹ thuật chưa đồng đều giữa các vùng…ngoài ra, thị trường xuất khẩu ngày càng khắt khe về chất lượng, truy xuất nguồn gốc, an toàn và phát triển xanh.

Các đại biểu dự hội thảo giải pháp nâng cao hiệu quả chuỗi giá trị sản xuất sắn bền vững.
Các đại biểu dự hội thảo giải pháp nâng cao hiệu quả chuỗi giá trị sản xuất sắn bền vững.

Hội thảo cũng là dịp để kết nối những doanh nghiệp, người nông dân cùng nhà quản lý, nhà khoa học chia sẻ kinh nghiệm nhằm kết nối trong chuỗi giá trị từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ, đồng thời đề xuất các giải pháp cụ thể để nâng cao giá trị một cách có hiệu quả, phát triển ngành hàng sắn theo hướng bền vững, gắn với Đề án phát triển bền vững ngành hàng sắn đến năm 2030, tầm nhìn 2050 được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (nay là bộ Nông nghiệp và Môi trường) phê duyệt tại Quyết định số 1115/QĐ-BNN-TT ngày 17/4/2024.

Chia sẻ tại hội thảo, tiến sỹ Đinh Công Chính, Phó Trưởng phòng Cây lương thực - Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định phát triển ngành sắn theo hướng hiệu quả – bền vững – hiện đại. Liên kết chặt chẽ từ khâu sản xuất đến tiêu thụ, lấy doanh nghiệp làm trung tâm, hợp tác xã và tổ hợp tác là cầu nối, nông dân là chủ thể sản xuất. Mục tiêu đến năm 2030, diện tích trồng sắn ổn định 480–510 nghìn ha, sản lượng củ tươi đạt 11,5–12,5 triệu tấn; diện tích trồng sắn sử dụng giống đúng tiêu chuẩn chất lượng đạt 40-50%; diện tích trồng sắn áp dụng quy trình canh tác bền vững đạt 50%; kim ngạch xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn đạt 1,8-2,0 tỷ USD, hướng tới 2,5 tỷ USD vào năm 2050. Đồng thời giảm phát thải, nâng cao chất lượng và hiệu quả chuỗi giá trị.

Xây dựng mô hình liên kết “4 nhà” hiệu quả

Hướng tới sản xuất cây sắn bền vững, các địa phương cần tập trung vào bốn yếu tố quan trọng nhất gồm: trồng sắn đúng thời vụ, tuân thủ nghiêm ngặt quy trình kỹ thuật trồng và chăm sóc, tăng cường dinh dưỡng cho đất - đầu tư thâm canh và đảm bảo nguồn nước tưới hợp lý. Cần có chính sách thu hút, phối hợp chặt chẽ với doanh nghiệp để định hướng nguồn nguyên liệu; hỗ trợ phát triển các tổ hợp tác, hợp tác xã... tập trung xây dựng vùng liên kết bền vững gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ sản phẩm.

Lãnh đạo Trung tâm khuyến nông quốc gia, Lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Thanh Hóa cùng các đại biểu thăm quan dây truyền chế biến tinh bột sắn tại nhà máy sắn Phú Thịnh.
Lãnh đạo Trung tâm khuyến nông quốc gia, Lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Thanh Hóa cùng các đại biểu thăm quan dây truyền chế biến tinh bột sắn tại nhà máy sắn Phúc Thịnh.

Trong hội thảo, các đại biểu tập trung thảo luận một số nội dung quan trọng như: Định hướng phát triển ngành hàng sắn theo đề án 1115 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường; Giải pháp ứng dụng khoa học công nghê, cơ giới hóa, quản lý bền vững và quy hoạch vùng nguyên liệu; Giải pháp nâng cao hiệu quả chuỗi giá trị sắn bằng tăng cường liên kết giữa nông dân – hợp tác xã – doanh nghiệp – nhà khoa học; Phát triển mô hình bao tiêu, hợp đồng sản xuất; thúc đẩy chế biến sâu, đa dạng hóa sản phẩm và thị trường xuất khẩu.

Hội thảo giới thiệu thực trạng một số sinh vật gây hại trên cây sắn đến đại biểu tham dự.
Hội thảo giới thiệu thực trạng một số sinh vật gây hại trên cây sắn đến đại biểu tham dự.

Những năm trở lại đây, Trung tâm khuyến nông quốc gia đã triển khai nhiều dự án về xây dựng và nhân rộng các mô hình sản xuất sắn bền vững, đảm bảo năng suất, chất lượng trên cả nước và mang lại nhiều hiệu quả tích cực. Các mô hình canh tác sắn bền vững, sản xuất trên đất dốc, cho năng suất tăng từ 10–30%, hiệu quả kinh tế tăng 15–25% so với sản xuất đại trà; Một số giống sắn mới sạch bệnh, năng suất cao như STB1, HN3, HN5, HN97, HN80 đã được nghiên cứu, nhân rộng... Các địa phương như Thanh Hóa, Nghệ An, Tây Ninh, Gia Lai đã xây dựng mô hình liên kết “4 nhà” hiệu quả, gắn vùng nguyên liệu với nhà máy chế biến.

Cùng với sự quan tâm, đồng hành của nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và người nông dân. Trong những năm tới ngành sắn Việt Nam sẽ vươn tới mục tiêu phát triển bền vững, đảm bảo sinh kế cho nông dân, nâng tầm giá trị xuất khẩu. Hướng tới mục tiêu sản xuất nông nghiệp xanh, sinh thái và kinh tế tuần hoàn.

Bài liên quan

CÁC TIN BÀI KHÁC

Truyền thông đồng hành cùng sự phát triển của nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam

Truyền thông đồng hành cùng sự phát triển của nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam

Truyền thông không chỉ là đưa thông tin, mà phải trở thành động lực xây dựng niềm tin, thay đổi nhận thức và thúc đẩy thị trường hữu cơ phát triển bền vững.
Nông thôn mới - Từ ý tưởng xây dựng làng kiểu mẫu theo tư tưởng của Bác Hồ

Nông thôn mới - Từ ý tưởng xây dựng làng kiểu mẫu theo tư tưởng của Bác Hồ

Chương trình xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam hôm nay không phải là một tư duy hoàn toàn mới mẻ, mà là sự kế thừa, phát triển từ những tư tưởng sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nông nghiệp, nông dân và nông thôn.
Bảo tồn nguồn nước thông qua các mô hình canh tác hữu cơ: Luận giải dưới góc nhìn chuyên gia

Bảo tồn nguồn nước thông qua các mô hình canh tác hữu cơ: Luận giải dưới góc nhìn chuyên gia

Trong hoàn cảnh biến đổi khí hậu, hạn hán và suy giảm chất lượng đất ngày càng gia tăng, bảo tồn nguồn nước trở thành yêu cầu cấp thiết của nông nghiệp bền vững. Canh tác hữu cơ với khả năng cải thiện đất, tăng giữ ẩm, giảm dòng chảy mặt và hạn chế rửa trôi dinh dưỡng đang mở ra hướng tiếp cận sinh thái, hiệu quả hơn.
Trung Quốc nghiên cứu biến mỏ than bỏ hoang thành trang trại dưới lòng đất

Trung Quốc nghiên cứu biến mỏ than bỏ hoang thành trang trại dưới lòng đất

Trước áp lực ngày càng lớn từ biến đổi khí hậu lên nông nghiệp truyền thống, một nhóm nhà khoa học Trung Quốc vừa đề xuất ý tưởng phát triển nông nghiệp dưới lòng đất tại các đường hầm mỏ than đã ngừng khai thác, coi đây là hướng đi mới cho nền kinh tế tuần hoàn của ngành khai khoáng nước này.
Hợp tác xã kiểu mới - Con đường đoàn kết đi tới ấm no, hạnh phúc

Hợp tác xã kiểu mới - Con đường đoàn kết đi tới ấm no, hạnh phúc

Trong tiến trình đổi mới và phát triển kinh tế tập thể ở Việt Nam, mô hình HTX kiểu mới đang ngày càng khẳng định vai trò là một hướng đi đúng đắn, phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường trong giai đoạn phát triển mới.
Vai trò của nông nghiệp đối với xã hội Việt Nam

Vai trò của nông nghiệp đối với xã hội Việt Nam

Nông nghiệp từ lâu đã giữ vị trí nền tảng trong quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của xã hội Việt Nam. Dù trải qua nhiều giai đoạn lịch sử với những biến động lớn, từ nền kinh tế tự cung tự cấp đến thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, nông nghiệp vẫn luôn là trụ cột quan trọng, tác động toàn diện đến kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường và an ninh quốc gia.
Khảo sát nông trại tiềm năng, mở rộng thực hành canh tác hữu cơ tại Cần Thơ và Gia Lai

Khảo sát nông trại tiềm năng, mở rộng thực hành canh tác hữu cơ tại Cần Thơ và Gia Lai

Trong khuôn khổ dự án IKI “From Bean to Bar - Thí điểm ứng dụng sản xuất hữu cơ tại trang trại cacao và cây ăn quả nhằm tăng cường khả năng chống chịu với khí hậu và sinh kế của nông dân Việt Nam”, nhóm dự án đã khảo sát các nông trại tiềm năng tại Cần Thơ và Gia Lai. Hoạt động nhằm đánh giá điều kiện sản xuất, nhu cầu của nông hộ, làm cơ sở lựa chọn các nông trại thí điểm và thiết kế những hoạt động hỗ trợ phù hợp trong thời gian tới.
Những "điểm nghẽn" cần tháo gỡ trong phát triển nông nghiệp hữu cơ hiện nay

Những "điểm nghẽn" cần tháo gỡ trong phát triển nông nghiệp hữu cơ hiện nay

Nông nghiệp hữu cơ đang được xem là một hướng đi quan trọng để nâng cao giá trị nông sản, bảo vệ tài nguyên đất, nước, đa dạng sinh học và đáp ứng xu hướng tiêu dùng xanh. Việt Nam đã có định hướng phát triển nông nghiệp hữu cơ đến năm 2030, trong đó nhấn mạnh sản xuất hữu cơ gắn với giá trị gia tăng, bảo vệ môi trường, kinh tế tuần hoàn và thị trường trong nước, xuất khẩu.
Phát triển bền vững trở thành một định hướng quan trọng đối với mọi quốc gia

Phát triển bền vững trở thành một định hướng quan trọng đối với mọi quốc gia

Để đối phó với biến đổi khí hậu, suy giảm tài nguyên, ô nhiễm môi trường và bất bình đẳng xã hội ngày càng gia tăng, phát triển bền vững trở thành một định hướng quan trọng đối với mọi quốc gia. Đây không chỉ là yêu cầu về bảo vệ môi trường mà còn là cách tiếp cận nhằm bảo đảm tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ xã hội, sử dụng hợp lý tài nguyên và duy trì chất lượng cuộc sống cho các thế hệ hiện tại và tương lai.
Quảng Trị phát triển nông nghiệp hữu cơ theo hướng tập trung, liên kết chuỗi và bền vững

Quảng Trị phát triển nông nghiệp hữu cơ theo hướng tập trung, liên kết chuỗi và bền vững

Quảng Trị xác định nông nghiệp hữu cơ không chỉ là một phương thức sản xuất mà còn là hướng phát triển nhằm nâng cao giá trị, chất lượng và tính bền vững của nền nông nghiệp. Từ những mô hình bước đầu, tỉnh đang từng bước hình thành các vùng sản xuất hữu cơ, sản phẩm được chứng nhận, có liên kết tiêu thụ và cho thấy hiệu quả kinh tế rõ nét.
Phân Compost trong cải tạo đất nông nghiệp: Tiếp cận từ góc nhìn chuyên gia

Phân Compost trong cải tạo đất nông nghiệp: Tiếp cận từ góc nhìn chuyên gia

Trước sức ép của thâm canh, suy giảm chất hữu cơ và ô nhiễm, phục hồi sức khỏe đất trở thành yêu cầu cấp thiết của nông nghiệp bền vững. Phân compost không chỉ bổ sung dinh dưỡng mà còn cải thiện cấu trúc, khả năng giữ nước, hoạt động vi sinh vật và độ phì đất. Sử dụng compost đúng chất lượng, liều lượng và thời điểm góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn.
Cốt lõi của phát triển bền vững trong nông nghiệp

Cốt lõi của phát triển bền vững trong nông nghiệp

Nông nghiệp là ngành kinh tế đặc biệt, bởi hoạt động sản xuất không chỉ tạo ra lương thực, thực phẩm và sinh kế cho hàng triệu người mà còn phụ thuộc trực tiếp vào đất, nước, khí hậu và hệ sinh thái. Vì vậy, phát triển nông nghiệp bền vững không đơn thuần là duy trì sản lượng trong hiện tại, mà phải bảo đảm khả năng sản xuất lâu dài, nâng cao thu nhập cho người nông dân, bảo vệ tài nguyên và thích ứng với những biến động ngày càng lớn của môi trường.
XEM THÊM
dam-ca-mau-chi-vi-hoa
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2026 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính