Thứ hai 25/05/2026 13:25Thứ hai 25/05/2026 13:25 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Du lịch xanh cần “chuẩn hóa” thực phẩm sạch

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Du lịch xanh không thể chỉ được đo bằng cảnh quan trong lành, vật liệu thân thiện với môi trường hay những khẩu hiệu giảm phát thải. Với du khách, “màu xanh” của một điểm đến còn nằm ngay trong bữa ăn hằng ngày - thực phẩm có an toàn hay không, có minh bạch nguồn gốc hay không, có được kiểm soát xuyên suốt từ vùng nguyên liệu đến bàn ăn hay không. Khi khái niệm “thực phẩm sạch” vẫn còn được hiểu theo nhiều cách khác nhau, việc chuẩn hóa từ tiêu chuẩn, chứng nhận đến truy xuất và hậu kiểm đang trở thành yêu cầu cấp thiết để du lịch xanh phát triển đúng nghĩa và bền vững.
Du lịch xanh cần “chuẩn hóa” thực phẩm sạch

Thực tế hiện nay, quá trình triển khai du lịch xanh còn nhiều hạn chế, chưa có bước đột phá rõ rệt dù đã có khá nhiều quy định liên quan được ban hành. Nếu “sạch” là một trụ cột của tăng trưởng xanh, thì phần thực phẩm càng không thể tiếp tục bị để ở trạng thái cảm tính, nơi mỗi bên gọi một kiểu, chứng nhận một kiểu và hậu kiểm một kiểu.

Đối với ngành du lịch, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu thúc đẩy quá trình chuyển đổi xanh bằng cách “xây dựng các chương trình về văn hóa sống, lối sống xanh và phát triển sản phẩm du lịch xanh; xây dựng và áp dụng mô hình phát triển du lịch theo hướng tăng trưởng xanh tại các khu du lịch, điểm du lịch; xây dựng tiêu chí và triển khai dán nhãn du lịch xanh cho các cơ sở kinh doanh du lịch”.

Du lịch xanh được coi là một loại hình hoạt động theo phương thức giảm thiểu tác động đến môi trường, đóng góp tích cực bảo vệ đa dạng sinh học, sử dụng năng lượng tái tạo và phát huy các di sản thiên nhiên-văn hóa, phát triển các sản phẩm xanh thân thiện với môi trường.

Khoảng trống nằm ở khâu chuẩn hóa

Luật An toàn thực phẩm 2010 quy định rất rõ nguyên liệu dùng để chế biến phải có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng; bếp ăn, cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống phải bảo đảm không nhiễm chéo, có thiết bị bảo quản, có điều kiện vệ sinh phù hợp; thực phẩm không bảo đảm an toàn phải được truy xuất, thu hồi và xử lý. Nghị định 15/2018 là văn bản quy định chi tiết thi hành một số điều của luật này. Nghĩa là nền tảng pháp lý đã có, nhưng nền tảng ấy mới là điều kiện bắt buộc để được hoạt động, chưa phải là một bộ tiêu chí đủ rõ để định nghĩa “thực phẩm sạch” trong du lịch xanh.

Khoảng trống đó hiện đã được cơ quan quản lý nhìn nhận khá thẳng thắn. Bộ Y tế cho biết, sau 15 năm thực hiện, Luật An toàn thực phẩm bộc lộ nhiều vướng mắc: quy định chưa đồng bộ, chưa bảo đảm tính khả thi, mô hình quản lý chưa tinh gọn và thống nhất; đặc biệt, luật hiện hành còn chưa quy định đầy đủ việc quản lý, nhận diện và truy xuất nguồn gốc thực phẩm, nguyên liệu, phụ gia lưu hành trên thị trường bằng mã vạch, mã QR.

Nhiều cơ quan báo chí đã phản ánh các thủ đoạn như giả mạo hồ sơ nguồn gốc, dùng hóa đơn lòng vòng, công ty “ma”, giấy chứng nhận giả và chia nhỏ chuỗi sản xuất, phân phối để né kiểm tra liên quan đến an toàn vệ sinh thực phẩm.

Luật sư Nguyễn Trần Cẩm Giang nhận định khi vi phạm diễn ra theo chuỗi, trách nhiệm quản lý dễ bị phân tán, chồng chéo giữa nhiều cơ quan. Một thực tế như vậy cho thấy, nếu chỉ dừng ở việc treo biển “thực phẩm sạch” trước cửa nhà hàng hay cơ sở lưu trú, du lịch xanh sẽ không thể tự bảo vệ mình trước những mắt xích giả mạo nằm ở phía sau.

Không phải ngẫu nhiên mà TP.HCM những năm gần đây nhấn mạnh câu chuyện “xây thực phẩm sạch” theo chuỗi. Theo bà Phạm Khánh Phong Lan, Giám đốc Sở An toàn thực phẩm TP.HCM, với quy mô dân số hơn 14 triệu người sau sáp nhập, thành phố phải chú ý riêng đến bữa ăn công nghiệp, bữa ăn trường học và cả bữa ăn phục vụ du lịch; đồng thời phải tăng quản lý từ nguồn cung, bởi đợi thực phẩm về đến thành phố mới kiểm soát thì thiệt hại cho cả sản xuất lẫn kinh doanh.

Giai đoạn 2021-2025, TP.HCM đã mở rộng phối hợp với 15 tỉnh, cấp chứng nhận cho 131 trang trại, cơ sở tham gia chuỗi; một nguồn tin khác cho biết hệ thống chuỗi an toàn của thành phố đã lên tới 355 trang trại và đang được ưu tiên đưa vào trường học, cơ sở du lịch cùng các chuẩn VietGAP, GlobalGAP. Những con số ấy cho thấy địa phương này đang đi trước một bước, nhưng đồng thời cũng gợi ra câu hỏi lớn hơn: nếu mỗi nơi tự dựng một cách hiểu riêng về “thực phẩm sạch”, du lịch xanh sẽ lấy gì làm chuẩn chung?

Du lịch xanh cần “chuẩn hóa” thực phẩm sạch

“Thực phẩm sạch” phải được gọi đúng tên chuẩn

Cần phải phân biệt thật rõ, giấy chứng nhận an toàn thực phẩm bắt buộc không đồng nghĩa với sản phẩm sạch; chứng nhận sản xuất an toàn cũng không đồng nghĩa với hữu cơ; và càng không thể coi mọi sản phẩm có dán nhãn tự giới thiệu là như nhau.

Luật An toàn thực phẩm quy định nguyên liệu phải rõ nguồn gốc, cơ sở dịch vụ ăn uống phải bảo đảm vệ sinh, lưu mẫu, chống nhiễm chéo; nhưng đó là điều kiện tối thiểu. Ở mức cao hơn là các hệ chứng nhận sản xuất. Theo Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia, TCVN 11041-1:2017 đặt ra yêu cầu chung đối với sản xuất, chế biến, ghi nhãn sản phẩm nông nghiệp hữu cơ. Bên cạnh đó, chứng nhận PGS là hệ thống bảo đảm có sự tham gia trong sản xuất hữu cơ, trong khi GAP/VietGAP là bộ thực hành nông nghiệp tốt nhằm bảo đảm môi trường sản xuất an toàn và kiểm soát dư lượng trong ngưỡng cho phép. Gọi đúng tên chuẩn là bước đầu tiên của chuẩn hóa.

Ở góc độ của ngành du lịch, TCVN 14249:2024 áp dụng cho các cơ sở lưu trú đã quy định khá chặt chẽ khi yêu cầu dịch vụ ăn uống phải áp dụng biện pháp an toàn thực phẩm, ưu tiên thực phẩm tươi sống, khi có thể và khả thi về mặt kinh tế thì sử dụng sản phẩm hữu cơ, đồng thời coi trọng ẩm thực vùng miền và nguyên liệu theo mùa. Có thể xem đây là một cầu nối quan trọng giữa chuẩn an toàn thực phẩm và chuẩn vận hành xanh. Nhưng vì chỉ là một mảnh của bức tranh, tiêu chuẩn này vẫn cần được nối với vùng nguyên liệu, chứng nhận sản xuất và dữ liệu truy xuất nếu muốn trở thành thước đo cho cả chuỗi từ trang trại đến bàn ăn.

Thực tế tại Pù Luông (Thanh Hoá) cho thấy khi điểm du lịch sinh thái tại đây phát triển nhanh chóng, nhu cầu về nguồn thực phẩm an toàn tại chỗ cũng lập tức trở thành áp lực tổ chức sản xuất. Năm 2018, Hợp tác xã rau an toàn Thành Lâm được thành lập với 10 hộ, trên diện tích khoảng 5.000m²; trung bình mỗi năm cung ứng hơn 7 tấn rau, doanh thu trên 100 triệu đồng, và địa phương đang định hướng xây dựng thương hiệu rau an toàn gắn với điểm đến du lịch Pù Luông. Có thể thấy, khi ngành du lịch yêu cầu bữa ăn phải sạch, chuẩn hóa không còn là chuyện bàn giấy, mà trở thành điều kiện để phát triển sinh kế địa phương và chất lượng của điểm du lịch.

Theo số liệu của Bộ Công Thương, nhu cầu tiêu dùng sản phẩm xanh tại Việt Nam tăng trưởng trung bình 15% mỗi năm trong giai đoạn 2021 - 2023. 72% người tiêu dùng Việt Nam sẵn sàng chi trả nhiều hơn cho các sản phẩm xanh, sạch, có nguồn gốc rõ ràng nhằm bảo vệ sức khỏe. Nhu cầu thực phẩm sạch tăng trưởng trung bình 15% mỗi năm, thúc đẩy việc chuyển dịch từ tiêu dùng giá rẻ sang chất lượng.

Chuẩn hóa cần một cơ chế đồng bộ

Từ thực tế hiện nay, cần có một bộ tiêu chí chung về “thực phẩm sạch” nói chung và trong du lịch xanh nói riêng. Bộ tiêu chí ấy phải bắt đầu từ nền tảng pháp lý của Luật An toàn thực phẩm và Nghị định 15/2018. Bên cạnh đó, cần quy định rõ thế nào là nguồn nguyên liệu đạt chuẩn, những chứng nhận nào được chấp nhận, mức độ truy xuất tối thiểu ra sao, nhà hàng khách sạn phải công bố thông tin gì, và khi nào một sản phẩm được gọi là hữu cơ, khi nào chỉ nên gọi là sản xuất an toàn. Khi đã có môt bộ tiêu chí được thống nhất, việc kiểm tra mới bớt cảm tính, doanh nghiệp làm đúng mới không bị đánh đồng.

Đồng thời, chuẩn hóa phải đi cùng hạ tầng dữ liệu. Bộ Y tế nêu rõ yêu cầu sửa luật An toàn thực phẩm theo hướng đồng bộ hơn, tăng hậu kiểm, siết chặt quản lý nhóm nguy cơ cao, kiện toàn đầu mối quản lý và bổ sung quy định về nhận diện, truy xuất qua mã vạch, mã QR.

Đây là thời điểm phù hợp để lồng ghép nhu cầu của ngành du lịch vào quá trình sửa luật, không chỉ quản lý thực phẩm trên thị trường nói chung, mà còn định hình cơ chế truy xuất, công bố và hậu kiểm cho các bếp ăn tập thể, cơ sở lưu trú, nhà hàng phục vụ khách du lịch.

Chính sách cũng cần đủ mạnh để bảo vệ người làm thật. Kinh nghiệm thực tiễn từ TP.HCM cho thấy khi thành phố ưu tiên chuỗi thực phẩm an toàn, VietGAP, GlobalGAP cho trường học và cơ sở du lịch, yêu cầu chuẩn hóa đã bắt đầu áp dụng vào việc mua hàng chứ không dừng ở khẩu hiệu. Nhưng để mô hình ấy nhân rộng, cần có cơ chế hỗ trợ chi phí truy xuất, chuẩn hóa dữ liệu, kiểm nghiệm, mã số vùng trồng; đồng thời ưu tiên kết nối các chuỗi đạt chuẩn với hệ thống khách sạn, nhà hàng, khu du lịch và bếp ăn tập thể. Nếu để người làm đúng tự gánh toàn bộ chi phí tuân thủ, còn người làm ẩu chỉ cần gắn nhãn “sạch” là chen vào thị trường, quá trình chuẩn hóa sẽ mất động lực.

Du lịch xanh không thể chỉ “xanh” ở cảnh quan hay thông điệp quảng bá. Nó phải xanh cả ở chiếc đĩa đặt trước mặt du khách, ở vùng nguyên liệu phía sau căn bếp, ở dữ liệu truy xuất gắn với từng loại thực phẩm và ở khả năng hậu kiểm của cơ quan quản lý. Nói ngắn gọn, đã đến lúc phải chuẩn hóa thực phẩm sạch như một hạ tầng của du lịch xanh, chứ không coi đó là phần phụ của câu chuyện dịch vụ. Khi đó, du lịch xanh mới có thể đi bằng đôi chân vững chãi của niềm tin.

Bài liên quan

Thực phẩm sạch “chắp cánh” du lịch xanh phát triển bền vững

Thực phẩm sạch “chắp cánh” du lịch xanh phát triển bền vững

Nhiều năm qua, “du lịch xanh” thường được nhắc đến bằng những hình ảnh dễ thấy như giảm rác thải nhựa, tiết kiệm năng lượng, giữ gìn cảnh quan hay bảo vệ hệ sinh thái. Nhưng với du khách, điều chạm đến cảm nhận trực tiếp và rõ ràng nhất lại thường nằm trên bàn ăn. Một điểm du lịch có thể đẹp, nơi nghỉ dưỡng có thể sang trọng, nhưng nếu bữa ăn thiếu an toàn, thiếu minh bạch về nguồn gốc, hoặc tạo cảm giác bất an cho du khách, toàn bộ trải nghiệm “xanh” rất dễ trở nên khiên cưỡng.
Đầu bếp - Chủ thể kết nối thực phẩm sạch gắn với du lịch xanh

Đầu bếp - Chủ thể kết nối thực phẩm sạch gắn với du lịch xanh

Người đầu bếp không còn đơn thuần là người chế biến món ăn mà đang dần trở thành chủ thể quan trọng của thực phẩm sạch gắn với du lịch xanh, đóng vai trò kết nối giữa nông nghiệp bền vững, văn hóa ẩm thực và trải nghiệm du lịch.
Nghệ An lần đầu tổ chức Festival du lịch Cửa Lò

Nghệ An lần đầu tổ chức Festival du lịch Cửa Lò 'Bốn mùa biển gọi'

Festival Du lịch Cửa Lò 2026, tỉnh Nghệ An hứa hẹn mang đến nhiều hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch và giải trí đặc sắc, góp phần thu hút du khách về với biển trong cả bốn mùa.
Tp. Huế phát triển du lịch theo hướng bền vững, thân thiện với môi trường

Tp. Huế phát triển du lịch theo hướng bền vững, thân thiện với môi trường

Ngày 04/5, Ủy ban nhân dân Huế đã chính thức ban hành Quyết định số 1431/QĐ-UBND về Bộ tiêu chí Du lịch xanh, cụ thể hóa chủ trương phát triển du lịch bền vững
Hưng Yên: Siết chặt công tác quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm tại xã Bắc Đông Hưng

Hưng Yên: Siết chặt công tác quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm tại xã Bắc Đông Hưng

Công an xã Bắc Đông Hưng, tỉnh Hưng Yên vừa phối hợp cùng Phòng Kinh tế triển khai đợt kiểm tra liên ngành về vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) trên diện rộng.
NIFAM: Lan tỏa lối sống xanh từ thực phẩm và dinh dưỡng

NIFAM: Lan tỏa lối sống xanh từ thực phẩm và dinh dưỡng

NIFAM không chỉ là chuỗi hoạt động farm tour đưa người tiêu dùng tới gần hơn với nông nghiệp hữu cơ, mà còn là một nghiên cứu liên ngành về “Dự báo và giám sát can thiệp dinh dưỡng”, hướng tới xác định các giải pháp khả thi nhằm cải thiện bền vững chế độ ăn uống của cư dân đô thị Hà Nội.
Tp. Huế: Phường Phú Bài tập huấn phòng ngừa và kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm

Tp. Huế: Phường Phú Bài tập huấn phòng ngừa và kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm

Sáng 18/4, Trường Mầm non Bình Minh (phường Phú Bài, Tp. Huế) đã tổ chức tập huấn chuyên đề về vệ sinh ATTP, thiết thực nâng cao nhận thức, kỹ năng chuyên môn
Hải sản Quảng Ninh trong chuỗi cung ứng thực phẩm sạch

Hải sản Quảng Ninh trong chuỗi cung ứng thực phẩm sạch

Quảng Ninh không chỉ nổi tiếng với cảnh quan biển đảo mà còn là một trong những trung tâm nuôi trồng và cung ứng thủy hải sản lớn của miền Bắc. Đằng sau những món hải sản tươi xuất hiện trong thực đơn của các khách sạn và nhà hàng phục vụ du lịch là cả một chuỗi cung ứng được tổ chức ngày càng bài bản, bắt đầu từ vùng nuôi trên biển, qua các khâu sơ chế, bảo quản và vận chuyển lạnh trước khi tới bàn ăn của du khách.
Công nghệ truy xuất nguồn gốc: “Tấm hộ chiếu” minh bạch cho nông sản du lịch

Công nghệ truy xuất nguồn gốc: “Tấm hộ chiếu” minh bạch cho nông sản du lịch

Trong kỷ nguyên số, khi người tiêu dùng không chỉ ăn bằng vị giác mà còn bằng niềm tin, do vậy việc ứng dụng công nghệ truy xuất nguồn gốc (TXNG) như QR Code hay Blockchain không còn là một lựa chọn cộng thêm, mà đã trở thành xu hướng tất yếu - một “tấm hộ chiếu” quyền lực giúp nông sản tự tin bước vào thị trường du lịch cao cấp.

CÁC TIN BÀI KHÁC

ĐH Nông Lâm - ĐH Huế tăng cường hợp tác phát triển nông nghiệp hiện đại, bền vững

ĐH Nông Lâm - ĐH Huế tăng cường hợp tác phát triển nông nghiệp hiện đại, bền vững

Sự đồng hành giữa Nhà trường và doanh nghiệp được kỳ vọng sẽ mở ra nhiều cơ hội học tập, thực tập, việc làm cho sinh viên, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo
Liên kết "3 nhà" trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành nông nghiệp

Liên kết "3 nhà" trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành nông nghiệp

Không thể phát triển theo cách riêng lẻ, Nhà nước, trường đại học và doanh nghiệp cần hình thành hệ sinh thái liên kết thực chất để đào tạo nhân lực, nghiên cứu khoa học và thương mại hóa công nghệ phục vụ phát triển nông nghiệp hiện đại, bền vững.
6 đặc điểm cốt lõi cấu thành nên diện mạo của nền kinh tế xanh hiện đại

6 đặc điểm cốt lõi cấu thành nên diện mạo của nền kinh tế xanh hiện đại

Trong điều kiện biến đổi khí hậu đang trở thành thách thức sống còn của nhân loại, khái niệm "Nền kinh tế xanh" (Green Economy) không còn là một lựa chọn mang tính lý thuyết mà đã trở thành mệnh lệnh cấp bách.
Phân hữu cơ từ thân chuối giúp cây khỏe, giảm sâu bệnh, tiết kiệm chi phí

Phân hữu cơ từ thân chuối giúp cây khỏe, giảm sâu bệnh, tiết kiệm chi phí

Tận dụng phụ phẩm từ quá trình sản xuất sợi chuối, mô hình sản xuất phân hữu cơ dạng lỏng tại An Giang bước đầu cho kết quả tích cực khi giúp nông dân giảm tới 90% chi phí phân bón, cải thiện chất lượng đất và thúc đẩy phát triển nông nghiệp tuần hoàn.
Nghiên cứu khoa học của WASI cần gắn chặt với nhu cầu thị trường

Nghiên cứu khoa học của WASI cần gắn chặt với nhu cầu thị trường

Trong chuyến công tác tại tỉnh Đắk Lắk, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng cùng đoàn công tác đã có buổi làm việc với Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên (WASI), nhằm đánh giá kết quả hoạt động và định hướng phát triển trong thời gian tới.
Giải pháp kiến tạo một thị trường tiêu dùng lành mạnh

Giải pháp kiến tạo một thị trường tiêu dùng lành mạnh

Nền kinh tế số đang phát triển như vũ bão, thị trường tiêu dùng trở nên sôi động và đa dạng hơn bao giờ hết. Người tiêu dùng có nhiều lựa chọn hơn, nhưng đồng thời cũng phải đối mặt với vô vàn rủi ro, từ hàng giả, hàng nhái, thông tin sai lệch cho đến các chiêu trò lừa đảo tinh vi.
"Đòn bẩy" hiện đại hóa ngành chăn nuôi Việt Nam

"Đòn bẩy" hiện đại hóa ngành chăn nuôi Việt Nam

Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (khóa XIII) về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia được ban hành trong khi ngành chăn nuôi Việt Nam đang đứng trước những yêu cầu cấp thiết về đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất và hội nhập quốc tế. Đây không chỉ là một văn bản định hướng chính sách mà còn là “kim chỉ nam” thúc đẩy quá trình hiện đại hóa toàn diện ngành chăn nuôi - từ phương thức sản xuất, quản trị chuỗi giá trị đến ứng dụng khoa học công nghệ và phát triển bền vững.
Tầm nhìn chiến lược khơi nguồn lực nâng tầm nông nghiệp Ninh Bình

Tầm nhìn chiến lược khơi nguồn lực nâng tầm nông nghiệp Ninh Bình

Ngày 29 tháng 4 năm 2026, HĐND tỉnh Ninh Bình khóa XVI đã thông qua Nghị quyết số 04/2026/NQ-HĐND quy định nội dung chi, mức hỗ trợ cho hoạt động khuyến nông địa phương. Đây là quyết sách đặc biệt quan trọng, thể hiện sự nhạy bén, kịp thời và tâm thế đồng hành sát sao của chính quyền tỉnh đối với sự nghiệp phát triển nông thôn, tạo ra hành lang pháp lý vững chắc để tiếp sức cho người nông dân trong kỷ nguyên số.
Nông nghiệp hữu cơ không chỉ là kỹ thuật, mà là niềm tin và kỷ luật cộng đồng

Nông nghiệp hữu cơ không chỉ là kỹ thuật, mà là niềm tin và kỷ luật cộng đồng

Sáng 10/5, trong khuôn khổ Khóa tập huấn Lãnh đạo Nông nghiệp Sinh thái và Hữu cơ (AOLC 2026), các học viên đã tham quan thực địa mô hình sản xuất rau hữu cơ của Liên nhóm hữu cơ Thanh Xuân tại xã Nội Bài, Hà Nội. Sau gần hai thập kỷ bền bỉ, mô hình này tiếp tục cho thấy vai trò quan trọng của cộng đồng, kỷ luật sản xuất và hệ thống bảo đảm có sự tham gia trong phát triển nông nghiệp hữu cơ.
Phục hồi rừng bản địa - những kết quả ban đầu và triển vọng phát triển

Phục hồi rừng bản địa - những kết quả ban đầu và triển vọng phát triển

Tại hội thảo, nhiều đại biểu khẳng định phục hồi rừng bản địa có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên và khả năng hấp thụ carbon...
Cao Bằng có đưa di sản văn hóa “múa rồng – kỳ lân” thành tài nguyên du lịch đặc sắc?

Cao Bằng có đưa di sản văn hóa “múa rồng – kỳ lân” thành tài nguyên du lịch đặc sắc?

Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống mở ra nhiều cơ hội cho phát triển kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực du lịch văn hoá. Tại Cao Bằng, múa rồng – kỳ lân là một loại hình nghệ thuật dân gian đặc sắc có lịch sử truyền thống văn hoá tồn tại qua nhiều thế hệ và gắn bó mật thiết với đời sống tinh thần của cộng đồng các dân tộc. Trong xu hướng phát triển du lịch văn hoá hiện nay, việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống, trong đó có nghệ thuật múa rồng – kỳ lân, để trở thành sản phẩm du lịch đặc trưng được xem là hướng đi quan trọng. Điều này không chỉ góp phần gìn giữ và lan toả những giá trị văn hoá truyền thống mà còn quảng bá hình ảnh, con người và bản sắc văn hoá Cao Bằng đến với du khách trong nước và quốc tế.
Công nghiệp văn hóa: Động cơ mới cho sự phát triển và quyền lực mềm

Công nghiệp văn hóa: Động cơ mới cho sự phát triển và quyền lực mềm

Trong thế kỷ XXI, khái niệm về sự giàu có của một quốc gia không còn chỉ đo lường bằng trữ lượng dầu mỏ, quặng sắt hay số lượng nhà máy sản xuất thép. Một loại hình kinh tế mới, dựa trên sức mạnh của sự sáng tạo, trí tuệ và bản sắc dân tộc, đang trỗi dậy mạnh mẽ: Công nghiệp văn hóa (Cultural Industries).
XEM THÊM
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2025 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính