Thứ bảy 23/05/2026 18:22Thứ bảy 23/05/2026 18:22 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Trưởng ban điều phối PGS Việt Nam: Nông nghiệp Hữu cơ về cơ bản nằm trong Nông nghiệp sinh thái

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Bà Từ Thị Tuyết Nhung, Trưởng ban điều phối PGS Việt Nam, Uỷ viên Ban Thường vụ Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam đã có bài tham luận về khái niệm Nông nghiệp sinh thái, Nông nghiệp Hữu cơ.

Ngày 1/11/2023 vừa qua, Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn (Bộ NN&PTNT) đã tổ chức buổi hội thảo “Chuyển đổi tư duy sản xuất sang tư duy kinh tế và phát triển nông nghiệp sinh thái”. Buổi hội thảo thu hút sự tham gia của khoảng 40 đại biểu tham dự trực tiếp và 100 đầu cầu là Sở NN&PTNT các tỉnh, các công ty về công nghệ cao, nông nghiệp sinh thái, các Hiệp hội…

Tại buổi hội thảo, bà Từ Thị Tuyết Nhung, Trưởng ban điều phối PGS Việt Nam (thuộc Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam) đã trình bày tham luận khái niệm cơ bản về Nông nghiệp sinh thái (NNST) và Nông nghiệp Hữu cơ (NNHC)

Theo bà Nhung, trong những năm gần đây, bên cạnh NNHC, thuật ngữ Agroecology được nhắc đến rất nhiều trong các tài liệu, các hội thảo và chủ trương phát triển của nhà nước. Nhiều các nghiên cứu, tài liệu được FAO tập hợp và phát triển công cụ chuyển giao, thúc đẩy mạnh mẽ việc vận dụng các nguyên tắc của Agroecology trên toàn cầu trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên trong nhiều cuộc hội thảo bàn về lĩnh vực này, có nhiều ý kiến phản biện khi thuật ngữ Agroecology được chuyển sang tiếng Việt là “Nông nghiệp sinh thái”.

Vị thuyền trưởng của PGS Việt Nam cho biết, trước hết, để vận dụng đúng đắn và chuyển giao kiến thức cho mỗi phương thức sản xuất nào đó, người phát triển hay người sản xuất cần hiểu rõ nguyên tắc và những đặc tính quan trọng của mỗi hệ thống nông nghiệp để có phương pháp tiếp cận và vận dụng hợp lý.

Bà Từ Thị Tuyết Nhung phát biểu tại Hội thảo
Bà Từ Thị Tuyết Nhung phát biểu tại Hội thảo

NÔNG NGHIỆP HỮU CƠ

4 nguyên tắc Sức khỏe - Sinh thái – Cẩn trọng – Công bằng, chính là kim chỉ nam cho việc chuẩn hóa các biện pháp kỹ thuật tạo ra trọn vẹn một sản phẩm hữu cơ đúng nghĩa. Các sản phẩm được dán nhãn là Hữu cơ đều có quy định mang tính bắt buộc rằng hệ thống sản xuất tạo ra sản phẩm phải tuân thủ những tiêu chuẩn được định rõ dựa trên 4 nguyên tắc trên.

Hiểu một cách tóm lược, sản xuất Hữu cơ phải dựa trên một hệ thống sản xuất tổng hòa, vận dụng triết lý và nguyên lý của sinh thái học vào sản xuất nông nghiệp, tăng cường đa dạng sinh học, kế thừa các phương pháp truyền thống, khuyến khích các loài giống bản địa trong một đời sống công bằng cho muôn loài và vận dụng khoa học kỹ thuật một cách cho chọn lọc.

Việc loại trừ hóa chất tổng hợp trong sản xuất Hữu cơ thay thế bằng các nguyên liệu có khả năng tái tạo và tái sử dụng các vật liệu Hữu cơ sẵn có ở địa phương là một chuẩn mực cứng rắn để giúp nhanh chóng phục hồi và duy trì một hệ sinh thái nông nghiệp lành mạnh, bền vững.

AGROECOLOGY

Được Việt hóa ngắn gọn là “Nông nghiệp sinh thái” trong tất cả các tài liệu và văn bản đã gây ra nhiều ý kiến phản biện về dịch thuật. Thuật ngữ có thể không chuyển tải đủ bản chất, quan trọng là những nguyên tắc và đặc tính quan trọng của nông nghiệp dựa vào triết lý sinh thái học cần được hiểu đúng và truyền đạt dễ hiểu nhất tới người sản xuất để giúp họ vận dụng.

Thực tế nông nghiệp dựa vào nguyên lý sinh thái hay vẫn được gọi là “Nông nghiệp sinh thái” hiện nay không mới ở Việt Nam. Từ những năm 90, cụm từ sinh thái đã được đề cập trong các tài liệu kỹ thuật hướng dẫn thực hành sản xuất nhưng không mở rộng ra các yếu tố liên quan đến kinh tế, xã hội, môi trường của quan điểm bền vững.

Cho đến nay, khái niệm về NNST được phát triển toàn diện hơn. Tổ chức Nông Lương thế giới (FAO) đã tổng hợp, hệ thống hóa lý luận về NNST và tài liệu hóa các công cụ để phổ biến và thúc đẩy toàn cầu một nền nông nghiệp bền vững dựa vào nguyên lý sinh thái, đảm bảo an ninh lương thực và công bằng xã hội.

Theo đó, NNST được định nghĩa là một phương pháp tiếp cận tổng hợp chú trọng đến sự tương tác giữa các yếu tố môi trường, kinh tế và xã hội. 10 yếu tố của NNST cùng 13 nguyên tắc ở 5 cấp độ chuyển đổi sang NNST được FAO đưa ra hướng dẫn các quốc gia chuyển đổi hệ thống nông nghiệp và lương thực, lồng ghép nông nghiệp bền vững trên quy mô lớn nhằm đạt được mục tiêu không còn nạn đói và nhiều mục tiêu phát triển bền vững khác của các nước.

Có thể thấy, NNHC và NNST đều vận dụng các nguyên tắc sinh thái trong thiết kế hệ thống sản xuất theo quy mô khác nhau nhằm tăng cường lợi ích qua các mối tương tác sinh thái kết hợp khoa học với kiến thức truyền thống và thực tiễn tại địa phương. Cả hai đều tăng cường khả năng tự chủ và năng lực thích ứng của nhà sản xuất và cộng đồng.

Trong khi NNHC được chuẩn hóa thì NNST mềm dẻo linh hoạt hơn trong lựa chọn về quy mô, có thể tích hợp một phần hoặc toàn phần. NNHC ngay khi công bố chuyển đổi đã phải tuân thủ tiêu chuẩn thì NNST có thể cho phép chuyển đổi qua các cấp độ khác nhau. NNHC có những chi tiết khắt khe loại trừ đầu vào từ hóa chất tổng hợp, hoặc các tác nhân không thể dự đoán được nguy cơ như biến đổi gen (GMO), trong khi NNST không cụ thể hóa các đầu vào.

Bởi vậy NNST giúp cung cấp các giải pháp phù hợp với bối cảnh và giải quyết các vấn đề của địa phương, khu vực. Ngoài ra, trong các nhóm phương thức NNST được FAO đưa ra, NNHC là một trong 6 phương thức sản xuất trong nội hàm bao trùm của NNST không thể tách rời.

NNHC là một trong 6 phương thức sản xuất trong nội hàm bao trùm của NNST
NNHC là một trong 6 phương thức sản xuất trong nội hàm bao trùm của NNST

SẢN XUẤT “HƯỚNG HỮU CƠ”

Đây là cách dùng từ đang rất phổ biến để tuyên truyền thúc đẩy phong trào sản xuất Hữu cơ hiện nay ở hầu hết các địa phương. Khi trao đổi với người sản xuất “hướng Hữu cơ”, hầu như họ không biết về các nguyên tắc của Nông nghiệp Hữu cơ và không hiểu tiêu chuẩn Hữu cơ họ cần phải áp dụng.

Cách tuyên truyền sản xuất “hướng Hữu cơ” làm cho người sản xuất hiểu sai bản chất của NNHC chỉ đơn giản là giảm thiểu đầu vào hóa học, gây hiểu nhầm cho người tiêu dùng về các sản phẩm Hữu cơ họ đang muốn tìm kiếm, và cảnh báo về mức độ nguy hiểm của sự không trung thực khi đã thành thói quen mặc định khó thay đổi khi sản xuất ra các sản phẩm “hướng Hữu cơ” vẫn được sử dụng phân bón và thuốc BVTV hoá học.

Theo Nghị định 109-2018/NĐCP của Chính phủ về NNHC, sản phẩm Hữu cơ được sản xuất, canh tác theo một loại tiêu chuẩn Hữu cơ nhất định. Người sản xuất Hữu cơ có quyền tuyên bố tiêu chuẩn họ đang làm theo. Khi một trang trại bắt đầu quyết định làm Hữu cơ, người sản xuất cần chọn tiêu chuẩn Hữu cơ nào đó để thực hiện theo và sẽ phải trải qua giai đoạn chuyển đổi.

Ngay từ khi bắt đầu chuyển đổi, người sản xuất đã phải dừng sử dụng các đầu vào hóa chất tổng hợp thay vì giảm từ từ và phải áp dụng đúng tiêu chuẩn sản xuất Hữu cơ họ chọn làm theo. Thời gian chuyển đổi dài hay ngắn tuỳ thuộc vào đối tượng sản xuất, vào tiêu chuẩn Hữu cơ được chọn và điều kiện sản xuất có mức độ ô nhiễm khác nhau. Quá trình chuyển đổi có thể bị kéo dài thêm thời gian nếu không tuân thủ tiêu chuẩn Hữu cơ.

Như vậy, xét về góc độ chuyên môn của NNHC, có các loại sản phẩm hiện hữu ở thị trường:

  1. Sản phẩm Hữu cơ được sản xuất tuân thủ tiêu chuẩn Hữu cơ cụ thể của Việt Nam, của Mỹ, của châu Âu hay của Nhật Bản. Các sản phẩm này được đánh giá và công nhận đạt chuẩn bởi các tổ chức chứng nhận độc lập hoặc chứng nhận cộng đồng.
  2. Sản phẩm chuyển đổi là loại được công nhận đang trong quá trình chuyển đổi Hữu cơ theo tiêu chuẩn cụ thể của Việt Nam, của Mỹ, châu Âu, hay Nhật Bản… Các sản phẩm chuyển đổi được ghi nhãn rõ ràng trên bao bì theo quy định của tiêu chuẩn được người sản xuất chọn làm theo
  3. Sản phẩm “hướng Hữu cơ” thực chất không phải là sản phẩm Hữu cơ, không sản xuất theo tiêu chuẩn dù người sản xuất tuyên bố có giảm bớt các đầu vào hóa học tổng hợp.

Để thay đổi nhận thức đúng cho người sản xuất, để đảm bảo một thị trường minh bạch, các cơ quan chuyên môn đang thúc đẩy phong trào sản xuất Hữu cơ, nên hướng cho người sản xuất lựa chọn một trong 6 phương thức canh tác dựa vào nguyên lý sinh thái (Agroecology), ghi nhãn phù hợp, giúp nông dân tiếp cận sản phẩm sinh thái ra thị trường, thay vì chỉ cố gắng gắn thêm cụm từ “Hữu cơ” chạy theo xu thế.

Cuối cùng bà Từ Thị Tuyết Nhung đề xuất cần phát triển tài liệu hướng dẫn người sản xuất về Nông nghiệp sinh thái với các thuật ngữ dễ hiểu, dễ tiếp cận. Tập huấn và sử dụng công cụ đánh giá TAPE để đánh giá các mức độ sản xuất của NNST để ghi nhãn, giúp nông dân bán sản phẩm sinh thái mới có thể thúc đẩy sản xuất và lan toả NNST.

Bài liên quan

Ngành hàng hữu cơ Việt Nam trước “làn sóng” tiêu chuẩn mới toàn cầu

Ngành hàng hữu cơ Việt Nam trước “làn sóng” tiêu chuẩn mới toàn cầu

Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, nhu cầu tiêu dùng thực phẩm xanh, an toàn và bền vững tại châu Âu và Hoa Kỳ vẫn tiếp tục tăng, mở ra cơ hội lớn cho nông sản hữu cơ Việt Nam mở rộng thị trường xuất khẩu. Nhưng cùng với đó, các tiêu chuẩn về truy xuất nguồn gốc, trách nhiệm môi trường và tính minh bạch trong chuỗi cung ứng cũng đang siết chặt hơn bao giờ hết.
Thái Nguyên thúc đẩy phát triển ngành chè gắn với thương hiệu và chuyển đổi số

Thái Nguyên thúc đẩy phát triển ngành chè gắn với thương hiệu và chuyển đổi số

Nhân Ngày Chè thế giới 21/5, Hội Chè Thái Nguyên tổ chức Tọa đàm “Phát triển ngành chè Thái Nguyên gắn với xây dựng thương hiệu và chuyển đổi số”, nhằm trao đổi các giải pháp nâng cao chất lượng, giá trị và sức cạnh tranh của sản phẩm chè trong giai đoạn mới.
TP.HCM phát triển vùng rau an toàn, truy xuất nguồn gốc đến năm 2030

TP.HCM phát triển vùng rau an toàn, truy xuất nguồn gốc đến năm 2030

UBND TP.HCM vừa ban hành Kế hoạch triển khai Đề án phát triển các vùng sản xuất rau an toàn, tập trung, bảo đảm truy xuất nguồn gốc gắn với chế biến và thị trường tiêu thụ đến năm 2030 trên địa bàn Thành phố. Kế hoạch hướng đến phát triển nông nghiệp đô thị hiện đại, ứng dụng công nghệ cao, nâng cao chất lượng nông sản và hiệu quả sản xuất.
Giảm phát thải: Hướng đi mới để nâng cao giá trị nông sản Việt

Giảm phát thải: Hướng đi mới để nâng cao giá trị nông sản Việt

Sau giai đoạn tăng trưởng mạnh nhờ mở rộng diện tích, tăng sản lượng và đẩy mạnh xuất khẩu, nông sản Việt Nam đang bước vào một cuộc cạnh tranh mới. Ở đó, chất lượng sản phẩm không chỉ được đo bằng năng suất, mẫu mã hay giá bán, mà còn bằng khả năng sản xuất xanh, minh bạch dữ liệu và giảm phát thải trong toàn bộ chuỗi giá trị.
Thúc đẩy chuyển đổi số trong nông nghiệp hữu cơ từ hợp tác giữa VOAA và VNPT Green

Thúc đẩy chuyển đổi số trong nông nghiệp hữu cơ từ hợp tác giữa VOAA và VNPT Green

Sáng 18/5, tại Hà Nội, Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam (VOAA) và Trung tâm Nông nghiệp số VNPT (VNPT Green) tổ chức Lễ ký kết Hợp đồng hợp tác phát triển thương hiệu, thị trường và sản phẩm. Sự kiện được kỳ vọng mở ra hướng phối hợp mới trong việc ứng dụng công nghệ số vào quản lý hội viên, dữ liệu sản xuất, truy xuất nguồn gốc và cấp chứng nhận tiêu chuẩn chất lượng trong nông nghiệp hữu cơ.
Hải Phòng: Đẩy nhanh thu hoạch lúa Hè thu, chủ động kiến tạo quỹ đất cho khung thời vụ đông

Hải Phòng: Đẩy nhanh thu hoạch lúa Hè thu, chủ động kiến tạo quỹ đất cho khung thời vụ đông

Những ngày này, trên khắp các vùng trọng điểm sản xuất lúa của thành phố Hải Phòng như Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, An Lão, Thủy Nguyên... không khí lao động đang diễn ra vô cùng khẩn trương. Ghi nhận tại các cánh đồng mẫu lớn, khung cảnh cơ giới hóa đồng bộ với hệ thống máy gặt đập liên hợp hoạt động hết công suất đã minh chứng cho một vụ sản xuất hè thu chủ động và hiệu quả. Việc thu hoạch nhanh gọn giai đoạn này không chỉ giúp tối ưu hóa giá trị thương phẩm của hạt gạo mà còn là mắt xích then chốt trong việc giải phóng đất, chuẩn bị cho khung thời vụ sản xuất vụ đông sắp tới.

CÁC TIN BÀI KHÁC

Gia Lai triển khai kế hoạch truy xuất nguồn gốc nông sản trên địa bàn tỉnh

Gia Lai triển khai kế hoạch truy xuất nguồn gốc nông sản trên địa bàn tỉnh

UBND tỉnh Gia Lai vừa ban hành Kế hoạch số 149/KH-UBND ngày 18/5/2026 về triển khai truy xuất nguồn gốc (TXNG) nông sản trên địa bàn, nhằm tăng cường minh bạch thông tin, bảo đảm chất lượng, an toàn thực phẩm và nâng cao năng lực cạnh tranh cho nông sản địa phương trong bối cảnh hội nhập.
ĐH Nông Lâm - ĐH Huế tăng cường hợp tác phát triển nông nghiệp hiện đại, bền vững

ĐH Nông Lâm - ĐH Huế tăng cường hợp tác phát triển nông nghiệp hiện đại, bền vững

Sự đồng hành giữa Nhà trường và doanh nghiệp được kỳ vọng sẽ mở ra nhiều cơ hội học tập, thực tập, việc làm cho sinh viên, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo
Liên kết "3 nhà" trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành nông nghiệp

Liên kết "3 nhà" trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành nông nghiệp

Không thể phát triển theo cách riêng lẻ, Nhà nước, trường đại học và doanh nghiệp cần hình thành hệ sinh thái liên kết thực chất để đào tạo nhân lực, nghiên cứu khoa học và thương mại hóa công nghệ phục vụ phát triển nông nghiệp hiện đại, bền vững.
6 đặc điểm cốt lõi cấu thành nên diện mạo của nền kinh tế xanh hiện đại

6 đặc điểm cốt lõi cấu thành nên diện mạo của nền kinh tế xanh hiện đại

Trong điều kiện biến đổi khí hậu đang trở thành thách thức sống còn của nhân loại, khái niệm "Nền kinh tế xanh" (Green Economy) không còn là một lựa chọn mang tính lý thuyết mà đã trở thành mệnh lệnh cấp bách.
Chứng nhận hữu cơ EU - Bước ngoặt cho nông sản Trường Sơn

Chứng nhận hữu cơ EU - Bước ngoặt cho nông sản Trường Sơn

Hợp tác xã (HTX) Dịch vụ nông nghiệp tổng hợp Trường Sơn, tỉnh Quảng Trị, vừa chính thức được cấp chứng nhận hữu cơ theo tiêu chuẩn châu Âu (EU) - một dấu mốc quan trọng không chỉ đối với riêng HTX mà còn mở ra hướng đi bền vững cho ngành nông nghiệp địa phương. Sự kiện này cho thấy nỗ lực chuyển đổi mạnh mẽ từ sản xuất truyền thống sang nông nghiệp sinh thái, an toàn và hội nhập quốc tế.
Nghiên cứu khoa học của WASI cần gắn chặt với nhu cầu thị trường

Nghiên cứu khoa học của WASI cần gắn chặt với nhu cầu thị trường

Trong chuyến công tác tại tỉnh Đắk Lắk, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng cùng đoàn công tác đã có buổi làm việc với Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên (WASI), nhằm đánh giá kết quả hoạt động và định hướng phát triển trong thời gian tới.
Giải pháp kiến tạo một thị trường tiêu dùng lành mạnh

Giải pháp kiến tạo một thị trường tiêu dùng lành mạnh

Nền kinh tế số đang phát triển như vũ bão, thị trường tiêu dùng trở nên sôi động và đa dạng hơn bao giờ hết. Người tiêu dùng có nhiều lựa chọn hơn, nhưng đồng thời cũng phải đối mặt với vô vàn rủi ro, từ hàng giả, hàng nhái, thông tin sai lệch cho đến các chiêu trò lừa đảo tinh vi.
"Đòn bẩy" hiện đại hóa ngành chăn nuôi Việt Nam

"Đòn bẩy" hiện đại hóa ngành chăn nuôi Việt Nam

Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (khóa XIII) về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia được ban hành trong khi ngành chăn nuôi Việt Nam đang đứng trước những yêu cầu cấp thiết về đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất và hội nhập quốc tế. Đây không chỉ là một văn bản định hướng chính sách mà còn là “kim chỉ nam” thúc đẩy quá trình hiện đại hóa toàn diện ngành chăn nuôi - từ phương thức sản xuất, quản trị chuỗi giá trị đến ứng dụng khoa học công nghệ và phát triển bền vững.
Nông nghiệp hữu cơ không chỉ là kỹ thuật, mà là niềm tin và kỷ luật cộng đồng

Nông nghiệp hữu cơ không chỉ là kỹ thuật, mà là niềm tin và kỷ luật cộng đồng

Sáng 10/5, trong khuôn khổ Khóa tập huấn Lãnh đạo Nông nghiệp Sinh thái và Hữu cơ (AOLC 2026), các học viên đã tham quan thực địa mô hình sản xuất rau hữu cơ của Liên nhóm hữu cơ Thanh Xuân tại xã Nội Bài, Hà Nội. Sau gần hai thập kỷ bền bỉ, mô hình này tiếp tục cho thấy vai trò quan trọng của cộng đồng, kỷ luật sản xuất và hệ thống bảo đảm có sự tham gia trong phát triển nông nghiệp hữu cơ.
Phục hồi rừng bản địa - những kết quả ban đầu và triển vọng phát triển

Phục hồi rừng bản địa - những kết quả ban đầu và triển vọng phát triển

Tại hội thảo, nhiều đại biểu khẳng định phục hồi rừng bản địa có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên và khả năng hấp thụ carbon...
Cao Bằng có đưa di sản văn hóa “múa rồng – kỳ lân” thành tài nguyên du lịch đặc sắc?

Cao Bằng có đưa di sản văn hóa “múa rồng – kỳ lân” thành tài nguyên du lịch đặc sắc?

Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống mở ra nhiều cơ hội cho phát triển kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực du lịch văn hoá. Tại Cao Bằng, múa rồng – kỳ lân là một loại hình nghệ thuật dân gian đặc sắc có lịch sử truyền thống văn hoá tồn tại qua nhiều thế hệ và gắn bó mật thiết với đời sống tinh thần của cộng đồng các dân tộc. Trong xu hướng phát triển du lịch văn hoá hiện nay, việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống, trong đó có nghệ thuật múa rồng – kỳ lân, để trở thành sản phẩm du lịch đặc trưng được xem là hướng đi quan trọng. Điều này không chỉ góp phần gìn giữ và lan toả những giá trị văn hoá truyền thống mà còn quảng bá hình ảnh, con người và bản sắc văn hoá Cao Bằng đến với du khách trong nước và quốc tế.
Công nghiệp văn hóa: Động cơ mới cho sự phát triển và quyền lực mềm

Công nghiệp văn hóa: Động cơ mới cho sự phát triển và quyền lực mềm

Trong thế kỷ XXI, khái niệm về sự giàu có của một quốc gia không còn chỉ đo lường bằng trữ lượng dầu mỏ, quặng sắt hay số lượng nhà máy sản xuất thép. Một loại hình kinh tế mới, dựa trên sức mạnh của sự sáng tạo, trí tuệ và bản sắc dân tộc, đang trỗi dậy mạnh mẽ: Công nghiệp văn hóa (Cultural Industries).
XEM THÊM
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2025 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính