ki-niem-15-voaa
Thứ bảy 10/10/2026 12:10Thứ bảy 10/10/2026 12:10 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Du lịch xanh cần “chuẩn hóa” thực phẩm sạch

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Du lịch xanh không thể chỉ được đo bằng cảnh quan trong lành, vật liệu thân thiện với môi trường hay những khẩu hiệu giảm phát thải. Với du khách, “màu xanh” của một điểm đến còn nằm ngay trong bữa ăn hằng ngày - thực phẩm có an toàn hay không, có minh bạch nguồn gốc hay không, có được kiểm soát xuyên suốt từ vùng nguyên liệu đến bàn ăn hay không. Khi khái niệm “thực phẩm sạch” vẫn còn được hiểu theo nhiều cách khác nhau, việc chuẩn hóa từ tiêu chuẩn, chứng nhận đến truy xuất và hậu kiểm đang trở thành yêu cầu cấp thiết để du lịch xanh phát triển đúng nghĩa và bền vững.
Du lịch xanh cần “chuẩn hóa” thực phẩm sạch

Thực tế hiện nay, quá trình triển khai du lịch xanh còn nhiều hạn chế, chưa có bước đột phá rõ rệt dù đã có khá nhiều quy định liên quan được ban hành. Nếu “sạch” là một trụ cột của tăng trưởng xanh, thì phần thực phẩm càng không thể tiếp tục bị để ở trạng thái cảm tính, nơi mỗi bên gọi một kiểu, chứng nhận một kiểu và hậu kiểm một kiểu.

Đối với ngành du lịch, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu thúc đẩy quá trình chuyển đổi xanh bằng cách “xây dựng các chương trình về văn hóa sống, lối sống xanh và phát triển sản phẩm du lịch xanh; xây dựng và áp dụng mô hình phát triển du lịch theo hướng tăng trưởng xanh tại các khu du lịch, điểm du lịch; xây dựng tiêu chí và triển khai dán nhãn du lịch xanh cho các cơ sở kinh doanh du lịch”.

Du lịch xanh được coi là một loại hình hoạt động theo phương thức giảm thiểu tác động đến môi trường, đóng góp tích cực bảo vệ đa dạng sinh học, sử dụng năng lượng tái tạo và phát huy các di sản thiên nhiên-văn hóa, phát triển các sản phẩm xanh thân thiện với môi trường.

Khoảng trống nằm ở khâu chuẩn hóa

Luật An toàn thực phẩm 2010 quy định rất rõ nguyên liệu dùng để chế biến phải có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng; bếp ăn, cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống phải bảo đảm không nhiễm chéo, có thiết bị bảo quản, có điều kiện vệ sinh phù hợp; thực phẩm không bảo đảm an toàn phải được truy xuất, thu hồi và xử lý. Nghị định 15/2018 là văn bản quy định chi tiết thi hành một số điều của luật này. Nghĩa là nền tảng pháp lý đã có, nhưng nền tảng ấy mới là điều kiện bắt buộc để được hoạt động, chưa phải là một bộ tiêu chí đủ rõ để định nghĩa “thực phẩm sạch” trong du lịch xanh.

Khoảng trống đó hiện đã được cơ quan quản lý nhìn nhận khá thẳng thắn. Bộ Y tế cho biết, sau 15 năm thực hiện, Luật An toàn thực phẩm bộc lộ nhiều vướng mắc: quy định chưa đồng bộ, chưa bảo đảm tính khả thi, mô hình quản lý chưa tinh gọn và thống nhất; đặc biệt, luật hiện hành còn chưa quy định đầy đủ việc quản lý, nhận diện và truy xuất nguồn gốc thực phẩm, nguyên liệu, phụ gia lưu hành trên thị trường bằng mã vạch, mã QR.

Nhiều cơ quan báo chí đã phản ánh các thủ đoạn như giả mạo hồ sơ nguồn gốc, dùng hóa đơn lòng vòng, công ty “ma”, giấy chứng nhận giả và chia nhỏ chuỗi sản xuất, phân phối để né kiểm tra liên quan đến an toàn vệ sinh thực phẩm.

Luật sư Nguyễn Trần Cẩm Giang nhận định khi vi phạm diễn ra theo chuỗi, trách nhiệm quản lý dễ bị phân tán, chồng chéo giữa nhiều cơ quan. Một thực tế như vậy cho thấy, nếu chỉ dừng ở việc treo biển “thực phẩm sạch” trước cửa nhà hàng hay cơ sở lưu trú, du lịch xanh sẽ không thể tự bảo vệ mình trước những mắt xích giả mạo nằm ở phía sau.

Không phải ngẫu nhiên mà TP.HCM những năm gần đây nhấn mạnh câu chuyện “xây thực phẩm sạch” theo chuỗi. Theo bà Phạm Khánh Phong Lan, Giám đốc Sở An toàn thực phẩm TP.HCM, với quy mô dân số hơn 14 triệu người sau sáp nhập, thành phố phải chú ý riêng đến bữa ăn công nghiệp, bữa ăn trường học và cả bữa ăn phục vụ du lịch; đồng thời phải tăng quản lý từ nguồn cung, bởi đợi thực phẩm về đến thành phố mới kiểm soát thì thiệt hại cho cả sản xuất lẫn kinh doanh.

Giai đoạn 2021-2025, TP.HCM đã mở rộng phối hợp với 15 tỉnh, cấp chứng nhận cho 131 trang trại, cơ sở tham gia chuỗi; một nguồn tin khác cho biết hệ thống chuỗi an toàn của thành phố đã lên tới 355 trang trại và đang được ưu tiên đưa vào trường học, cơ sở du lịch cùng các chuẩn VietGAP, GlobalGAP. Những con số ấy cho thấy địa phương này đang đi trước một bước, nhưng đồng thời cũng gợi ra câu hỏi lớn hơn: nếu mỗi nơi tự dựng một cách hiểu riêng về “thực phẩm sạch”, du lịch xanh sẽ lấy gì làm chuẩn chung?

Du lịch xanh cần “chuẩn hóa” thực phẩm sạch

“Thực phẩm sạch” phải được gọi đúng tên chuẩn

Cần phải phân biệt thật rõ, giấy chứng nhận an toàn thực phẩm bắt buộc không đồng nghĩa với sản phẩm sạch; chứng nhận sản xuất an toàn cũng không đồng nghĩa với hữu cơ; và càng không thể coi mọi sản phẩm có dán nhãn tự giới thiệu là như nhau.

Luật An toàn thực phẩm quy định nguyên liệu phải rõ nguồn gốc, cơ sở dịch vụ ăn uống phải bảo đảm vệ sinh, lưu mẫu, chống nhiễm chéo; nhưng đó là điều kiện tối thiểu. Ở mức cao hơn là các hệ chứng nhận sản xuất. Theo Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia, TCVN 11041-1:2017 đặt ra yêu cầu chung đối với sản xuất, chế biến, ghi nhãn sản phẩm nông nghiệp hữu cơ. Bên cạnh đó, chứng nhận PGS là hệ thống bảo đảm có sự tham gia trong sản xuất hữu cơ, trong khi GAP/VietGAP là bộ thực hành nông nghiệp tốt nhằm bảo đảm môi trường sản xuất an toàn và kiểm soát dư lượng trong ngưỡng cho phép. Gọi đúng tên chuẩn là bước đầu tiên của chuẩn hóa.

Ở góc độ của ngành du lịch, TCVN 14249:2024 áp dụng cho các cơ sở lưu trú đã quy định khá chặt chẽ khi yêu cầu dịch vụ ăn uống phải áp dụng biện pháp an toàn thực phẩm, ưu tiên thực phẩm tươi sống, khi có thể và khả thi về mặt kinh tế thì sử dụng sản phẩm hữu cơ, đồng thời coi trọng ẩm thực vùng miền và nguyên liệu theo mùa. Có thể xem đây là một cầu nối quan trọng giữa chuẩn an toàn thực phẩm và chuẩn vận hành xanh. Nhưng vì chỉ là một mảnh của bức tranh, tiêu chuẩn này vẫn cần được nối với vùng nguyên liệu, chứng nhận sản xuất và dữ liệu truy xuất nếu muốn trở thành thước đo cho cả chuỗi từ trang trại đến bàn ăn.

Thực tế tại Pù Luông (Thanh Hoá) cho thấy khi điểm du lịch sinh thái tại đây phát triển nhanh chóng, nhu cầu về nguồn thực phẩm an toàn tại chỗ cũng lập tức trở thành áp lực tổ chức sản xuất. Năm 2018, Hợp tác xã rau an toàn Thành Lâm được thành lập với 10 hộ, trên diện tích khoảng 5.000m²; trung bình mỗi năm cung ứng hơn 7 tấn rau, doanh thu trên 100 triệu đồng, và địa phương đang định hướng xây dựng thương hiệu rau an toàn gắn với điểm đến du lịch Pù Luông. Có thể thấy, khi ngành du lịch yêu cầu bữa ăn phải sạch, chuẩn hóa không còn là chuyện bàn giấy, mà trở thành điều kiện để phát triển sinh kế địa phương và chất lượng của điểm du lịch.

Theo số liệu của Bộ Công Thương, nhu cầu tiêu dùng sản phẩm xanh tại Việt Nam tăng trưởng trung bình 15% mỗi năm trong giai đoạn 2021 - 2023. 72% người tiêu dùng Việt Nam sẵn sàng chi trả nhiều hơn cho các sản phẩm xanh, sạch, có nguồn gốc rõ ràng nhằm bảo vệ sức khỏe. Nhu cầu thực phẩm sạch tăng trưởng trung bình 15% mỗi năm, thúc đẩy việc chuyển dịch từ tiêu dùng giá rẻ sang chất lượng.

Chuẩn hóa cần một cơ chế đồng bộ

Từ thực tế hiện nay, cần có một bộ tiêu chí chung về “thực phẩm sạch” nói chung và trong du lịch xanh nói riêng. Bộ tiêu chí ấy phải bắt đầu từ nền tảng pháp lý của Luật An toàn thực phẩm và Nghị định 15/2018. Bên cạnh đó, cần quy định rõ thế nào là nguồn nguyên liệu đạt chuẩn, những chứng nhận nào được chấp nhận, mức độ truy xuất tối thiểu ra sao, nhà hàng khách sạn phải công bố thông tin gì, và khi nào một sản phẩm được gọi là hữu cơ, khi nào chỉ nên gọi là sản xuất an toàn. Khi đã có môt bộ tiêu chí được thống nhất, việc kiểm tra mới bớt cảm tính, doanh nghiệp làm đúng mới không bị đánh đồng.

Đồng thời, chuẩn hóa phải đi cùng hạ tầng dữ liệu. Bộ Y tế nêu rõ yêu cầu sửa luật An toàn thực phẩm theo hướng đồng bộ hơn, tăng hậu kiểm, siết chặt quản lý nhóm nguy cơ cao, kiện toàn đầu mối quản lý và bổ sung quy định về nhận diện, truy xuất qua mã vạch, mã QR.

Đây là thời điểm phù hợp để lồng ghép nhu cầu của ngành du lịch vào quá trình sửa luật, không chỉ quản lý thực phẩm trên thị trường nói chung, mà còn định hình cơ chế truy xuất, công bố và hậu kiểm cho các bếp ăn tập thể, cơ sở lưu trú, nhà hàng phục vụ khách du lịch.

Chính sách cũng cần đủ mạnh để bảo vệ người làm thật. Kinh nghiệm thực tiễn từ TP.HCM cho thấy khi thành phố ưu tiên chuỗi thực phẩm an toàn, VietGAP, GlobalGAP cho trường học và cơ sở du lịch, yêu cầu chuẩn hóa đã bắt đầu áp dụng vào việc mua hàng chứ không dừng ở khẩu hiệu. Nhưng để mô hình ấy nhân rộng, cần có cơ chế hỗ trợ chi phí truy xuất, chuẩn hóa dữ liệu, kiểm nghiệm, mã số vùng trồng; đồng thời ưu tiên kết nối các chuỗi đạt chuẩn với hệ thống khách sạn, nhà hàng, khu du lịch và bếp ăn tập thể. Nếu để người làm đúng tự gánh toàn bộ chi phí tuân thủ, còn người làm ẩu chỉ cần gắn nhãn “sạch” là chen vào thị trường, quá trình chuẩn hóa sẽ mất động lực.

Du lịch xanh không thể chỉ “xanh” ở cảnh quan hay thông điệp quảng bá. Nó phải xanh cả ở chiếc đĩa đặt trước mặt du khách, ở vùng nguyên liệu phía sau căn bếp, ở dữ liệu truy xuất gắn với từng loại thực phẩm và ở khả năng hậu kiểm của cơ quan quản lý. Nói ngắn gọn, đã đến lúc phải chuẩn hóa thực phẩm sạch như một hạ tầng của du lịch xanh, chứ không coi đó là phần phụ của câu chuyện dịch vụ. Khi đó, du lịch xanh mới có thể đi bằng đôi chân vững chãi của niềm tin.

Bài liên quan

Thực phẩm sạch “chắp cánh” du lịch xanh phát triển bền vững

Thực phẩm sạch “chắp cánh” du lịch xanh phát triển bền vững

Nhiều năm qua, “du lịch xanh” thường được nhắc đến bằng những hình ảnh dễ thấy như giảm rác thải nhựa, tiết kiệm năng lượng, giữ gìn cảnh quan hay bảo vệ hệ sinh thái. Nhưng với du khách, điều chạm đến cảm nhận trực tiếp và rõ ràng nhất lại thường nằm trên bàn ăn. Một điểm du lịch có thể đẹp, nơi nghỉ dưỡng có thể sang trọng, nhưng nếu bữa ăn thiếu an toàn, thiếu minh bạch về nguồn gốc, hoặc tạo cảm giác bất an cho du khách, toàn bộ trải nghiệm “xanh” rất dễ trở nên khiên cưỡng.
Đầu bếp - Chủ thể kết nối thực phẩm sạch gắn với du lịch xanh

Đầu bếp - Chủ thể kết nối thực phẩm sạch gắn với du lịch xanh

Người đầu bếp không còn đơn thuần là người chế biến món ăn mà đang dần trở thành chủ thể quan trọng của thực phẩm sạch gắn với du lịch xanh, đóng vai trò kết nối giữa nông nghiệp bền vững, văn hóa ẩm thực và trải nghiệm du lịch.
Nghệ An lần đầu tổ chức Festival du lịch Cửa Lò

Nghệ An lần đầu tổ chức Festival du lịch Cửa Lò 'Bốn mùa biển gọi'

Festival Du lịch Cửa Lò 2026, tỉnh Nghệ An hứa hẹn mang đến nhiều hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch và giải trí đặc sắc, góp phần thu hút du khách về với biển trong cả bốn mùa.
Tuyên Quang ra quân kiểm tra an toàn thực phẩm dịp Lễ hội Thành Tuyên 2026

Tuyên Quang ra quân kiểm tra an toàn thực phẩm dịp Lễ hội Thành Tuyên 2026

Từ ngày 17 đến 25/9, Đoàn kiểm tra liên ngành tỉnh Tuyên Quang triển khai đợt kiểm tra cao điểm về an toàn thực phẩm, tập trung tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, nhà hàng, khách sạn và các điểm kinh doanh thực phẩm phục vụ Lễ hội Thành Tuyên năm 2026.
Du lịch Huế bùng nổ trong dịp Lễ 2/9 - Cơ hội để “xanh hóa” chuỗi du lịch

Du lịch Huế bùng nổ trong dịp Lễ 2/9 - Cơ hội để “xanh hóa” chuỗi du lịch

Hơn 651.000 lượt khách, doanh thu dịch vụ du lịch trên 1.500 tỷ đồng, công suất phòng bình quân khoảng 95% trong dịp Quốc khánh 2/9 đang tạo đà cho phát triển kinh tế Huế.
Đà Nẵng: Khai mạc Hội làng Lộc Yên lần thứ V năm 2026

Đà Nẵng: Khai mạc Hội làng Lộc Yên lần thứ V năm 2026

Hội làng Lộc Yên lần thứ V khai mạc ngày 29/8 tại Đà Nẵng, giới thiệu giá trị di sản, văn hóa bản địa và thúc đẩy du lịch xanh.
"Áo dài Huế - Hương sắc thanh trà" - Lan tỏa lối sống xanh và giá trị cộng đồng

"Áo dài Huế - Hương sắc thanh trà" - Lan tỏa lối sống xanh và giá trị cộng đồng

Sáng 5/7, hưởng ứng Tuần lễ Áo dài Huế năm 2026, phường Hương Trà đã tổ chức chương trình đạp xe vì cộng đồng với chủ đề “Áo dài Huế - Hương sắc Thanh Trà”...
Du lịch Huế trong xu hướng sinh thái xanh và hành trình bền vững

Du lịch Huế trong xu hướng sinh thái xanh và hành trình bền vững

Với xu hướng hiện nay, Tp. Huế đang định hình mô hình du lịch sinh thái xanh dựa trên di sản, cộng đồng và bản sắc bản địa, hướng tới phát triển bền vững...
Rau càng cua – từ loài "rau dại" đến lựa chọn xanh trong xu hướng hữu cơ

Rau càng cua – từ loài "rau dại" đến lựa chọn xanh trong xu hướng hữu cơ

Với đặc tính dễ trồng, ít đầu tư, giàu giá trị dinh dưỡng, phù hợp định hướng nông nghiệp xanh, rau càng cua là tiềm năng của một sản phẩm hữu cơ và bền vững...

CÁC TIN BÀI KHÁC

Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 1: Từ bàn ăn nhìn ra cả hệ thống

Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 1: Từ bàn ăn nhìn ra cả hệ thống

Mỗi ngày, một bữa cơm gia đình bắt đầu từ những điều rất quen thuộc: Hạt gạo, bó rau, con cá, quả trứng hay miếng thịt. Nhưng để những thực phẩm ấy xuất hiện trên bàn ăn là cả một hành trình dài, với sự tham gia của người sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp, nhà khoa học, cơ quan quản lý, hệ thống phân phối và chính người tiêu dùng. Phía sau mỗi món ăn còn là đất, nước, lao động, công nghệ, thị trường, chính sách và môi trường. Hiểu được hành trình ấy chính là bước đầu tiên để mỗi người nhận ra mình đang ở đâu và có thể làm gì để cùng xây dựng một hệ thống lương thực - thực phẩm minh bạch, trách nhiệm và bền vững.
Khả năng hấp thụ carbon của hệ thống nông nghiệp hữu cơ

Khả năng hấp thụ carbon của hệ thống nông nghiệp hữu cơ

Nông nghiệp hữu cơ đang mở ra hướng tiếp cận mới trong ứng phó biến đổi khí hậu khi không chỉ giảm phụ thuộc vào vật tư hóa học mà còn góp phần gia tăng carbon trong đất. Thông qua đa dạng hóa cây trồng, sử dụng phân hữu cơ, cây che phủ, luân canh và giảm làm đất, hệ thống này có thể nâng cao khả năng lưu giữ carbon, cải thiện sức khỏe đất và phát triển nông nghiệp bền vững.
Phát triển nông nghiệp sinh thái: Từ mô hình riêng lẻ đến chuyển đổi cả hệ thống

Phát triển nông nghiệp sinh thái: Từ mô hình riêng lẻ đến chuyển đổi cả hệ thống

Chuyển đổi sang nông nghiệp sinh thái, xanh, tuần hoàn cần được thực hiện đồng bộ từ tổ chức sản xuất, ứng dụng khoa học công nghệ đến liên kết thị trường và chia sẻ lợi ích. Tại hội thảo khoa học tổ chức ngày 30/9 ở Ninh Bình, các nhà quản lý, chuyên gia, doanh nghiệp và hợp tác xã nhấn mạnh yêu cầu để người nông dân được hưởng lợi xứng đáng từ những giá trị sinh thái mà họ tạo ra.
AOLC 2026: Lan tỏa những sáng kiến nông nghiệp sinh thái và hữu cơ

AOLC 2026: Lan tỏa những sáng kiến nông nghiệp sinh thái và hữu cơ

Ngày 30/9, tại Hà Nội, Khóa tập huấn Lãnh đạo Nông nghiệp Sinh thái và Hữu cơ năm 2026 (AOLC 2026) chính thức bế mạc, ghi nhận 27 học viên hoàn thành chương trình và vinh danh bốn đề án phát triển tiêu biểu. Từ những sáng kiến về thực phẩm học đường, sinh kế cộng đồng đến kết nối thị trường, khóa học mở ra kỳ vọng lan tỏa các thực hành nông nghiệp sinh thái, hữu cơ vào đời sống.
Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tiêu dùng thực phẩm hữu cơ

Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tiêu dùng thực phẩm hữu cơ

Quyết định tiêu dùng thực phẩm hữu cơ không chỉ chịu tác động bởi nhận thức về sức khỏe và an toàn thực phẩm mà còn liên quan đến giá cả, chất lượng, niềm tin, kiến thức, khả năng tiếp cận và các chuẩn mực xã hội. Việc nhận diện đầy đủ những yếu tố này có ý nghĩa quan trọng trong xây dựng chính sách, phát triển thị trường và thúc đẩy tiêu dùng thực phẩm hữu cơ bền vững tại Việt Nam.
Cần Thơ ban hành quy định mới về canh tác trên vùng hữu cơ

Cần Thơ ban hành quy định mới về canh tác trên vùng hữu cơ

Từ đất, nước, không khí, thời gian chuyển đổi đến vật tư đầu vào, phòng trừ sinh vật gây hại, thu hoạch, bảo quản và truy xuất nguồn gốc, từng khâu trong canh tác trên vùng hữu cơ tại Cần Thơ được quy định cụ thể.
Vai trò của Hợp tác xã trong phát triển nông nghiệp hữu cơ bền vững

Vai trò của Hợp tác xã trong phát triển nông nghiệp hữu cơ bền vững

Trong quá trình chuyển đổi sang nền nông nghiệp sinh thái, tuần hoàn và bền vững, hợp tác xã ngày càng giữ vai trò kết nối quan trọng giữa nông dân, doanh nghiệp và thị trường. Tổ chức sản xuất theo tiêu chuẩn, hỗ trợ kỹ thuật, xây dựng thương hiệu và liên kết chuỗi giá trị giúp nông nghiệp hữu cơ nâng cao giá trị, sức cạnh tranh.
Khẳng định vai trò khuyến nông trong canh tác lúa phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh

Khẳng định vai trò khuyến nông trong canh tác lúa phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh

Ngày 22/9, tại Nghệ An, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường Nghệ An tổ chức Diễn đàn Khuyến nông Nông nghiệp với chủ đề “Giải pháp nhân rộng mô hình canh tác lúa phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh”.
Vận động doanh nghiệp đồng hành phát triển lâu dài - cơ hội mới cho nông nghiệp hữu cơ

Vận động doanh nghiệp đồng hành phát triển lâu dài - cơ hội mới cho nông nghiệp hữu cơ

Lâm Đồng đang triển khai đồng bộ các giải pháp cải thiện môi trường đầu tư, khuyến khích doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nông nghiệp, gắn bó lâu dài và làm thủ tục hải quan ngay tại địa phương.
VOAA và Agribank thúc đẩy hợp tác, kết nối tín dụng cho nông nghiệp hữu cơ

VOAA và Agribank thúc đẩy hợp tác, kết nối tín dụng cho nông nghiệp hữu cơ

Chiều 18/9, Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam (VOAA) và Agribank đã tổ chức cuộc họp trực tuyến nhằm trao đổi kế hoạch khảo sát thực tế tại các doanh nghiệp, tìm hiểu nhu cầu vốn và nghiên cứu các sản phẩm ngân hàng phù hợp với từng nhóm khách hàng trong chuỗi sản xuất nông nghiệp xanh, sạch và hữu cơ.
Ngày Hữu cơ Việt Nam 19/9: Hành trình vun đắp niềm tin và giá trị bền vững

Ngày Hữu cơ Việt Nam 19/9: Hành trình vun đắp niềm tin và giá trị bền vững

Từ lễ phát động tại Thái Nguyên năm 2017, ngày 19/9 trở thành dịp để cộng đồng hữu cơ Việt Nam tôn vinh những người tiên phong, chia sẻ kinh nghiệm và kết nối phát triển. Nhìn lại chặng đường đã qua, những thành tựu về chính sách, tiêu chuẩn, sản xuất và hội nhập quốc tế đang tạo nền tảng để nông nghiệp hữu cơ tiếp tục phát triển vì sức khỏe con người và môi trường.
Phát triển nông nghiệp hữu cơ là trách nhiệm của thế hệ trước với tương lai

Phát triển nông nghiệp hữu cơ là trách nhiệm của thế hệ trước với tương lai

Phát triển nông nghiệp hữu cơ không chỉ là phương thức canh tác nâng cao giá trị kinh tế, mà còn là trách nhiệm đạo đức của thế hệ hôm nay dành cho mai sau. Bằng việc trả lại sự trong lành cho đất và nguồn nước, nông nghiệp sạch chính là lá chắn bảo vệ sức khỏe cộng đồng, tái tạo hệ sinh thái và duy trì mầm sống bền vững cho tương lai.
XEM THÊM
phu-my
cuoc-thi-viet
dam-ca-mau-chi-vi-hoa
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2026 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính