ki-niem-15-voaa
Thứ bảy 03/10/2026 13:13Thứ bảy 03/10/2026 13:13 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Giải bài toán đưa hạt gạo chất lượng cao, phát thải thấp tiến sâu vào chuỗi giá trị

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Sau gần 2 năm triển khai, Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp ở ĐBSCL đã hình thành vùng chuyên canh quy mô lớn, bước đầu tạo chuyển biến về hiệu quả sản xuất và giảm phát thải. Tuy nhiên, liên kết theo chuỗi vẫn chưa tương xứng với quy mô vùng sản xuất, đặt ra yêu cầu chuyển từ mở rộng diện tích sang tổ chức vùng nguyên liệu, kết nối doanh nghiệp, thị trường và nguồn vốn.
Giải bài toán đưa hạt gạo chất lượng cao, phát thải thấp tiến sâu vào chuỗi giá trị

Hội thảo thúc đẩy liên kết sản xuất, tiêu thụ theo chuỗi giá trị trong thực hiện Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp, thu hút nguồn vốn và doanh nghiệp đầu tư, ngày 18/8 tại TP.HCM.

Ngày 18/8, tại TP.HCM, Trường Chính sách công và Phát triển nông thôn phối hợp Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn tổ chức hội thảo “Thúc đẩy liên kết sản xuất, tiêu thụ theo chuỗi giá trị trong thực hiện Đề án, thu hút nguồn vốn và doanh nghiệp đầu tư”.

Tại hội thảo, các chuyên gia, doanh nghiệp và cơ quan quản lý tập trung phân tích những điểm nghẽn trong tổ chức liên kết sản xuất, tiêu thụ; đồng thời đề xuất giải pháp xây dựng vùng nguyên liệu, nâng vai trò HTX, ứng dụng công nghệ, số hóa dữ liệu, kết nối doanh nghiệp và huy động nguồn vốn cho Đề án.

Hiệu quả rõ rệt, liên kết chuỗi còn khiêm tốn

Đến tháng 4/2026, vùng chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp đạt 942.357 ha. Trong đó, 379.449 ha đã áp dụng toàn bộ hoặc một phần quy trình canh tác bền vững.

Kết quả bước đầu cho thấy lượng giống sử dụng giảm 30-50%, phân bón hóa học giảm 20-30%, nước tưới giảm 20-40%; năng suất tăng khoảng 5-12%, lợi nhuận tăng 1,5-9,3 triệu đồng/ha/vụ, trong khi phát thải giảm khoảng 3-4 tấn CO₂e/ha/vụ.

Một mô hình “Canh tác lúa thông minh” triển khai trong vụ Đông Xuân 2023-2024 tại An Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp, Kiên Giang và Long An cũng ghi nhận những kết quả rõ rệt. Năng suất tăng 0,51 tấn/ha, chi phí giảm 1,3 triệu đồng/ha, lợi nhuận tăng 6,4 triệu đồng/ha, trong khi phát thải giảm gần 25%. Lượng phân đạm giảm 35 kg/ha, lượng giống giảm 82 kg/ha và số lần sử dụng thuốc giảm 1,4 lần.

Các giải pháp được áp dụng gồm quản lý nước theo hướng tưới ngập - khô xen kẽ, giảm lượng giống gieo sạ, quản lý phân bón và dịch hại, thu gom rơm rạ, tăng cường cơ giới hóa.

Những kết quả này cho thấy bài toán kỹ thuật và mở rộng diện tích đã có bước tiến. Tuy nhiên, khi đặt cạnh quy mô vùng sản xuất, khoảng cách về tổ chức liên kết vẫn còn lớn.

Theo tài liệu của Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn, năm 2024 có 7 mô hình liên kết với 302 ha; năm 2025 tăng lên 39 mô hình với 1.950 ha. Đến vụ Đông Xuân 2025-2026, số mô hình liên kết đã tăng lên hơn 200, với diện tích khoảng 10.300 ha.

Con số này vẫn rất nhỏ so với 379.449 ha đã áp dụng toàn bộ hoặc một phần quy trình canh tác bền vững.

Khoảng cách trên cho thấy giai đoạn tiếp theo của Đề án không chỉ là tiếp tục mở rộng diện tích hay nhân rộng quy trình kỹ thuật. Vấn đề lớn hơn là tổ chức lại vùng sản xuất thành vùng nguyên liệu, trong đó HTX, doanh nghiệp, thị trường và người trồng lúa được kết nối trong cùng một chuỗi giá trị.

Từ vùng sản xuất sang vùng nguyên liệu

Theo định hướng giai đoạn 2026-2030, yêu cầu đặt ra là chuyển từ “vùng sản xuất” sang “vùng nguyên liệu”.

Một vùng nguyên liệu không chỉ được xác định bằng diện tích sản xuất mà phải có ranh giới, HTX hoặc tổ chức đại diện người sản xuất, số hộ và sản lượng, doanh nghiệp tham gia, thị trường, hợp đồng liên kết, quy trình và tiêu chuẩn sản xuất, hạ tầng, logistics, dữ liệu vùng nguyên liệu, phương án sản xuất - kinh doanh và nhu cầu vốn.

Khi những thông tin này được xác lập, vùng nguyên liệu có thể trở thành một “hồ sơ đầu tư”, thay vì chỉ là một địa bàn sản xuất.

Cách tiếp cận vì vậy cũng cần thay đổi, từ “có diện tích rồi tìm doanh nghiệp” sang tổ chức vùng nguyên liệu theo nhu cầu thị trường, xác định doanh nghiệp, xây dựng hợp đồng và phương án sản xuất trước khi huy động vốn.

Trong chuỗi đó, HTX giữ vai trò tổ chức sản xuất, tập hợp hộ dân và cung cấp các dịch vụ đầu vào, kỹ thuật, cơ giới hóa. Doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào tiêu thụ, chế biến, logistics, phát triển thị trường và đầu tư.

Hợp đồng liên kết cũng cần được cụ thể hóa từ sản phẩm, sản lượng, chất lượng, đầu vào, giá hoặc công thức giá đến giao nhận, thanh toán, phân chia lợi ích, trách nhiệm và rủi ro của các bên.

Cùng với hợp đồng là dữ liệu, diện tích, hộ sản xuất, HTX, doanh nghiệp, sản lượng, quy trình canh tác, chất lượng, hợp đồng và kết quả giảm phát thải cần được ghi nhận, kết nối và cập nhật.

Số hóa vì vậy không chỉ là câu chuyện công nghệ. Dữ liệu vùng nguyên liệu còn là cơ sở để doanh nghiệp đánh giá nguồn cung, quản lý chuỗi, truy xuất sản phẩm và xây dựng phương án kinh doanh; đồng thời giúp các tổ chức tín dụng có thêm căn cứ xem xét khả năng đầu tư.

Giải bài toán đưa hạt gạo chất lượng cao, phát thải thấp tiến sâu vào chuỗi giá trị

Đến tháng 4/2026, vùng chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp đạt 942.357 ha, trong đó 379.449 ha áp dụng quy trình canh tác bền vững. Ảnh: Nguyễn Sơn

Không chỉ thiếu vốn, mà thiếu chuỗi đủ sức hấp thụ vốn

Theo tài liệu của Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn, nhu cầu tín dụng phục vụ Đề án khoảng 82.989 tỷ đồng. Đây là nguồn vốn lớn, nhưng để dòng vốn thực sự đi vào sản xuất, các chuỗi liên kết phải đủ điều kiện hấp thụ và sử dụng hiệu quả.

Năng lực quản trị của HTX và doanh nghiệp, chất lượng hợp đồng, dữ liệu vùng nguyên liệu, thị trường tiêu thụ và dòng tiền là những yếu tố liên quan trực tiếp đến khả năng tiếp cận tín dụng.

Một vùng nguyên liệu có tổ chức sản xuất rõ ràng, doanh nghiệp tham gia, hợp đồng cụ thể và dữ liệu đầy đủ sẽ có cơ sở để xây dựng phương án đầu tư, sản xuất - kinh doanh. Ngược lại, liên kết còn ngắn hạn, năng lực quản trị hạn chế, dữ liệu phân tán và dòng tiền chưa được chứng minh sẽ khiến việc thu hút vốn gặp khó khăn.

Vì vậy, bài toán vốn không chỉ là tìm nguồn tiền mà còn phải hình thành những chuỗi đủ “sẵn sàng” để hấp thụ vốn. Cùng với tín dụng, cần hoàn thiện tổ chức chuỗi, nâng chất lượng hợp đồng liên kết, phát huy vai trò “vốn mồi” của Nhà nước và gắn chất lượng, kết quả giảm phát thải với nhu cầu thị trường.

Dữ liệu phát thải trở thành một phần của giá trị hạt gạo

Khi chuỗi được tổ chức, sản phẩm không chỉ cần đáp ứng yêu cầu về sản lượng và chất lượng mà còn phải chứng minh được cách thức sản xuất và kết quả giảm phát thải.

Từ yêu cầu này, nhãn hiệu Gạo Việt xanh phát thải thấp được xây dựng gắn với kiểm soát quá trình sản xuất và truy xuất nguồn gốc. Phạm vi áp dụng gồm các tỉnh: An Giang, Đồng Tháp, Tây Ninh, Vĩnh Long, Cà Mau và TP Cần Thơ.

Việc sử dụng nhãn hiệu gắn với điều kiện về khu vực địa lý, quy trình kỹ thuật sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp; đồng thời kiểm soát nguồn gốc sản phẩm, quy trình sản xuất, tem nhãn, bao bì, lưu thông và quảng bá.

Năm 2025, có 18.048 ha với sản lượng 71.420 tấn gạo sử dụng nhãn hiệu Gạo Việt xanh phát thải thấp, mức giảm phát thải khoảng 3-6 tấn CO₂e/ha.

ViRiCert được giới thiệu như một giải pháp kết nối thực hành sản xuất với chứng nhận, trong đó dữ liệu sản xuất và minh chứng về quy trình là cơ sở phục vụ đánh giá, chứng nhận và nhận diện những điểm cần cải thiện.

Điều này cho thấy với gạo phát thải thấp, thay đổi phương thức canh tác mới là bước đầu. Để tạo giá trị trên thị trường, sản phẩm còn cần dữ liệu chứng minh nguồn gốc, quy trình sản xuất, chất lượng và kết quả giảm phát thải.

Bên cạnh đó, phụ phẩm từ đồng lúa cũng được đặt trong chuỗi giá trị. Rơm rạ có thể được thu gom, xử lý để sản xuất phân hữu cơ và các sản phẩm khác, góp phần giảm phát thải và mở hướng phát triển kinh tế tuần hoàn.

Khi thu gom rơm rạ, quản lý nước, giảm lượng giống, sử dụng phân bón hợp lý, quản lý dịch hại và cơ giới hóa được tổ chức trong cùng một chuỗi, giá trị không chỉ đến từ hạt gạo mà còn có thể được tạo ra từ chính phụ phẩm của quá trình sản xuất.

Thu hẹp khoảng cách từ vùng sản xuất đến chuỗi giá trị

Đề án 1 triệu ha đã tạo nền tảng quan trọng về quy mô vùng chuyên canh và thay đổi phương thức canh tác. Những mô hình thực tế cũng cho thấy khả năng giảm chi phí, tăng lợi nhuận và giảm phát thải trong sản xuất lúa.

Tuy nhiên, khoảng cách giữa sản xuất theo quy trình bền vững và tổ chức liên kết cho thấy dư địa xây dựng chuỗi giá trị lúa gạo vẫn còn rất lớn.

Giai đoạn 2026-2030 cần chuyển mạnh từ mục tiêu phát triển diện tích sang nâng cao “chất lượng tổ chức” của vùng lúa. HTX phải được củng cố, doanh nghiệp tham gia sâu hơn, hợp đồng liên kết chặt hơn, dữ liệu được số hóa, nguồn vốn được kết nối và thị trường trở thành cơ sở để tổ chức sản xuất.

Khi vùng nguyên liệu được định danh, dữ liệu được kết nối, hợp đồng được củng cố và doanh nghiệp tham gia sâu hơn, khả năng tiếp cận nguồn vốn cũng có thêm cơ sở.

Đó cũng là bước chuyển từ những vùng sản xuất lớn sang các vùng nguyên liệu có khả năng kết nối với doanh nghiệp, thị trường và các tổ chức tài chính, qua đó đưa hạt gạo chất lượng cao, phát thải thấp tiến sâu hơn vào chuỗi giá trị./.

Bài liên quan

Đồng Tháp: Doanh nghiệp kinh doanh phân bón sai nhãn bị phạt gần 150 triệu đồng

Đồng Tháp: Doanh nghiệp kinh doanh phân bón sai nhãn bị phạt gần 150 triệu đồng

Một doanh nghiệp tại xã Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp bị xử phạt gần 150 triệu đồng do buôn bán phân bón lá sinh học có nhãn hàng hóa không ghi đủ, ghi không đúng các nội dung bắt buộc.
Cần Thơ đẩy mạnh mô hình sử dụng phân bón hữu cơ

Cần Thơ đẩy mạnh mô hình sử dụng phân bón hữu cơ

Cần Thơ đặt mục tiêu đến năm 2030, ít nhất 80% số xã, phường có sản xuất chủ lực lúa, cây ăn quả và rau màu xây dựng mô hình sử dụng phân bón hữu cơ gắn với chuỗi giá trị. Đến năm 2050, thành phố phấn đấu có 50% diện tích trồng trọt sử dụng phân bón hữu cơ và 80% nguồn nguyên liệu sẵn có được sử dụng để sản xuất phân bón hữu cơ.
Hà Nội: Dịch vụ, thương mại duy trì đà tăng trưởng tích cực trong 9 tháng năm 2026

Hà Nội: Dịch vụ, thương mại duy trì đà tăng trưởng tích cực trong 9 tháng năm 2026

Trong 9 tháng năm 2026, khu vực dịch vụ tiếp tục đóng vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế Hà Nội khi giá trị tăng thêm tăng 9,14% so với cùng kỳ năm trước. Cùng với đó, sức mua trên thị trường cải thiện, hoạt động bán lẻ, lưu trú, ăn uống và du lịch đều ghi nhận mức tăng khá, góp phần tạo thêm động lực cho khu vực dịch vụ của Thủ đô.
Quy định mới về truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa trên môi trường số

Quy định mới về truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa trên môi trường số

Truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa được thực hiện trên môi trường số, với mức độ áp dụng phân theo rủi ro. Trong đó, nhóm sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao thuộc diện bắt buộc thực hiện.
Vĩnh Long: Phát hiện 13,5 tấn thức ăn tôm bị gian lận hạn dùng

Vĩnh Long: Phát hiện 13,5 tấn thức ăn tôm bị gian lận hạn dùng

Lực lượng Quản lý thị trường tỉnh Vĩnh Long vừa phát hiện một doanh nghiệp thay đổi ngày sản xuất, kéo dài thời hạn sử dụng trên nhãn đối với 1.350 thùng thức ăn hỗn hợp cho tôm, tổng khối lượng 13,5 tấn. Doanh nghiệp bị xử phạt 125 triệu đồng và buộc tiêu hủy số hàng vi phạm trị giá hơn 609 triệu đồng.
Hải Phòng quyết tâm đạt mục tiêu tăng trưởng tại phiên họp thường kỳ tháng 9

Hải Phòng quyết tâm đạt mục tiêu tăng trưởng tại phiên họp thường kỳ tháng 9

Nhằm kiểm điểm tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 9 tháng đầu năm và xây dựng kịch bản hành động cho chặng nước rút cuối năm, sáng 28/9, UBND thành phố đã tổ chức Phiên họp thường kỳ tháng 9/2026. Hội nghị được kết nối đồng bộ từ thành phố đến các điểm cầu cơ sở tại các xã, phường và đặc khu. Tại đây, đại biểu tập trung mổ xẻ kết quả đạt được trong tháng 9 và quý III, đồng thời quyết nghị các giải pháp đột phá nhằm hoàn thành thắng lợi các mục tiêu phát triển của quý IV và cả năm 2026.

CÁC TIN BÀI KHÁC

Khẳng định vai trò khuyến nông trong canh tác lúa phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh

Khẳng định vai trò khuyến nông trong canh tác lúa phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh

Ngày 22/9, tại Nghệ An, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường Nghệ An tổ chức Diễn đàn Khuyến nông Nông nghiệp với chủ đề “Giải pháp nhân rộng mô hình canh tác lúa phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh”.
Vận động doanh nghiệp đồng hành phát triển lâu dài - cơ hội mới cho nông nghiệp hữu cơ

Vận động doanh nghiệp đồng hành phát triển lâu dài - cơ hội mới cho nông nghiệp hữu cơ

Lâm Đồng đang triển khai đồng bộ các giải pháp cải thiện môi trường đầu tư, khuyến khích doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nông nghiệp, gắn bó lâu dài và làm thủ tục hải quan ngay tại địa phương.
VOAA và Agribank thúc đẩy hợp tác, kết nối tín dụng cho nông nghiệp hữu cơ

VOAA và Agribank thúc đẩy hợp tác, kết nối tín dụng cho nông nghiệp hữu cơ

Chiều 18/9, Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam (VOAA) và Agribank đã tổ chức cuộc họp trực tuyến nhằm trao đổi kế hoạch khảo sát thực tế tại các doanh nghiệp, tìm hiểu nhu cầu vốn và nghiên cứu các sản phẩm ngân hàng phù hợp với từng nhóm khách hàng trong chuỗi sản xuất nông nghiệp xanh, sạch và hữu cơ.
Ngày Hữu cơ Việt Nam 19/9: Hành trình vun đắp niềm tin và giá trị bền vững

Ngày Hữu cơ Việt Nam 19/9: Hành trình vun đắp niềm tin và giá trị bền vững

Từ lễ phát động tại Thái Nguyên năm 2017, ngày 19/9 trở thành dịp để cộng đồng hữu cơ Việt Nam tôn vinh những người tiên phong, chia sẻ kinh nghiệm và kết nối phát triển. Nhìn lại chặng đường đã qua, những thành tựu về chính sách, tiêu chuẩn, sản xuất và hội nhập quốc tế đang tạo nền tảng để nông nghiệp hữu cơ tiếp tục phát triển vì sức khỏe con người và môi trường.
Phát triển nông nghiệp hữu cơ là trách nhiệm của thế hệ trước với tương lai

Phát triển nông nghiệp hữu cơ là trách nhiệm của thế hệ trước với tương lai

Phát triển nông nghiệp hữu cơ không chỉ là phương thức canh tác nâng cao giá trị kinh tế, mà còn là trách nhiệm đạo đức của thế hệ hôm nay dành cho mai sau. Bằng việc trả lại sự trong lành cho đất và nguồn nước, nông nghiệp sạch chính là lá chắn bảo vệ sức khỏe cộng đồng, tái tạo hệ sinh thái và duy trì mầm sống bền vững cho tương lai.
Vai trò của người trẻ trong hành trình phát triển nông nghiệp hữu cơ Việt Nam

Vai trò của người trẻ trong hành trình phát triển nông nghiệp hữu cơ Việt Nam

Không chỉ trở về với ruộng đồng, người trẻ đang có cơ hội trở thành lực lượng kết nối sản xuất với công nghệ, thị trường và những giá trị mới của nền nông nghiệp bền vững của Việt Nam.
Truyền thông đồng hành cùng sự phát triển của nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam

Truyền thông đồng hành cùng sự phát triển của nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam

Truyền thông không chỉ là đưa thông tin, mà phải trở thành động lực xây dựng niềm tin, thay đổi nhận thức và thúc đẩy thị trường hữu cơ phát triển bền vững.
Nông thôn mới - Từ ý tưởng xây dựng làng kiểu mẫu theo tư tưởng của Bác Hồ

Nông thôn mới - Từ ý tưởng xây dựng làng kiểu mẫu theo tư tưởng của Bác Hồ

Chương trình xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam hôm nay không phải là một tư duy hoàn toàn mới mẻ, mà là sự kế thừa, phát triển từ những tư tưởng sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nông nghiệp, nông dân và nông thôn.
Bảo tồn nguồn nước thông qua các mô hình canh tác hữu cơ: Luận giải dưới góc nhìn chuyên gia

Bảo tồn nguồn nước thông qua các mô hình canh tác hữu cơ: Luận giải dưới góc nhìn chuyên gia

Trong hoàn cảnh biến đổi khí hậu, hạn hán và suy giảm chất lượng đất ngày càng gia tăng, bảo tồn nguồn nước trở thành yêu cầu cấp thiết của nông nghiệp bền vững. Canh tác hữu cơ với khả năng cải thiện đất, tăng giữ ẩm, giảm dòng chảy mặt và hạn chế rửa trôi dinh dưỡng đang mở ra hướng tiếp cận sinh thái, hiệu quả hơn.
Trung Quốc nghiên cứu biến mỏ than bỏ hoang thành trang trại dưới lòng đất

Trung Quốc nghiên cứu biến mỏ than bỏ hoang thành trang trại dưới lòng đất

Trước áp lực ngày càng lớn từ biến đổi khí hậu lên nông nghiệp truyền thống, một nhóm nhà khoa học Trung Quốc vừa đề xuất ý tưởng phát triển nông nghiệp dưới lòng đất tại các đường hầm mỏ than đã ngừng khai thác, coi đây là hướng đi mới cho nền kinh tế tuần hoàn của ngành khai khoáng nước này.
Hợp tác xã kiểu mới - Con đường đoàn kết đi tới ấm no, hạnh phúc

Hợp tác xã kiểu mới - Con đường đoàn kết đi tới ấm no, hạnh phúc

Trong tiến trình đổi mới và phát triển kinh tế tập thể ở Việt Nam, mô hình HTX kiểu mới đang ngày càng khẳng định vai trò là một hướng đi đúng đắn, phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường trong giai đoạn phát triển mới.
Vai trò của nông nghiệp đối với xã hội Việt Nam

Vai trò của nông nghiệp đối với xã hội Việt Nam

Nông nghiệp từ lâu đã giữ vị trí nền tảng trong quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của xã hội Việt Nam. Dù trải qua nhiều giai đoạn lịch sử với những biến động lớn, từ nền kinh tế tự cung tự cấp đến thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, nông nghiệp vẫn luôn là trụ cột quan trọng, tác động toàn diện đến kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường và an ninh quốc gia.
XEM THÊM
dam-ca-mau-chi-vi-hoa
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2026 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính