ki-niem-15-voaa
Thứ sáu 16/10/2026 12:19Thứ sáu 16/10/2026 12:19 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Hợp tác xã kiểu mới - Con đường đoàn kết đi tới ấm no, hạnh phúc

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Trong tiến trình đổi mới và phát triển kinh tế tập thể ở Việt Nam, mô hình HTX kiểu mới đang ngày càng khẳng định vai trò là một hướng đi đúng đắn, phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường trong giai đoạn phát triển mới.
Hợp tác xã kiểu mới - Con đường đoàn kết đi tới ấm no, hạnh phúc
Hợp tác xã sản xuất miến Dong Việt Cường (Thái Nguyên) sau bão lũ không một xã viên nào rời HTX

Không còn mang dáng dấp bao cấp “rong công phóng điểm”; người chăm làm và người lười biếng hưởng như nhau nghĩa là hành chính hóa như trước đây, hợp tác xã kiểu mới được xây dựng trên nền tảng tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi và tôn trọng quy luật thị trường. Chính tinh thần đoàn kết, liên kết chặt chẽ giữa các thành viên đã tạo nên sức mạnh tập thể, mở ra con đường đi tới ấm no, hạnh phúc cho người dân, nhất là khu vực nông thôn.

Trước hết, hợp tác xã kiểu mới là hình thức tổ chức sản xuất dựa trên sự liên kết tự nguyện của các thành viên nhằm đáp ứng nhu cầu chung về đầu vào, đầu ra, dịch vụ và tiêu thụ sản phẩm. Khác với hợp tác xã truyền thống, nơi người dân tham gia mang tính bắt buộc, hợp tác xã kiểu mới đặt lợi ích kinh tế của thành viên làm trung tâm. Mỗi thành viên vừa là chủ sở hữu, vừa là người sử dụng dịch vụ của hợp tác xã; quyền lợi và trách nhiệm được xác lập rõ ràng, minh bạch. Chính cơ chế này tạo động lực để người dân chủ động tham gia, gắn bó lâu dài và cùng nhau phát triển.

Hợp tác xã kiểu mới góp phần quan trọng khắc phục tình trạng sản xuất manh mún, nhỏ lẻ - điểm yếu cố hữu của nông nghiệp Việt Nam. Khi các hộ nông dân liên kết lại trong hợp tác xã, quy mô sản xuất được mở rộng, chi phí đầu vào được giảm nhờ mua chung vật tư, giống, phân bón; đồng thời quy trình sản xuất được thống nhất, bảo đảm chất lượng đồng đều. Nhờ đó, sản phẩm của hợp tác xã có khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường, nâng cao sức cạnh tranh và giá trị gia tăng.

Một vai trò nổi bật khác của hợp tác xã kiểu mới là cầu nối giữa nông dân với doanh nghiệp và thị trường. Thông qua hợp tác xã, người nông dân không còn đơn độc trong việc tìm kiếm đầu ra cho sản phẩm. hợp tác xã đứng ra ký kết hợp đồng liên kết sản xuất - tiêu thụ với doanh nghiệp, tham gia chuỗi giá trị từ sản xuất, chế biến đến phân phối. Sự liên kết này giúp ổn định đầu ra, hạn chế rủi ro “được mùa mất giá”, đồng thời tạo điều kiện để người dân tiếp cận thông tin thị trường, khoa học - công nghệ và phương thức quản trị hiện đại.

Hợp tác xã kiểu mới còn đóng vai trò quan trọng trong nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống của thành viên. Thay vì chỉ bán sản phẩm thô với giá thấp, nhiều hợp tác xã đã đầu tư vào sơ chế, chế biến, xây dựng thương hiệu, truy xuất nguồn gốc, từ đó nâng cao giá trị sản phẩm. Lợi nhuận thu được không chỉ chia cho các thành viên mà còn được tái đầu tư để mở rộng sản xuất, nâng cao chất lượng dịch vụ. Thu nhập ổn định giúp người dân yên tâm bám đất, bám nghề, từng bước vươn lên làm giàu chính đáng.

Không dừng lại ở lợi ích kinh tế, hợp tác xã kiểu mới còn có ý nghĩa sâu sắc về mặt xã hội và nhân văn. Trong quá trình hoạt động, các thành viên hợp tác xã hỗ trợ lẫn nhau về vốn, kinh nghiệm sản xuất, kỹ thuật và tiêu thụ sản phẩm. Tinh thần “một người vì mọi người, mọi người vì một người” được khơi dậy và phát huy. Hợp tác xã trở thành không gian gắn kết cộng đồng, nơi người dân cùng bàn bạc, cùng quyết định và cùng chia sẻ thành quả lao động. Chính sự gắn kết này góp phần củng cố niềm tin xã hội, xây dựng mối quan hệ làng xóm bền chặt, hài hòa.

Hợp tác xã kiểu mới cũng là động lực quan trọng trong xây dựng nông thôn mới. Thông qua việc tổ chức sản xuất hiệu quả, tạo việc làm tại chỗ và nâng cao thu nhập cho người dân, hợp tác xã góp phần giảm nghèo bền vững, hạn chế tình trạng di cư lao động tự do. Nhiều hợp tác xã còn tham gia cung ứng các dịch vụ thiết yếu như vệ sinh môi trường, nước sạch, tín dụng nội bộ, góp phần cải thiện diện mạo nông thôn, nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồng.

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và yêu cầu phát triển bền vững, hợp tác xã kiểu mới có điều kiện thuận lợi để thúc đẩy sản xuất xanh, an toàn và thân thiện với môi trường. Việc áp dụng các quy trình sản xuất hữu cơ, tuần hoàn, tiết kiệm tài nguyên sẽ hiệu quả hơn khi được tổ chức ở quy mô hợp tác xã. Đồng thời, hợp tác xã là đầu mối để tiếp nhận và chuyển giao tiến bộ khoa học - công nghệ, giúp nông dân thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm rủi ro và bảo vệ môi trường sinh thái.

Tuy nhiên, để hợp tác xã kiểu mới thực sự trở thành con đường dẫn tới ấm no, hạnh phúc, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ; nâng cao năng lực quản trị của đội ngũ cán bộ hợp tác xã; tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cho thành viên; đồng thời thúc đẩy liên kết chặt chẽ giữa hợp tác xã với doanh nghiệp, ngân hàng và các tổ chức khoa học. Bản thân các hợp tác xã cũng cần đổi mới tư duy, hoạt động minh bạch, lấy hiệu quả và lợi ích của thành viên làm thước đo.

Có thể khẳng định, hợp tác xã kiểu mới không chỉ là mô hình kinh tế, mà còn là biểu hiện sinh động của tinh thần đoàn kết cộng đồng trong thời kỳ mới. Khi người dân biết liên kết, hợp tác và cùng nhau hành động, sức mạnh tập thể sẽ được nhân lên, tạo nền tảng vững chắc để xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc và một nền nông thôn Việt Nam phát triển bền vững, hiện đại nhưng vẫn đậm đà bản sắc./.

Bài liên quan

CÁC TIN BÀI KHÁC

Kết nối nghiên cứu ứng dụng cơ giới hóa thông minh và công nghệ xanh, nâng cao giá trị nông sản

Kết nối nghiên cứu ứng dụng cơ giới hóa thông minh và công nghệ xanh, nâng cao giá trị nông sản

ĐH Nông Lâm, ĐH Huế kết nối nghiên cứu ứng dụng, cơ giới hóa thông minh và công nghệ xanh, nâng cao giá trị nông sản, sử dụng hiệu quả tài nguyên...
Đưa khoa học nông nghiệp từ phòng thí nghiệm ra đồng ruộng

Đưa khoa học nông nghiệp từ phòng thí nghiệm ra đồng ruộng

Từ kết quả nghiên cứu đến ứng dụng trong sản xuất vẫn còn khoảng cách đáng kể. Thu hẹp khoảng cách ấy không chỉ đòi hỏi công nghệ tiên tiến, mà còn cần cơ chế phù hợp, sự tham gia của doanh nghiệp và người nông dân, cùng những giải pháp bảo đảm hiệu quả kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
Làm thế nào khơi thông nguồn lực để phát triển nông nghiệp?

Làm thế nào khơi thông nguồn lực để phát triển nông nghiệp?

Nông nghiệp Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn chuyển đổi quan trọng. Từ nền sản xuất dựa nhiều vào đất đai, lao động và kinh nghiệm truyền thống, ngành nông nghiệp đang từng bước chuyển sang mô hình dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, dữ liệu, liên kết chuỗi và kinh tế xanh. Trong quá trình đó, khơi thông và huy động hiệu quả các nguồn lực trở thành yếu tố quyết định để nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam.
Ứng dụng công nghệ số trong quản lý sản xuất nông nghiệp hữu cơ và giải pháp phát triển bền vững

Ứng dụng công nghệ số trong quản lý sản xuất nông nghiệp hữu cơ và giải pháp phát triển bền vững

Nông nghiệp hữu cơ đối mặt nhiều thách thức về chi phí giám sát, rủi ro dịch bệnh và tính minh bạch. Việc ứng dụng công nghệ số như IoT, AI, Blockchain, Big Data và UAV tạo ra bước ngoặt giúp tối ưu hóa quản lý, kiểm soát tiêu chuẩn nghiêm ngặt và công khai chuỗi giá trị. Bài viết phân tích thực trạng, hạ tầng công nghệ, tác động kinh tế - sinh thái, rào cản cốt lõi và đề xuất giải pháp phát triển bền vững.
Nước tưới hoạt hóa bằng khoáng chất và ánh sáng mặt trời giúp năng suất cây trồng tăng tới hơn 100%

Nước tưới hoạt hóa bằng khoáng chất và ánh sáng mặt trời giúp năng suất cây trồng tăng tới hơn 100%

Các thử nghiệm đồng ruộng quy mô lớn trải dài từ Hắc Long Giang đến Hải Nam cho thấy nước tưới được xử lý bằng khoáng chất tự nhiên hoạt hóa dưới ánh nắng có thể nâng năng suất lúa tới 40,6%, mía 45,7% và khoai lang 109,5%, theo nhóm nhà khoa học thuộc Đại học Bắc Kinh.
Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 3: Từ nhận thức đến hành động

Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 3: Từ nhận thức đến hành động

Chuyển đổi hệ thống lương thực – thực phẩm không thể thành công nếu chỉ trông chờ vào một chính sách, một ngành, một doanh nghiệp hay một nhóm người. Việt Nam đã có Kế hoạch hành động quốc gia theo Quyết định 300/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, nhưng trong quá trình thực hiện vẫn gặp những khó khăn về nguồn lực, hướng dẫn, dữ liệu và năng lực của các bên. Điều quan trọng lúc này là biến mục tiêu lớn thành những việc cụ thể, để Nhà nước, địa phương, người sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp, nhà khoa học, truyền thông và người tiêu dùng cùng tạo ra thay đổi. Chuyển đổi chỉ thực sự xảy ra khi mỗi mắt xích nhận rõ trách nhiệm và cùng hành động.
Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 2: Từ cánh đồng đến thị trường

Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 2: Từ cánh đồng đến thị trường

Một nền nông nghiệp có thể tạo ra hàng triệu tấn lương thực, thực phẩm mỗi năm nhưng vẫn còn những điểm nghẽn trên hành trình từ cánh đồng đến bàn ăn. Người sản xuất có thể làm ra sản phẩm nhưng chưa chắc có thị trường ổn định, doanh nghiệp có thể có đơn hàng nhưng chưa chắc có vùng nguyên liệu bền vững, sản phẩm có chất lượng nhưng vẫn có thể mất giá trị nếu bảo quản, chế biến và logistics chưa đáp ứng. Vì vậy, bài toán của hệ thống lương thực - thực phẩm không chỉ là “sản xuất được bao nhiêu”, mà còn là sản xuất như thế nào, kết nối ra sao và giá trị được tạo ra, phân bổ như thế nào trong toàn chuỗi.
Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 1: Từ bàn ăn nhìn ra cả hệ thống

Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 1: Từ bàn ăn nhìn ra cả hệ thống

Mỗi ngày, một bữa cơm gia đình bắt đầu từ những điều rất quen thuộc: Hạt gạo, bó rau, con cá, quả trứng hay miếng thịt. Nhưng để những thực phẩm ấy xuất hiện trên bàn ăn là cả một hành trình dài, với sự tham gia của người sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp, nhà khoa học, cơ quan quản lý, hệ thống phân phối và chính người tiêu dùng. Phía sau mỗi món ăn còn là đất, nước, lao động, công nghệ, thị trường, chính sách và môi trường. Hiểu được hành trình ấy chính là bước đầu tiên để mỗi người nhận ra mình đang ở đâu và có thể làm gì để cùng xây dựng một hệ thống lương thực - thực phẩm minh bạch, trách nhiệm và bền vững.
Khả năng hấp thụ carbon của hệ thống nông nghiệp hữu cơ

Khả năng hấp thụ carbon của hệ thống nông nghiệp hữu cơ

Nông nghiệp hữu cơ đang mở ra hướng tiếp cận mới trong ứng phó biến đổi khí hậu khi không chỉ giảm phụ thuộc vào vật tư hóa học mà còn góp phần gia tăng carbon trong đất. Thông qua đa dạng hóa cây trồng, sử dụng phân hữu cơ, cây che phủ, luân canh và giảm làm đất, hệ thống này có thể nâng cao khả năng lưu giữ carbon, cải thiện sức khỏe đất và phát triển nông nghiệp bền vững.
Phát triển nông nghiệp sinh thái: Từ mô hình riêng lẻ đến chuyển đổi cả hệ thống

Phát triển nông nghiệp sinh thái: Từ mô hình riêng lẻ đến chuyển đổi cả hệ thống

Chuyển đổi sang nông nghiệp sinh thái, xanh, tuần hoàn cần được thực hiện đồng bộ từ tổ chức sản xuất, ứng dụng khoa học công nghệ đến liên kết thị trường và chia sẻ lợi ích. Tại hội thảo khoa học tổ chức ngày 30/9 ở Ninh Bình, các nhà quản lý, chuyên gia, doanh nghiệp và hợp tác xã nhấn mạnh yêu cầu để người nông dân được hưởng lợi xứng đáng từ những giá trị sinh thái mà họ tạo ra.
AOLC 2026: Lan tỏa những sáng kiến nông nghiệp sinh thái và hữu cơ

AOLC 2026: Lan tỏa những sáng kiến nông nghiệp sinh thái và hữu cơ

Ngày 30/9, tại Hà Nội, Khóa tập huấn Lãnh đạo Nông nghiệp Sinh thái và Hữu cơ năm 2026 (AOLC 2026) chính thức bế mạc, ghi nhận 27 học viên hoàn thành chương trình và vinh danh bốn đề án phát triển tiêu biểu. Từ những sáng kiến về thực phẩm học đường, sinh kế cộng đồng đến kết nối thị trường, khóa học mở ra kỳ vọng lan tỏa các thực hành nông nghiệp sinh thái, hữu cơ vào đời sống.
Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tiêu dùng thực phẩm hữu cơ

Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tiêu dùng thực phẩm hữu cơ

Quyết định tiêu dùng thực phẩm hữu cơ không chỉ chịu tác động bởi nhận thức về sức khỏe và an toàn thực phẩm mà còn liên quan đến giá cả, chất lượng, niềm tin, kiến thức, khả năng tiếp cận và các chuẩn mực xã hội. Việc nhận diện đầy đủ những yếu tố này có ý nghĩa quan trọng trong xây dựng chính sách, phát triển thị trường và thúc đẩy tiêu dùng thực phẩm hữu cơ bền vững tại Việt Nam.
XEM THÊM
dam-ca-mau-chi-vi-hoa
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2026 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính