ki-niem-15-voaa
Thứ tư 22/07/2026 21:06Thứ tư 22/07/2026 21:06 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Trưởng ban điều phối PGS Việt Nam: Nông nghiệp Hữu cơ về cơ bản nằm trong Nông nghiệp sinh thái

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Bà Từ Thị Tuyết Nhung, Trưởng ban điều phối PGS Việt Nam, Uỷ viên Ban Thường vụ Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam đã có bài tham luận về khái niệm Nông nghiệp sinh thái, Nông nghiệp Hữu cơ.

Ngày 1/11/2023 vừa qua, Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn (Bộ NN&PTNT) đã tổ chức buổi hội thảo “Chuyển đổi tư duy sản xuất sang tư duy kinh tế và phát triển nông nghiệp sinh thái”. Buổi hội thảo thu hút sự tham gia của khoảng 40 đại biểu tham dự trực tiếp và 100 đầu cầu là Sở NN&PTNT các tỉnh, các công ty về công nghệ cao, nông nghiệp sinh thái, các Hiệp hội…

Tại buổi hội thảo, bà Từ Thị Tuyết Nhung, Trưởng ban điều phối PGS Việt Nam (thuộc Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam) đã trình bày tham luận khái niệm cơ bản về Nông nghiệp sinh thái (NNST) và Nông nghiệp Hữu cơ (NNHC)

Theo bà Nhung, trong những năm gần đây, bên cạnh NNHC, thuật ngữ Agroecology được nhắc đến rất nhiều trong các tài liệu, các hội thảo và chủ trương phát triển của nhà nước. Nhiều các nghiên cứu, tài liệu được FAO tập hợp và phát triển công cụ chuyển giao, thúc đẩy mạnh mẽ việc vận dụng các nguyên tắc của Agroecology trên toàn cầu trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên trong nhiều cuộc hội thảo bàn về lĩnh vực này, có nhiều ý kiến phản biện khi thuật ngữ Agroecology được chuyển sang tiếng Việt là “Nông nghiệp sinh thái”.

Vị thuyền trưởng của PGS Việt Nam cho biết, trước hết, để vận dụng đúng đắn và chuyển giao kiến thức cho mỗi phương thức sản xuất nào đó, người phát triển hay người sản xuất cần hiểu rõ nguyên tắc và những đặc tính quan trọng của mỗi hệ thống nông nghiệp để có phương pháp tiếp cận và vận dụng hợp lý.

Bà Từ Thị Tuyết Nhung phát biểu tại Hội thảo
Bà Từ Thị Tuyết Nhung phát biểu tại Hội thảo

NÔNG NGHIỆP HỮU CƠ

4 nguyên tắc Sức khỏe - Sinh thái – Cẩn trọng – Công bằng, chính là kim chỉ nam cho việc chuẩn hóa các biện pháp kỹ thuật tạo ra trọn vẹn một sản phẩm hữu cơ đúng nghĩa. Các sản phẩm được dán nhãn là Hữu cơ đều có quy định mang tính bắt buộc rằng hệ thống sản xuất tạo ra sản phẩm phải tuân thủ những tiêu chuẩn được định rõ dựa trên 4 nguyên tắc trên.

Hiểu một cách tóm lược, sản xuất Hữu cơ phải dựa trên một hệ thống sản xuất tổng hòa, vận dụng triết lý và nguyên lý của sinh thái học vào sản xuất nông nghiệp, tăng cường đa dạng sinh học, kế thừa các phương pháp truyền thống, khuyến khích các loài giống bản địa trong một đời sống công bằng cho muôn loài và vận dụng khoa học kỹ thuật một cách cho chọn lọc.

Việc loại trừ hóa chất tổng hợp trong sản xuất Hữu cơ thay thế bằng các nguyên liệu có khả năng tái tạo và tái sử dụng các vật liệu Hữu cơ sẵn có ở địa phương là một chuẩn mực cứng rắn để giúp nhanh chóng phục hồi và duy trì một hệ sinh thái nông nghiệp lành mạnh, bền vững.

AGROECOLOGY

Được Việt hóa ngắn gọn là “Nông nghiệp sinh thái” trong tất cả các tài liệu và văn bản đã gây ra nhiều ý kiến phản biện về dịch thuật. Thuật ngữ có thể không chuyển tải đủ bản chất, quan trọng là những nguyên tắc và đặc tính quan trọng của nông nghiệp dựa vào triết lý sinh thái học cần được hiểu đúng và truyền đạt dễ hiểu nhất tới người sản xuất để giúp họ vận dụng.

Thực tế nông nghiệp dựa vào nguyên lý sinh thái hay vẫn được gọi là “Nông nghiệp sinh thái” hiện nay không mới ở Việt Nam. Từ những năm 90, cụm từ sinh thái đã được đề cập trong các tài liệu kỹ thuật hướng dẫn thực hành sản xuất nhưng không mở rộng ra các yếu tố liên quan đến kinh tế, xã hội, môi trường của quan điểm bền vững.

Cho đến nay, khái niệm về NNST được phát triển toàn diện hơn. Tổ chức Nông Lương thế giới (FAO) đã tổng hợp, hệ thống hóa lý luận về NNST và tài liệu hóa các công cụ để phổ biến và thúc đẩy toàn cầu một nền nông nghiệp bền vững dựa vào nguyên lý sinh thái, đảm bảo an ninh lương thực và công bằng xã hội.

Theo đó, NNST được định nghĩa là một phương pháp tiếp cận tổng hợp chú trọng đến sự tương tác giữa các yếu tố môi trường, kinh tế và xã hội. 10 yếu tố của NNST cùng 13 nguyên tắc ở 5 cấp độ chuyển đổi sang NNST được FAO đưa ra hướng dẫn các quốc gia chuyển đổi hệ thống nông nghiệp và lương thực, lồng ghép nông nghiệp bền vững trên quy mô lớn nhằm đạt được mục tiêu không còn nạn đói và nhiều mục tiêu phát triển bền vững khác của các nước.

Có thể thấy, NNHC và NNST đều vận dụng các nguyên tắc sinh thái trong thiết kế hệ thống sản xuất theo quy mô khác nhau nhằm tăng cường lợi ích qua các mối tương tác sinh thái kết hợp khoa học với kiến thức truyền thống và thực tiễn tại địa phương. Cả hai đều tăng cường khả năng tự chủ và năng lực thích ứng của nhà sản xuất và cộng đồng.

Trong khi NNHC được chuẩn hóa thì NNST mềm dẻo linh hoạt hơn trong lựa chọn về quy mô, có thể tích hợp một phần hoặc toàn phần. NNHC ngay khi công bố chuyển đổi đã phải tuân thủ tiêu chuẩn thì NNST có thể cho phép chuyển đổi qua các cấp độ khác nhau. NNHC có những chi tiết khắt khe loại trừ đầu vào từ hóa chất tổng hợp, hoặc các tác nhân không thể dự đoán được nguy cơ như biến đổi gen (GMO), trong khi NNST không cụ thể hóa các đầu vào.

Bởi vậy NNST giúp cung cấp các giải pháp phù hợp với bối cảnh và giải quyết các vấn đề của địa phương, khu vực. Ngoài ra, trong các nhóm phương thức NNST được FAO đưa ra, NNHC là một trong 6 phương thức sản xuất trong nội hàm bao trùm của NNST không thể tách rời.

NNHC là một trong 6 phương thức sản xuất trong nội hàm bao trùm của NNST
NNHC là một trong 6 phương thức sản xuất trong nội hàm bao trùm của NNST

SẢN XUẤT “HƯỚNG HỮU CƠ”

Đây là cách dùng từ đang rất phổ biến để tuyên truyền thúc đẩy phong trào sản xuất Hữu cơ hiện nay ở hầu hết các địa phương. Khi trao đổi với người sản xuất “hướng Hữu cơ”, hầu như họ không biết về các nguyên tắc của Nông nghiệp Hữu cơ và không hiểu tiêu chuẩn Hữu cơ họ cần phải áp dụng.

Cách tuyên truyền sản xuất “hướng Hữu cơ” làm cho người sản xuất hiểu sai bản chất của NNHC chỉ đơn giản là giảm thiểu đầu vào hóa học, gây hiểu nhầm cho người tiêu dùng về các sản phẩm Hữu cơ họ đang muốn tìm kiếm, và cảnh báo về mức độ nguy hiểm của sự không trung thực khi đã thành thói quen mặc định khó thay đổi khi sản xuất ra các sản phẩm “hướng Hữu cơ” vẫn được sử dụng phân bón và thuốc BVTV hoá học.

Theo Nghị định 109-2018/NĐCP của Chính phủ về NNHC, sản phẩm Hữu cơ được sản xuất, canh tác theo một loại tiêu chuẩn Hữu cơ nhất định. Người sản xuất Hữu cơ có quyền tuyên bố tiêu chuẩn họ đang làm theo. Khi một trang trại bắt đầu quyết định làm Hữu cơ, người sản xuất cần chọn tiêu chuẩn Hữu cơ nào đó để thực hiện theo và sẽ phải trải qua giai đoạn chuyển đổi.

Ngay từ khi bắt đầu chuyển đổi, người sản xuất đã phải dừng sử dụng các đầu vào hóa chất tổng hợp thay vì giảm từ từ và phải áp dụng đúng tiêu chuẩn sản xuất Hữu cơ họ chọn làm theo. Thời gian chuyển đổi dài hay ngắn tuỳ thuộc vào đối tượng sản xuất, vào tiêu chuẩn Hữu cơ được chọn và điều kiện sản xuất có mức độ ô nhiễm khác nhau. Quá trình chuyển đổi có thể bị kéo dài thêm thời gian nếu không tuân thủ tiêu chuẩn Hữu cơ.

Như vậy, xét về góc độ chuyên môn của NNHC, có các loại sản phẩm hiện hữu ở thị trường:

  1. Sản phẩm Hữu cơ được sản xuất tuân thủ tiêu chuẩn Hữu cơ cụ thể của Việt Nam, của Mỹ, của châu Âu hay của Nhật Bản. Các sản phẩm này được đánh giá và công nhận đạt chuẩn bởi các tổ chức chứng nhận độc lập hoặc chứng nhận cộng đồng.
  2. Sản phẩm chuyển đổi là loại được công nhận đang trong quá trình chuyển đổi Hữu cơ theo tiêu chuẩn cụ thể của Việt Nam, của Mỹ, châu Âu, hay Nhật Bản… Các sản phẩm chuyển đổi được ghi nhãn rõ ràng trên bao bì theo quy định của tiêu chuẩn được người sản xuất chọn làm theo
  3. Sản phẩm “hướng Hữu cơ” thực chất không phải là sản phẩm Hữu cơ, không sản xuất theo tiêu chuẩn dù người sản xuất tuyên bố có giảm bớt các đầu vào hóa học tổng hợp.

Để thay đổi nhận thức đúng cho người sản xuất, để đảm bảo một thị trường minh bạch, các cơ quan chuyên môn đang thúc đẩy phong trào sản xuất Hữu cơ, nên hướng cho người sản xuất lựa chọn một trong 6 phương thức canh tác dựa vào nguyên lý sinh thái (Agroecology), ghi nhãn phù hợp, giúp nông dân tiếp cận sản phẩm sinh thái ra thị trường, thay vì chỉ cố gắng gắn thêm cụm từ “Hữu cơ” chạy theo xu thế.

Cuối cùng bà Từ Thị Tuyết Nhung đề xuất cần phát triển tài liệu hướng dẫn người sản xuất về Nông nghiệp sinh thái với các thuật ngữ dễ hiểu, dễ tiếp cận. Tập huấn và sử dụng công cụ đánh giá TAPE để đánh giá các mức độ sản xuất của NNST để ghi nhãn, giúp nông dân bán sản phẩm sinh thái mới có thể thúc đẩy sản xuất và lan toả NNST.

Bài liên quan

Nâng tầm giá trị sen Huế gắn với xây dựng thương hiệu

Nâng tầm giá trị sen Huế gắn với xây dựng thương hiệu

Từ bao đời nay, sen đã trở thành biểu tượng văn hóa đặc sắc của Cố đô Huế, hiện diện trong không gian cung đình, làng quê và đời sống thường nhật của người dân
Giảm rụng trái cà phê bằng giải pháp hữu cơ

Giảm rụng trái cà phê bằng giải pháp hữu cơ

Hiện tượng cà phê rụng trái hàng loạt cần được theo dõi từ diễn biến thời tiết, độ ẩm đất, dinh dưỡng đến tình trạng sâu bệnh. Theo hướng canh tác hữu cơ, việc xử lý nên bắt đầu từ phục hồi sức khỏe đất và bộ rễ, thay vì vội vàng sử dụng nhiều loại chế phẩm.
Organic Foods Festival 2026 lan tỏa thông điệp "Hữu cơ cho tương lai"

Organic Foods Festival 2026 lan tỏa thông điệp "Hữu cơ cho tương lai"

Lễ hội Thực phẩm hữu cơ - Organic Foods Festival 2026 sẽ diễn ra từ ngày 20/7 đến 10/8/2026, quy tụ hơn 50 thương hiệu cùng trên 300 sản phẩm hữu cơ được chứng nhận tại Việt Nam và quốc tế. Lễ khai mạc và kết nối giao thương được tổ chức lúc 9 giờ 30 ngày 25/7 tại Farmers Market, số 104 Hai Bà Trưng, phường Sài Gòn, TP. Hồ Chí Minh.
Vai trò của cây che phủ trong canh tác hữu cơ và bảo vệ độ phì nhiêu của đất

Vai trò của cây che phủ trong canh tác hữu cơ và bảo vệ độ phì nhiêu của đất

Cây che phủ đất giữ vai trò quan trọng trong canh tác hữu cơ, góp phần bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và nâng cao độ phì nhiêu. Việc sử dụng cây che phủ giúp gia tăng chất hữu cơ, cải thiện hoạt động vi sinh vật, sử dụng hiệu quả dinh dưỡng, hướng tới nền nông nghiệp xanh, tuần hoàn và phát triển bền vững.
Điều gì tạo nên mức giá gấp nhiều lần của cùng một loại nông sản?

Điều gì tạo nên mức giá gấp nhiều lần của cùng một loại nông sản?

Cùng giống sầu riêng Ri6 hay bơ nhưng giá bán có thể chênh lệch hàng chục lần do khác biệt về chất lượng, quy trình sản xuất, tiêu chuẩn an toàn và thương hiệu.
Liên kết vùng để kiến tạo hệ sinh thái nông nghiệp thông minh, kinh tế xanh

Liên kết vùng để kiến tạo hệ sinh thái nông nghiệp thông minh, kinh tế xanh

Liên kết lợi thế của Hà Nội, Bắc Ninh và Hưng Yên trong một chuỗi giá trị thống nhất được xác định là hướng đi quan trọng để mở rộng không gian phát triển nông nghiệp. Từ quy hoạch vùng nguyên liệu, hạ tầng dữ liệu, logistics lạnh, chế biến sâu đến phân phối hiện đại và thương mại điện tử xuyên biên giới, vấn đề đặt ra là phải chuyển những cam kết liên kết thành chương trình hành động có đầu mối, nguồn lực và sản phẩm cụ thể.

CÁC TIN BÀI KHÁC

Liên kết vùng để kiến tạo hệ sinh thái nông nghiệp thông minh, kinh tế xanh

Liên kết vùng để kiến tạo hệ sinh thái nông nghiệp thông minh, kinh tế xanh

Liên kết lợi thế của Hà Nội, Bắc Ninh và Hưng Yên trong một chuỗi giá trị thống nhất được xác định là hướng đi quan trọng để mở rộng không gian phát triển nông nghiệp. Từ quy hoạch vùng nguyên liệu, hạ tầng dữ liệu, logistics lạnh, chế biến sâu đến phân phối hiện đại và thương mại điện tử xuyên biên giới, vấn đề đặt ra là phải chuyển những cam kết liên kết thành chương trình hành động có đầu mối, nguồn lực và sản phẩm cụ thể.
Từ nông nghiệp truyền thống sang nông nghiệp tuần hoàn: Thực trạng, thách thức và giải pháp

Từ nông nghiệp truyền thống sang nông nghiệp tuần hoàn: Thực trạng, thách thức và giải pháp

Nông nghiệp tuần hoàn đang được xem là hướng đi tất yếu nhằm hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững và tăng trưởng xanh. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi từ nông nghiệp truyền thống sang nông nghiệp tuần hoàn ở Việt Nam vẫn đối mặt với nhiều thách thức về nhận thức, công nghệ, nguồn vốn và liên kết thị trường. Việc hoàn thiện chính sách, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực của người sản xuất là những giải pháp quan trọng để xây dựng nền nông nghiệp hiệu quả, thân thiện với môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Bèo hoa dâu: Giải pháp sinh học giúp tăng năng suất lúa và giảm phát thải khí nhà kính

Bèo hoa dâu: Giải pháp sinh học giúp tăng năng suất lúa và giảm phát thải khí nhà kính

Bèo hoa dâu (Azolla) là giải pháp sinh học giúp cố định đạm, cải tạo đất, tăng năng suất cây trồng và giảm phát thải khí nhà kính, mở ra hướng phát triển nông nghiệp bền vững.
Đầu tư hạ tầng nông nghiệp công nghệ cao: Cơ hội từ chính sách mới

Đầu tư hạ tầng nông nghiệp công nghệ cao: Cơ hội từ chính sách mới

Trong hành trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng nông nghiệp theo hướng xanh, bền vững và số hóa, đầu tư hạ tầng nông nghiệp công nghệ cao (NNCNC) được xác định là trụ cột chiến lược nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam.
Xanh hoá các vùng du lịch trọng điểm, nâng tầm thương hiệu du lịch Việt

Xanh hoá các vùng du lịch trọng điểm, nâng tầm thương hiệu du lịch Việt

Du lịch xanh đang trở thành xu hướng phát triển tất yếu tại các vùng du lịch trọng điểm của Việt Nam. Việc khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn bản sắc văn hóa, giảm thiểu tác động đến môi trường và nâng cao trách nhiệm của cộng đồng góp phần xây dựng ngành du lịch bền vững, nâng cao sức hấp dẫn của điểm đến.
Truy xuất nguồn gốc nông sản: "Tấm hộ chiếu số" đưa nông sản Việt vươn ra thị trường toàn cầu

Truy xuất nguồn gốc nông sản: "Tấm hộ chiếu số" đưa nông sản Việt vươn ra thị trường toàn cầu

Trong khi thương mại nông sản toàn cầu bước sang giai đoạn cạnh tranh bằng chất lượng, tính minh bạch và phát triển bền vững, truy xuất nguồn gốc không còn là một lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu bắt buộc đối với nhiều mặt hàng xuất khẩu. Nếu trước đây, người tiêu dùng chủ yếu quan tâm đến giá cả và hình thức sản phẩm thì ngày nay, họ muốn biết rõ nông sản được trồng ở đâu, ai sản xuất, quy trình canh tác như thế nào, có đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm, môi trường và trách nhiệm xã hội hay không.
Quan hệ tương hỗ giữa số hoá và kinh tế xanh trong phát triển bền vững

Quan hệ tương hỗ giữa số hoá và kinh tế xanh trong phát triển bền vững

Số hoá và kinh tế xanh có mối quan hệ tương hỗ chặt chẽ trong phát triển bền vững. Công nghệ số giúp tối ưu sử dụng tài nguyên, giảm phát thải và nâng cao hiệu quả quản lý, trong khi kinh tế xanh tạo động lực cho đổi mới công nghệ sạch, thúc đẩy mô hình sản xuất, tiêu dùng thân thiện với môi trường và tăng trưởng dài hạn.
Giảm phát thải và loại bỏ khí nhà kính - Đột phá chiến lược để đạt được mục tiêu Net Zero

Giảm phát thải và loại bỏ khí nhà kính - Đột phá chiến lược để đạt được mục tiêu Net Zero

Biến đổi khí hậu ngày càng nghiêm trọng, giảm phát thải khí nhà kính đã trở thành nhiệm vụ cấp bách của toàn cầu. Nhiều quốc gia đã đưa ra cam kết đạt mức phát thải ròng bằng “0” (Net Zero) vào giữa thế kỷ XXI nhằm hạn chế mức tăng nhiệt độ trái đất.
Đánh giá hiệu quả kinh tế và môi trường của mô hình sản xuất rau hữu cơ tại tỉnh Tuyên Quang

Đánh giá hiệu quả kinh tế và môi trường của mô hình sản xuất rau hữu cơ tại tỉnh Tuyên Quang

Nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế và môi trường của mô hình sản xuất rau hữu cơ tại tỉnh Tuyên Quang cho thấy, dù chi phí lao động cao hơn sản xuất truyền thống, mô hình vẫn mang lại lợi nhuận vượt trội, đồng thời giảm ô nhiễm môi trường, cải thiện độ phì nhiêu đất và góp phần thúc đẩy nền nông nghiệp phát triển bền vững.
Phát động bình chọn các điển hình tiên tiến phát triển nông nghiệp hữu cơ Việt Nam năm 2026

Phát động bình chọn các điển hình tiên tiến phát triển nông nghiệp hữu cơ Việt Nam năm 2026

Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam (VOAA) vừa có Công văn đề nghị Ủy ban nhân dân, Sở Nông nghiệp và Môi trường các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phối hợp giới thiệu, đề cử các tập thể, cá nhân tiêu biểu tham gia Chương trình “Lễ tôn vinh điển hình tiên tiến phát triển nông nghiệp hữu cơ Việt Nam lần thứ III – 2026”.
Nuôi trùn quế dưới điện mặt trời: Lợi ích “kép” trên một diện tích

Nuôi trùn quế dưới điện mặt trời: Lợi ích “kép” trên một diện tích

Tận dụng phần diện tích bên dưới các tấm pin để nuôi trùn quế đang mở ra hướng kết hợp giữa sản xuất năng lượng tái tạo và nông nghiệp hữu cơ tuần hoàn. Tuy nhiên, để mô hình phát huy hiệu quả, chủ đầu tư phải giải quyết đồng thời các yêu cầu về kỹ thuật nuôi, an toàn điện, môi trường, đất đai và đầu ra sản phẩm.
Lợi ích của thị trường carbon đối với Việt Nam

Lợi ích của thị trường carbon đối với Việt Nam

Biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp, việc cắt giảm phát thải khí nhà kính đã trở thành ưu tiên hàng đầu của nhiều quốc gia. Tuy nhiên, giảm phát thải không chỉ là vấn đề môi trường mà còn liên quan mật thiết đến tăng trưởng kinh tế, năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững.
XEM THÊM
dam-ca-mau-chi-vi-hoa
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2026 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính