ki-niem-15-voaa
Thứ ba 01/09/2026 12:37Thứ ba 01/09/2026 12:37 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Quảng Trị phát triển nông nghiệp hữu cơ theo hướng tập trung, liên kết chuỗi và bền vững

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Quảng Trị xác định nông nghiệp hữu cơ không chỉ là một phương thức sản xuất mà còn là hướng phát triển nhằm nâng cao giá trị, chất lượng và tính bền vững của nền nông nghiệp. Từ những mô hình bước đầu, tỉnh đang từng bước hình thành các vùng sản xuất hữu cơ, sản phẩm được chứng nhận, có liên kết tiêu thụ và cho thấy hiệu quả kinh tế rõ nét.
Quảng Trị phát triển nông nghiệp hữu cơ theo hướng tập trung, liên kết chuỗi và bền vững

Ông Phan Ngọc Đồng, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông tỉnh Quảng Trị

Trong thời gian tới, Quảng Trị định hướng không phát triển nông nghiệp hữu cơ theo hướng dàn trải mà tập trung vào những ngành hàng có lợi thế, có thị trường; lấy tích tụ, tập trung đất đai và phát triển vùng nguyên liệu làm nền tảng; lấy doanh nghiệp, hợp tác xã (HTX) làm hạt nhân liên kết. Đồng thời, sản xuất hữu cơ sẽ được gắn với kinh tế tuần hoàn, giảm phát thải, chuyển đổi số, truy xuất nguồn gốc và chế biến sâu.

Phóng viên Tạp chí điện tử Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam có cuộc trao đổi với ông Phan Ngọc Đồng, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông tỉnh Quảng Trị, về những kết quả đạt được, thuận lợi, khó khăn và định hướng phát triển nông nghiệp hữu cơ của địa phương.

Phóng viên: Thưa ông Phan Ngọc Đồng, thời gian qua tỉnh Quảng Trị đã có những chính sách gì để thúc đẩy phát triển nông nghiệp hữu cơ?

Ông Phan Ngọc Đồng, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông tỉnh Quảng Trị: Quảng Trị đang từng bước hình thành một hệ thống chính sách khá đồng bộ cho phát triển nông nghiệp hữu cơ. Các chính sách không chỉ tập trung hỗ trợ trực tiếp cho sản xuất hữu cơ mà còn chú trọng những điều kiện nền tảng như đất đai, vùng nguyên liệu, liên kết chuỗi, khoa học công nghệ, vật tư sinh học và thị trường.

Một số chính sách, chương trình nổi bật có thể kể đến như Quyết định số 3014/QĐ-UBND ngày 10/12/2024 phê duyệt Đề án phát triển lúa hữu cơ gắn với liên kết theo chuỗi giá trị bền vững giai đoạn 2025–2030. Đây là chính sách trực tiếp, tạo cơ sở để phát triển các vùng lúa hữu cơ theo hướng gắn sản xuất với doanh nghiệp, HTX và tiêu thụ sản phẩm.

Tiếp đó là Kế hoạch số 1471/KH-UBND ngày 21/10/2025 triển khai Đề án phát triển sản xuất và sử dụng phân bón hữu cơ, thuốc bảo vệ thực vật sinh học trên địa bàn tỉnh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Đây là hướng đi rất quan trọng nhằm từng bước thay đổi đầu vào sản xuất, giảm sự phụ thuộc vào vật tư hóa học và thúc đẩy sử dụng các loại vật tư thân thiện với môi trường.

Đặc biệt, Nghị quyết số 04-NQ/TU ngày 30/3/2026 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về tích tụ, tập trung đất nông nghiệp gắn với cơ giới hóa, hiện đại hóa sản xuất và phát triển vùng nguyên liệu theo định hướng hữu cơ, tuần hoàn, xanh, số đã xác định tích tụ, tập trung đất đai và phát triển vùng nguyên liệu là một trong những giải pháp đột phá.

Nghị quyết hướng tới chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất tập trung, quy mô lớn; đồng thời ưu tiên nhân rộng các mô hình hữu cơ, tuần hoàn, xanh và số.

Điểm đáng chú ý trong cách tiếp cận của Quảng Trị là không xem nông nghiệp hữu cơ như một lĩnh vực riêng biệt mà đặt trong tổng thể “hữu cơ – tuần hoàn – xanh – số – liên kết chuỗi”. Đây là hướng tiếp cận phù hợp với yêu cầu phát triển một nền nông nghiệp hiện đại, có giá trị gia tăng cao và bền vững.

Phóng viên: Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thúc đẩy phát triển nông nghiệp hữu cơ ở Quảng Trị hiện nay là gì, thưa ông?

Ông Phan Ngọc Đồng: Về thuận lợi, trước hết, Quảng Trị có nền tảng tài nguyên và điều kiện tự nhiên khá thuận lợi để phát triển nông nghiệp hữu cơ.

Sau hợp nhất, tỉnh có trên 1,13 triệu ha đất sản xuất nông nghiệp, trong đó trên 206 nghìn ha đất trồng trọt, gần 925 nghìn ha đất lâm nghiệp và trên 6.500 ha đất nuôi trồng thủy sản. Tỉnh cũng đã hình thành nhiều vùng sản xuất hàng hóa đối với các ngành hàng như lúa, cà phê, hồ tiêu, cây ăn quả, dược liệu, rau màu và lâm nghiệp. Đây là cơ sở thuận lợi để hình thành các vùng sản xuất hữu cơ chuyên canh, quy mô lớn.

Thứ hai, định hướng phát triển của tỉnh rất rõ. Nông nghiệp xanh được xác định là một trong bốn trụ cột phát triển kinh tế của tỉnh, trong đó nông nghiệp hữu cơ là một bộ phận quan trọng của mô hình tăng trưởng xanh và bền vững.

Thứ ba, trên địa bàn đã xuất hiện những doanh nghiệp, HTX có vai trò dẫn dắt chuỗi. Tiêu biểu có Tập đoàn Quế Lâm, Tổng Công ty Thương mại Quảng Trị, HTX Nông sản hữu cơ Gio Linh và một số doanh nghiệp khác.

Riêng Tập đoàn Quế Lâm đã hình thành các mô hình làng nông nghiệp hữu cơ, liên kết chăn nuôi, đồng thời triển khai các hoạt động đào tạo và tiêu thụ sản phẩm hữu cơ. Sự tham gia của các doanh nghiệp, HTX là yếu tố rất quan trọng để kết nối người dân với thị trường và từng bước hình thành chuỗi giá trị.

Thứ tư, người sản xuất đã bắt đầu nhận thấy rõ hơn hiệu quả kinh tế của sản xuất hữu cơ. Các mô hình lúa hữu cơ cho năng suất khoảng 55–68 tạ/ha, sản phẩm được bao tiêu với giá cao hơn thị trường khoảng 20–40%, lợi nhuận đạt khoảng 20–30 triệu đồng/ha, cao hơn sản xuất truyền thống khoảng 20–35%.

Tuy nhiên, phát triển nông nghiệp hữu cơ cũng là một quá trình chuyển đổi dài hạn và Quảng Trị vẫn còn một số điểm nghẽn cần tháo gỡ.

Trước hết, quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ, phân tán, chưa hình thành được nhiều vùng nguyên liệu hữu cơ đủ lớn và ổn định. Liên kết giữa sản xuất – chế biến – tiêu thụ ở một số nơi chưa thực sự bền vững. Số doanh nghiệp đầu tư sâu vào nông nghiệp, chế biến sâu và có khả năng dẫn dắt chuỗi còn hạn chế.

Bên cạnh đó, chi phí và yêu cầu chứng nhận hữu cơ tương đối cao, trong khi quy mô sản xuất của nhiều hộ nông dân còn nhỏ. Nhận thức và năng lực sản xuất của một bộ phận người dân còn hạn chế. Sản xuất hữu cơ đòi hỏi người dân phải tuân thủ nghiêm ngặt quy trình, ghi chép nhật ký sản xuất, quản lý dịch hại, sử dụng vật tư sinh học và thực hiện nhiều yêu cầu kỹ thuật khác.

Hạ tầng phục vụ vùng nguyên liệu, chế biến và logistics chưa đồng bộ. Việc ứng dụng khoa học công nghệ, truy xuất nguồn gốc và chứng nhận chất lượng chưa đồng đều. Nguồn lực đầu tư còn hạn chế, chưa đủ mạnh để tạo ra những vùng sản xuất hữu cơ hàng hóa có quy mô lớn.

Theo tôi, một điểm rất quan trọng là khó khăn lớn nhất hiện nay không còn nằm ở câu chuyện “có làm được hữu cơ hay không”, mà là làm thế nào để tổ chức sản xuất hữu cơ ở quy mô lớn, có thị trường ổn định và tạo ra giá trị đủ cao để người dân tự nguyện tham gia.

Phóng viên: Vậy đâu là những kết quả, thành tựu bước đầu nổi bật trong phát triển nông nghiệp hữu cơ của Quảng Trị thời gian qua?

Ông Phan Ngọc Đồng: Có thể khái quát một số kết quả nổi bật.

Thứ nhất, diện tích sản xuất hữu cơ đã hình thành tương đối đa dạng. Theo báo cáo tổng quan của Sở Nông nghiệp và Môi trường, toàn tỉnh hiện có 1.497,71 ha được chứng nhận hữu cơ, gồm 227,1 ha lúa; 20,2 ha cà phê; 94,6 ha hồ tiêu; 534 ha cây ăn quả; 552,6 ha cây dược liệu và các cây trồng khác.

Ngoài ra, còn có 384 ha lúa canh tác tự nhiên và 619,15 ha sản xuất theo hướng hữu cơ đang hoàn thiện các điều kiện để được chứng nhận.

Đây là con số đáng chú ý, cho thấy sản xuất hữu cơ ở Quảng Trị đã từng bước chuyển từ những mô hình đơn lẻ sang hình thành các nhóm sản phẩm và vùng sản xuất.

Thứ hai, đã hình thành những mô hình hữu cơ có hiệu quả và có đầu ra tương đối ổn định.

Đối với cây lúa, Trung tâm Khuyến nông đã triển khai 15 ha lúa hữu cơ vụ Đông Xuân 2024–2025, năng suất đạt 58 tạ/ha, lợi nhuận từ 25–30 triệu đồng/ha.

Vụ Hè Thu năm 2025, diện tích thực hiện là 13 ha, năng suất đạt 65–68 tạ/ha, lợi nhuận khoảng 20–25 triệu đồng/ha.

Năm 2026, Trung tâm tiếp tục triển khai 20 ha lúa hữu cơ tại Vĩnh Linh và 5 ha mô hình lúa – tôm tại Gio Linh. Sản phẩm đã được chứng nhận và gắn với liên kết tiêu thụ.

Thứ ba, sản xuất hữu cơ bước đầu chứng minh được hiệu quả kinh tế.

Hữu cơ không chỉ tạo ra sản phẩm an toàn, thân thiện hơn với môi trường mà đang từng bước chứng minh khả năng tạo ra giá trị kinh tế cao hơn cho người sản xuất.

Các mô hình lúa hữu cơ có giá bán cao hơn thị trường khoảng 20–40%, lợi nhuận cao hơn sản xuất truyền thống khoảng 20–35%.

Đặc biệt, mô hình lúa hữu cơ kết hợp nuôi tôm càng xanh tại Gio Linh, quy mô 5 ha, cho năng suất lúa khoảng 58 tạ/ha, giá thu mua 9.000 đồng/kg, cao hơn khoảng 29% so với lúa thông thường, lợi nhuận khoảng 24 triệu đồng/ha.

Mô hình này đồng thời tận dụng được hệ sinh thái lúa – tôm, giảm sử dụng vật tư hóa học và khai thác hiệu quả hơn nguồn đất, nước. Đây là hướng sản xuất phù hợp với yêu cầu phát triển nông nghiệp tuần hoàn và bền vững.

Thứ tư, sản xuất hữu cơ đã bắt đầu gắn với truy xuất nguồn gốc và thị trường.

Các sản phẩm hữu cơ được hỗ trợ chứng nhận đều được gắn nhãn mác và tem truy xuất nguồn gốc bằng mã QR, qua đó nâng cao tính minh bạch về thông tin sản phẩm, tạo niềm tin cho người tiêu dùng và tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường.

Thứ năm, bước đầu hình thành hệ sinh thái liên kết trong phát triển nông nghiệp hữu cơ.

Nghị quyết số 04-NQ/TU định hướng phát huy vai trò liên kết “6 nhà” gồm Nhà nước – nhà khoa học – doanh nghiệp – nông dân – ngân hàng – nhà phân phối, gắn vùng nguyên liệu với chế biến và thị trường.

Theo tôi, đây chính là nền tảng quan trọng để Quảng Trị chuyển từ “sản xuất hữu cơ theo mô hình” sang “phát triển ngành hàng hữu cơ”.

Trong thời gian tới, tỉnh cần tiếp tục tập trung nguồn lực vào những ngành hàng có lợi thế cạnh tranh, có khả năng hình thành vùng nguyên liệu và có thị trường tiêu thụ rõ ràng. Cùng với đó là thúc đẩy tích tụ, tập trung đất đai; nâng cao vai trò của doanh nghiệp và HTX; tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, truy xuất nguồn gốc; phát triển chế biến sâu và gắn sản xuất hữu cơ với kinh tế tuần hoàn, giảm phát thải…

Phóng viên: Cảm ơn ông về cuộc phỏng vấn này.

Bài liên quan

Đà Nẵng: Bàn Thạch nâng giá trị nông sản từ dưa hấu không hạt hữu cơ

Đà Nẵng: Bàn Thạch nâng giá trị nông sản từ dưa hấu không hạt hữu cơ

Mô hình trồng dưa hấu không hạt theo mô hình hữu cơ tại phường Bàn Thạch, TP Đà Nẵng cho năng suất cao, mở ra hướng nâng giá trị nông sản địa phương.
Tp. Huế: Xã Khe Tre hướng tới vùng nguyên liệu Nếp Than gắn với sản phẩm OCOP

Tp. Huế: Xã Khe Tre hướng tới vùng nguyên liệu Nếp Than gắn với sản phẩm OCOP

Từ kết quả mô hình trồng lúa Nếp Than vụ Hè Thu năm 2026, xã Khe Tre đang từng bước mở hướng xây dựng vùng nguyên liệu gắn với sản phẩm OCOP, nâng cao giá trị..
Tp. Huế cần đề phòng thời tiết cực đoan, chủ động phòng ngừa rủi ro thiên tai

Tp. Huế cần đề phòng thời tiết cực đoan, chủ động phòng ngừa rủi ro thiên tai

Từ ngày 31/8 đến 2/9, thời tiết tại Tp. Huế có sự chuyển biến rõ rệt, mây thay đổi đến nhiều mây, ban ngày có nắng; chiều tối và đêm có mưa rào và dông rải rác.
Phiên chợ nông sản Huế 2026 - Mở rộng kết nối, nâng tầm sản phẩm

Phiên chợ nông sản Huế 2026 - Mở rộng kết nối, nâng tầm sản phẩm

Phiên chợ nông sản năm 2026 là một bước kết nối để lan tỏa tinh thần sản xuất có trách nhiệm, nâng cao giá trị nông sản và phát triển hài hòa với môi trường...
Những mầm xanh mở hướng sinh kế bền vững cho người dân xã A Lưới 1

Những mầm xanh mở hướng sinh kế bền vững cho người dân xã A Lưới 1

Sáng 28/8/2026, tại Nhà văn hóa xã A Lưới 1, Trung tâm Dịch vụ sự nghiệp công xã A Lưới 1 (Tp. Huế) tổ chức kiểm tra, nghiệm thu và bàn giao giống cây ăn quả...
GS.TS. Đào Thanh Vân được bầu làm Chủ tịch Hội Nông nghiệp hữu cơ Thái Nguyên

GS.TS. Đào Thanh Vân được bầu làm Chủ tịch Hội Nông nghiệp hữu cơ Thái Nguyên

Sáng 28/8, tại Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên, Hội Nông nghiệp hữu cơ Thái Nguyên tổ chức Đại hội lần thứ nhất, nhiệm kỳ 2026 - 2031. Đại hội bầu Ban Chấp hành gồm 24 thành viên; GS.TS. Đào Thanh Vân được tín nhiệm giữ chức Chủ tịch Hội.

CÁC TIN BÀI KHÁC

Phân Compost trong cải tạo đất nông nghiệp: Tiếp cận từ góc nhìn chuyên gia

Phân Compost trong cải tạo đất nông nghiệp: Tiếp cận từ góc nhìn chuyên gia

Trước sức ép của thâm canh, suy giảm chất hữu cơ và ô nhiễm, phục hồi sức khỏe đất trở thành yêu cầu cấp thiết của nông nghiệp bền vững. Phân compost không chỉ bổ sung dinh dưỡng mà còn cải thiện cấu trúc, khả năng giữ nước, hoạt động vi sinh vật và độ phì đất. Sử dụng compost đúng chất lượng, liều lượng và thời điểm góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn.
Cốt lõi của phát triển bền vững trong nông nghiệp

Cốt lõi của phát triển bền vững trong nông nghiệp

Nông nghiệp là ngành kinh tế đặc biệt, bởi hoạt động sản xuất không chỉ tạo ra lương thực, thực phẩm và sinh kế cho hàng triệu người mà còn phụ thuộc trực tiếp vào đất, nước, khí hậu và hệ sinh thái. Vì vậy, phát triển nông nghiệp bền vững không đơn thuần là duy trì sản lượng trong hiện tại, mà phải bảo đảm khả năng sản xuất lâu dài, nâng cao thu nhập cho người nông dân, bảo vệ tài nguyên và thích ứng với những biến động ngày càng lớn của môi trường.
Nông nghiệp hữu cơ góp phần phát triển kinh tế xanh ở Việt Nam

Nông nghiệp hữu cơ góp phần phát triển kinh tế xanh ở Việt Nam

Nông nghiệp hữu cơ đang trở thành hướng đi quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xanh ở Việt Nam, góp phần giảm sử dụng hóa chất, bảo vệ đất và nước, duy trì đa dạng sinh học, giảm phát thải khí nhà kính. Đồng thời, mô hình này nâng cao giá trị nông sản, cải thiện sinh kế và thúc đẩy sản xuất bền vững.
Thiết kế chính sách trong phát triển nông nghiệp hữu cơ

Thiết kế chính sách trong phát triển nông nghiệp hữu cơ

Phát triển nông nghiệp hữu cơ không chỉ là quá trình thay đổi phương thức sản xuất mà còn là bài toán thiết kế chính sách dài hạn, đồng bộ và phù hợp với điều kiện thực tiễn. Chính sách đúng sẽ tạo động lực cho nông dân, doanh nghiệp và hợp tác xã chuyển đổi, đồng thời hình thành thị trường minh bạch, nâng cao giá trị nông sản và góp phần xây dựng nền nông nghiệp xanh, tuần hoàn, phát thải thấp.
Giảm thuế, chi phí tuân thủ để khơi thông động lực cho hộ kinh doanh

Giảm thuế, chi phí tuân thủ để khơi thông động lực cho hộ kinh doanh

Ngưỡng doanh thu không phải nộp thuế đã được Chính phủ ban hành tại Nghị định 141/2026/NĐ-CP, theo đó nâng lên 1 tỷ đồng. Đồng thời, trong dự thảo nghị quyết do Chính phủ trình Quốc hội xem xét, Bộ Tài chính đề xuất giảm 30% thuế thu nhập và nghiên cứu mở rộng phương pháp tính thuế đơn giản đối với hộ kinh doanh có doanh thu đến 10 tỷ đồng. Tại hội thảo “Hộ kinh doanh và động lực tăng trưởng”, đại diện cơ quan quản lý, chuyên gia và các hộ kinh doanh cho rằng chính sách hỗ trợ cần đi cùng thủ tục dễ thực hiện, lộ trình chuyển tiếp phù hợp và môi trường kinh doanh ổn định.
Gỡ "điểm nghẽn" ngành hàng sầu riêng hướng tới xuất khẩu bền vững

Gỡ "điểm nghẽn" ngành hàng sầu riêng hướng tới xuất khẩu bền vững

Sầu riêng Việt Nam đang có nhiều cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu, song cũng đối mặt không ít thách thức về mã số vùng trồng, kiểm soát chất lượng, liên kết chuỗi và hạ tầng logistics. Tháo gỡ những "điểm nghẽn" này là yêu cầu cấp thiết để ngành hàng tỷ USD phát triển ổn định, bền vững.
Từ những con đường bê tông đến những miền quê đáng sống

Từ những con đường bê tông đến những miền quê đáng sống

Sau hơn một thập niên triển khai, Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới đã tạo nên những chuyển biến sâu rộng ở khu vực nông thôn Việt Nam. Không chỉ thay đổi diện mạo làng quê, chương trình từng bước nâng cao thu nhập, chất lượng dịch vụ xã hội, ý thức cộng đồng và mở ra hướng phát triển nông thôn theo chiều sâu, bền vững, văn minh.
Chuẩn bị Festival Quốc tế ngành hàng lúa gạo Việt Nam lần thứ II năm 2026

Chuẩn bị Festival Quốc tế ngành hàng lúa gạo Việt Nam lần thứ II năm 2026

Festival Quốc tế Ngành hàng Lúa gạo Việt Nam lần thứ II - Cần Thơ năm 2026 diễn ra từ ngày 23 đến 26/11, với quy mô quốc tế, trên 500 đơn vị gian hàng và nhiều hoạt động kết nối sản xuất, khoa học công nghệ, thương mại, văn hóa và du lịch.
Giải bài toán đưa hạt gạo chất lượng cao, phát thải thấp tiến sâu vào chuỗi giá trị

Giải bài toán đưa hạt gạo chất lượng cao, phát thải thấp tiến sâu vào chuỗi giá trị

Sau gần 2 năm triển khai, Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp ở ĐBSCL đã hình thành vùng chuyên canh quy mô lớn, bước đầu tạo chuyển biến về hiệu quả sản xuất và giảm phát thải. Tuy nhiên, liên kết theo chuỗi vẫn chưa tương xứng với quy mô vùng sản xuất, đặt ra yêu cầu chuyển từ mở rộng diện tích sang tổ chức vùng nguyên liệu, kết nối doanh nghiệp, thị trường và nguồn vốn.
Từ những ruộng lúa kém hiệu quả đến mô hình lúa - tôm bền vững

Từ những ruộng lúa kém hiệu quả đến mô hình lúa - tôm bền vững

Mô hình kết hợp trồng lúa - nuôi tôm thẻ chân trắng trên những diện tích đất lúa Hè Thu sản xuất kém hiệu quả đang mở ra hướng đi mới tại thành phố Huế...
Sầu riêng Việt Nam: Không mở rộng diện tích, chuyển trọng tâm sang chất lượng

Sầu riêng Việt Nam: Không mở rộng diện tích, chuyển trọng tâm sang chất lượng

Chính phủ yêu cầu các địa phương quản lý chặt diện tích sầu riêng, không tiếp tục mở rộng mà tập trung nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất. Cùng với việc triển khai Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP về đơn giản hóa thủ tục hành chính đối với mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, ngành sầu riêng đang được định hướng tổ chức lại theo hướng kiểm soát chặt chất lượng, truy xuất nguồn gốc và phát triển thị trường bền vững.
Thúc đẩy hệ sinh thái sầu riêng bền vững, minh bạch, đáp ứng yêu cầu thị trường

Thúc đẩy hệ sinh thái sầu riêng bền vững, minh bạch, đáp ứng yêu cầu thị trường

Tại phiên đối thoại trong khuôn khổ Diễn đàn kết nối sản xuất, tiêu thụ sầu riêng, các đại biểu tập trung tháo gỡ điểm nghẽn về mã số vùng trồng, liên kết chuỗi, kiểm định, logistics và chế biến sâu, hướng tới xây dựng ngành hàng sầu riêng Đắk Lắk phát triển bền vững, minh bạch và đáp ứng yêu cầu thị trường.
XEM THÊM
dam-ca-mau-chi-vi-hoa
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2026 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính