ki-niem-15-voaa
Thứ ba 14/07/2026 21:51Thứ ba 14/07/2026 21:51 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Nới rộng "cửa" vốn: Hợp tác xã và liên hiệp Hợp tác xã được vay đến 5 tỷ đồng

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Khu vực kinh tế tập thể, với hạt nhân là các hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã, từ lâu đã được xác định là thành phần kinh tế quan trọng, góp phần không nhỏ vào sự phát triển nông nghiệp, nông thôn và kinh tế - xã hội của đất nước. Với việc Nghị định 156/2025/NĐ-CP chính thức cho phép hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã được các tổ chức tín dụng xem xét cho vay không có tài sản đảm bảo tối đa đến 5 tỷ đồng, hứa hẹn tạo cú hích mạnh mẽ cho sự phát triển của mô hình kinh tế này
Nới rộng

Cánh đồng lúa chín. Nguồn sưu tầm

Theo Điểm d Khoản 6 Điều 1 Nghị định 156 sửa đổi khoản 2 Điều 9 Nghị định số 55/2015: “2. Cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, hộ kinh doanh, chủ trang trại, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được tổ chức tín dụng xem xét cho vay không có tài sản bảo đảm theo các mức như sau: Tối đa 05 tỷ đồng đối với hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã.”

Bối cảnh và nhu cầu cấp bách về vốn cho kinh tế tập thể

Luật Hợp tác xã 2023 ra đời đã mang lại một hành lang pháp lý thông thoáng hơn, khuyến khích sự đa dạng hóa và nâng cao hiệu quả hoạt động của hợp tác xã (HTX), liên hiệp hợp tác xã (LHHTX) trong nhiều lĩnh vực. Mục tiêu là phát triển kinh tế tập thể theo hướng năng động, bền vững, thực sự là cầu nối giữa hộ sản xuất nhỏ lẻ với thị trường lớn, ứng dụng công nghệ cao và tham gia sâu vào chuỗi giá trị.

Thế nhưng, thực tế cho thấy các HTX và LHHTX thường xuyên đối mặt với khó khăn chồng chất trong việc tiếp cận nguồn vốn, chủ yếu do:

Hạn chế về tài sản thế chấp: Tài sản của HTX thường là tài sản chung, khó định giá hoặc có giá trị thấp, không đủ điều kiện để đáp ứng yêu cầu thế chấp của ngân hàng. Nhiều HTX không có đủ đất đai hoặc nhà xưởng có giấy tờ pháp lý rõ ràng để làm tài sản bảo đảm.

Quy mô hoạt động và năng lực quản lý: Phần lớn HTX còn ở quy mô nhỏ lẻ, phương án sản xuất kinh doanh chưa chuyên nghiệp, thiếu tính khả thi, gây khó khăn cho việc thẩm định và phê duyệt khoản vay từ phía các tổ chức tín dụng. Năng lực quản trị, kế toán, tài chính của ban lãnh đạo HTX nhiều nơi còn yếu kém.

Hạn mức vay thấp theo quy định cũ: Trước đây, các quy định thường giới hạn mức vay của HTX ở mức khá thấp, không đủ để đầu tư vào các dự án lớn, mua sắm máy móc hiện đại, mở rộng quy mô sản xuất hay ứng dụng công nghệ cao. Điều này khiến HTX khó tích lũy, tái đầu tư và nâng cao sức cạnh tranh.

Thủ tục hành chính rườm rà: Quy trình vay vốn tại các ngân hàng thường phức tạp, đòi hỏi nhiều giấy tờ chứng minh năng lực tài chính, báo cáo hoạt động, khiến các HTX, đặc biệt là ở vùng nông thôn, gặp khó khăn về thời gian và nguồn lực.

Theo Điểm d, Khoản 6, Điều 1, Nghị định 156: “ Cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, hộ kinh doanh, chủ trang trại, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được tổ chức tín dụng xem xét cho vay không có tài sản bảo đảm theo các mức như sau: Tối đa 05 tỷ đồng đối với hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã.”, với quy định nới lỏng hạn mức vay, đã trực tiếp giải quyết một trong những nút thắt quan trọng nhất, tạo động lực mới cho sự phát triển của khu vực kinh tế tập thể.

Việc nâng hạn mức vay tối đa lên 5 tỷ đồng không là một chính sách mang tính đột phá, hứa hẹn tạo ra những chuyển biến tích cực sâu rộng: đòn bẩy đầu tư và hiện đại hóa sản xuất

Đầu tư công nghệ cao: 5 tỷ đồng là một khoản vốn đáng kể, cho phép HTX đầu tư vào các công nghệ tiên tiến như hệ thống nhà kính thông minh, tưới tiêu tự động, máy móc chế biến sâu, kho lạnh bảo quản nông sản, thiết bị sản xuất công nghiệp hiện đại. Điều này giúp HTX nâng cao năng suất, cải thiện chất lượng sản phẩm, giảm thiểu hao hụt sau thu hoạch và tối ưu hóa chi phí sản xuất.

Mở rộng quy mô và đa dạng hóa sản phẩm: Với nguồn vốn ổn định, HTX có thể mở rộng diện tích canh tác, chăn nuôi, xây dựng thêm nhà xưởng, phát triển các dòng sản phẩm mới có giá trị gia tăng cao (ví dụ: từ nông sản thô sang sản phẩm chế biến sẵn, đặc sản địa phương). Đây cũng là cơ hội để HTX phát triển các dịch vụ hỗ trợ thành viên như cung ứng vật tư, tiêu thụ sản phẩm.

Tăng cường khả năng cạnh tranh: Khi có đủ vốn để đầu tư vào công nghệ và mở rộng quy mô, sản phẩm của HTX sẽ có chất lượng đồng đều hơn, sản lượng ổn định hơn, từ đó dễ dàng đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh cả trong nước và xuất khẩu.

Nâng cao vị thế và vai trò của kinh tế tập thể

Tăng cường tự chủ tài chính: Khả năng tiếp cận nguồn vốn lớn hơn giúp HTX giảm sự phụ thuộc vào các nguồn vốn tự có hạn chế của thành viên hoặc các khoản hỗ trợ nhỏ lẻ từ ngân sách. Điều này thúc đẩy tính tự chủ, chủ động trong việc hoạch định và thực hiện các kế hoạch sản xuất kinh doanh dài hạn.

Củng cố vai trò liên kết của LHHTX: LHHTX, với năng lực vay đến 5 tỷ đồng, có thể đầu tư vào các dự án hạ tầng lớn phục vụ chung cho nhiều HTX thành viên (như trung tâm sơ chế, đóng gói tập trung, hệ thống kho bãi logistics, phòng thí nghiệm kiểm định chất lượng). Điều này củng cố vai trò trung tâm liên kết, hỗ trợ các HTX thành viên, tạo thành chuỗi giá trị mạnh mẽ hơn.

Nâng cao uy tín và tạo niềm tin: Việc một HTX/LHHTX được tổ chức tín dụng cho vay số tiền lớn là một minh chứng cho sự minh bạch trong quản lý, khả năng sinh lời của dự án và uy tín của đơn vị. Điều này không chỉ giúp HTX thu hút thêm thành viên mà còn tạo niềm tin cho các đối tác kinh doanh lớn, các nhà đầu tư tiềm năng.

Đóng góp vào phát triển kinh tế - xã hội bền vững

Tạo việc làm và cải thiện thu nhập: Đầu tư mở rộng sản xuất sẽ kéo theo nhu cầu về lao động, tạo thêm việc làm ổn định cho thành viên và người dân địa phương, đặc biệt là ở khu vực nông thôn, góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống.

Thúc đẩy liên kết sản xuất theo chuỗi: Khi HTX có đủ vốn để đầu tư vào quy trình sản xuất khép kín, ứng dụng công nghệ, sẽ thúc đẩy mạnh mẽ mô hình liên kết "4 nhà" (Nhà nước, nhà khoa học, nhà nông, nhà doanh nghiệp), hình thành các chuỗi giá trị bền vững từ sản xuất đến tiêu thụ.

Xây dựng nông thôn mới hiện đại: Sự phát triển mạnh mẽ của các HTX sẽ kéo theo sự phát triển của hạ tầng kinh tế - xã hội ở khu vực nông thôn, góp phần hiện thực hóa mục tiêu xây dựng nông thôn mới văn minh, giàu đẹp.

Mặc dù chính sách này mang tính đột phá, nhưng để nó thực sự đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả tối đa, vẫn còn nhiều thách thức cần được nhìn nhận và giải quyết.

Điều kiện tiếp cận vốn thực tế: Mặc dù hạn mức được nâng cao, các tổ chức tín dụng vẫn sẽ áp dụng các tiêu chí thẩm định chặt chẽ về phương án kinh doanh khả thi, khả năng trả nợ, và tài sản bảo đảm. Nhiều HTX quy mô nhỏ, hoạt động chưa chuyên nghiệp có thể vẫn gặp khó khăn trong việc đáp ứng các điều kiện này.

Năng lực quản trị, tài chính của HTX: Với khoản vay lớn, yêu cầu về năng lực quản lý tài chính, quản trị rủi ro, và hoạch định chiến lược của ban lãnh đạo HTX, LHHTX cần được nâng cao tương xứng. Nếu không, việc sử dụng vốn không hiệu quả có thể dẫn đến rủi ro nợ xấu và ảnh hưởng đến sự bền vững của HTX.

Cơ chế bảo lãnh tín dụng: Hiện tại, cơ chế bảo lãnh tín dụng cho các đối tượng HTX còn hạn chế, chưa thực sự phát huy hiệu quả. Điều này khiến các tổ chức tín dụng vẫn còn e ngại khi cho vay HTX.

Sự hiểu biết và linh hoạt từ phía ngân hàng: Các tổ chức tín dụng cần có sự hiểu biết sâu sắc về đặc thù hoạt động của HTX để xây dựng các sản phẩm tín dụng và quy trình thẩm định phù hợp, thay vì áp dụng cứng nhắc các tiêu chuẩn như đối với doanh nghiệp thông thường.

Cần có giải pháp đồng bộ hóa để chính sách đi vào cuộc sống

Nâng cao năng lực quản trị cho HTX, LHHTX: Đây là giải pháp cốt lõi. Nhà nước và Liên minh HTX các cấp cần tiếp tục đẩy mạnh các chương trình đào tạo, tập huấn chuyên sâu về quản trị kinh doanh, tài chính, kế toán, xây dựng phương án sản xuất kinh doanh khả thi cho cán bộ chủ chốt của HTX, LHHTX.

Hoàn thiện và phát huy hiệu quả cơ chế bảo lãnh tín dụng: Cần tăng cường nguồn lực cho Quỹ Bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, và các Quỹ Hỗ trợ phát triển HTX ở trung ương và địa phương. Đồng thời, xây dựng cơ chế bảo lãnh minh bạch, linh hoạt, giảm thiểu rủi ro cho các tổ chức tín dụng khi cho vay HTX.

Xây dựng các sản phẩm tín dụng đặc thù: Khuyến khích các tổ chức tín dụng, đặc biệt là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank) và Ngân hàng Chính sách xã hội, nghiên cứu và phát triển các gói sản phẩm tín dụng với lãi suất ưu đãi, thủ tục đơn giản, phù hợp với đặc thù sản xuất kinh doanh và khả năng thế chấp của HTX.

Phát triển các mô hình HTX kiểu mẫu: Đẩy mạnh nhân rộng các mô hình HTX kiểu mới, hoạt động hiệu quả, ứng dụng công nghệ cao, quản lý chuyên nghiệp để các HTX khác có thể học hỏi và làm theo, tạo niềm tin cho các tổ chức tín dụng.

Tăng cường vai trò tư vấn, hỗ trợ từ Liên minh HTX: Liên minh HTX các cấp cần phát huy hơn nữa vai trò cầu nối, cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý, tài chính, thị trường cho các HTX, giúp họ xây dựng hồ sơ vay vốn hiệu quả và kết nối với các tổ chức tín dụng...

Nghị định 156/2025/NĐ-CP với quy định về hạn mức vay tối đa 5 tỷ đồng là một chính sách đột phá, mở ra kỷ nguyên mới cho sự phát triển của HTX và LHHTX tại Việt Nam. Nó không chỉ cung cấp nguồn lực tài chính cần thiết mà còn thể hiện sự tin tưởng của Chính phủ vào tiềm năng và vai trò của kinh tế tập thể. Tuy nhiên, để "cửa vốn" thực sự rộng mở và phát huy hiệu quả tối đa, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa chính sách vĩ mô, nỗ lực nâng cao năng lực nội tại của bản thân các HTX/LHHTX và sự đồng hành, linh hoạt từ phía các tổ chức tín dụng. Khi những yếu tố này hội tụ, HTX và LHHTX sẽ thực sự trở thành những "tế bào" mạnh mẽ của nền kinh tế, đóng góp quan trọng vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng nông thôn mới bền vững./.

Bài liên quan

Liên kết bền vững để nâng cao giá trị nông sản, thủy sản Việt Nam

Liên kết bền vững để nâng cao giá trị nông sản, thủy sản Việt Nam

Trong chương trình công tác tại tỉnh An Giang, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng đánh giá cao mô hình sản xuất, chế biến và xuất khẩu được tổ chức bài bản của Công ty Cổ phần Rau quả thực phẩm An Giang (Antesco) và Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu thủy sản Cửu Long An Giang. Phó Thủ tướng đồng thời yêu cầu các cơ quan liên quan tháo gỡ khó khăn, hoàn thiện cơ chế hỗ trợ phát triển vùng nguyên liệu, củng cố chuỗi liên kết và tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp tục đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh.
Hướng tới 100% cơ sở sản xuất nông lâm thủy sản tuân thủ an toàn thực phẩm

Hướng tới 100% cơ sở sản xuất nông lâm thủy sản tuân thủ an toàn thực phẩm

Chính phủ, Hội Nông dân Việt Nam và Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam vừa ký Chương trình phối hợp giai đoạn 2026 - 2030 nhằm đẩy mạnh tuyên truyền, vận động và giám sát sản xuất, kinh doanh nông lâm thủy sản chất lượng, an toàn. Chương trình đặt mục tiêu đến năm 2030, 100% hộ gia đình, cơ sở sản xuất, kinh doanh, chế biến nông lâm thủy sản có hội viên tham gia tuân thủ các quy định về chất lượng, an toàn thực phẩm.
Liên kết nguồn lực, hỗ trợ nông dân Thái Nguyên phát triển nông nghiệp bền vững

Liên kết nguồn lực, hỗ trợ nông dân Thái Nguyên phát triển nông nghiệp bền vững

Ngày 03/7/2026, tại trụ sở Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Thái Nguyên, Hội Nông dân tỉnh Thái Nguyên tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ 3, khóa I, sơ kết công tác Hội và phong trào nông dân 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026. Dịp này, Hội Nông dân tỉnh ký kết nhiều chương trình phối hợp quan trọng nhằm hỗ trợ hội viên, nông dân phát triển sản xuất, kinh tế tập thể, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sinh thái và chuỗi giá trị nông sản.
Gần 20.000 sản phẩm tham gia hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản

Gần 20.000 sản phẩm tham gia hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản

Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản do Bộ Nông nghiệp và Môi trường xây dựng đang ghi nhận sự tham gia ngày càng rộng rãi của các địa phương, doanh nghiệp và người sản xuất. Đến giữa tháng 6/2026, đã có 18.500 sản phẩm được cập nhật lên hệ thống, từng bước hình thành cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý và kết nối tiêu thụ nông sản.
Kết nối thị trường, thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm rừng và trang trại cho hợp tác xã, tổ hợp tác

Kết nối thị trường, thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm rừng và trang trại cho hợp tác xã, tổ hợp tác

Ngày 19/6/2026, tại Thái Nguyên, Viện Quản lý đất đai và Phát triển nông thôn, Trường Đại học Lâm nghiệp tổ chức Hội thảo “Kết nối thị trường - Thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm dưới tán rừng cho các hợp tác xã/tổ hợp tác”. Hội thảo được tổ chức trong khuôn khổ Chương trình Hỗ trợ Rừng và Trang trại do Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc tài trợ, nhằm chia sẻ kinh nghiệm, mở rộng thị trường, tăng cường kết nối giữa các tổ hợp tác, hợp tác xã với doanh nghiệp, đơn vị phân phối và các bên liên quan.
Phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong phát triển nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại

Phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong phát triển nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại

Sáng 8/6, tại Thủ đô Hà Nội, Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ IX, nhiệm kỳ 2026 - 2031, khai mạc trọng thể với sự tham dự của 598 đại biểu tiêu biểu, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và trí tuệ của hơn 10 triệu cán bộ, hội viên, nông dân cả nước. Với tinh thần “Đoàn kết - Dân chủ - Đột phá - Hợp tác - Phát triển”, Đại hội đặt ra yêu cầu tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức hoạt động của Hội, phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong phát triển nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh.

CÁC TIN BÀI KHÁC

Giảm phát thải và loại bỏ khí nhà kính - Đột phá chiến lược để đạt được mục tiêu Net Zero

Giảm phát thải và loại bỏ khí nhà kính - Đột phá chiến lược để đạt được mục tiêu Net Zero

Biến đổi khí hậu ngày càng nghiêm trọng, giảm phát thải khí nhà kính đã trở thành nhiệm vụ cấp bách của toàn cầu. Nhiều quốc gia đã đưa ra cam kết đạt mức phát thải ròng bằng “0” (Net Zero) vào giữa thế kỷ XXI nhằm hạn chế mức tăng nhiệt độ trái đất.
Đánh giá hiệu quả kinh tế và môi trường của mô hình sản xuất rau hữu cơ tại tỉnh Tuyên Quang

Đánh giá hiệu quả kinh tế và môi trường của mô hình sản xuất rau hữu cơ tại tỉnh Tuyên Quang

Nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế và môi trường của mô hình sản xuất rau hữu cơ tại tỉnh Tuyên Quang cho thấy, dù chi phí lao động cao hơn sản xuất truyền thống, mô hình vẫn mang lại lợi nhuận vượt trội, đồng thời giảm ô nhiễm môi trường, cải thiện độ phì nhiêu đất và góp phần thúc đẩy nền nông nghiệp phát triển bền vững.
Phát động bình chọn các điển hình tiên tiến phát triển nông nghiệp hữu cơ Việt Nam năm 2026

Phát động bình chọn các điển hình tiên tiến phát triển nông nghiệp hữu cơ Việt Nam năm 2026

Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam (VOAA) vừa có Công văn đề nghị Ủy ban nhân dân, Sở Nông nghiệp và Môi trường các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phối hợp giới thiệu, đề cử các tập thể, cá nhân tiêu biểu tham gia Chương trình “Lễ tôn vinh điển hình tiên tiến phát triển nông nghiệp hữu cơ Việt Nam lần thứ III – 2026”.
Nuôi trùn quế dưới điện mặt trời: Lợi ích “kép” trên một diện tích

Nuôi trùn quế dưới điện mặt trời: Lợi ích “kép” trên một diện tích

Tận dụng phần diện tích bên dưới các tấm pin để nuôi trùn quế đang mở ra hướng kết hợp giữa sản xuất năng lượng tái tạo và nông nghiệp hữu cơ tuần hoàn. Tuy nhiên, để mô hình phát huy hiệu quả, chủ đầu tư phải giải quyết đồng thời các yêu cầu về kỹ thuật nuôi, an toàn điện, môi trường, đất đai và đầu ra sản phẩm.
Lợi ích của thị trường carbon đối với Việt Nam

Lợi ích của thị trường carbon đối với Việt Nam

Biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp, việc cắt giảm phát thải khí nhà kính đã trở thành ưu tiên hàng đầu của nhiều quốc gia. Tuy nhiên, giảm phát thải không chỉ là vấn đề môi trường mà còn liên quan mật thiết đến tăng trưởng kinh tế, năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững.
Một số vấn đề về phát triển nông nghiệp xanh ở Việt Nam

Một số vấn đề về phát triển nông nghiệp xanh ở Việt Nam

Phát triển nông nghiệp xanh đang trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm hướng tới tăng trưởng bền vững ở Việt Nam. Tuy nhiên, quá trình này vẫn đối mặt với nhiều khó khăn như quy mô sản xuất nhỏ lẻ, hạn chế về công nghệ, nguồn vốn và thị trường. Việc tháo gỡ các rào cản sẽ tạo động lực cho nông nghiệp xanh phát triển hiệu quả.
Bảo tồn và phát huy giá trị vườn quốc gia Cát Bà - di sản thiên nhiên thế giới thực trạng và giải pháp

Bảo tồn và phát huy giá trị vườn quốc gia Cát Bà - di sản thiên nhiên thế giới thực trạng và giải pháp

Vườn quốc gia Cát Bà, thành phần của Di sản Thiên nhiên Thế giới Vịnh Hạ Long - Quần đảo Cát Bà, đang đối mặt với áp lực từ du lịch và biến đổi môi trường. Bài viết phân tích thực trạng bảo tồn, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm phát huy giá trị di sản theo hướng bền vững.
Ứng dụng phân hữu cơ vi sinh trong canh tác lúa để giảm sử dụng phân hóa học

Ứng dụng phân hữu cơ vi sinh trong canh tác lúa để giảm sử dụng phân hóa học

Nghiên cứu đánh giá hiệu quả ứng dụng phân hữu cơ vi sinh trong canh tác lúa nhằm giảm sử dụng phân hóa học. Kết quả cho thấy có thể giảm 20–30% lượng phân hóa học mà vẫn duy trì hoặc tăng năng suất, đồng thời cải thiện độ phì đất, bảo vệ môi trường và nâng cao hiệu quả kinh tế cho nông dân.
Cấu trúc quản trị rừng và tác động đến hiệu quả môi trường - bằng chứng từ dữ liệu cấp tỉnh tại Việt Nam

Cấu trúc quản trị rừng và tác động đến hiệu quả môi trường - bằng chứng từ dữ liệu cấp tỉnh tại Việt Nam

Nghiên cứu này phân tích mối quan hệ giữa cấu trúc quản trị rừng và hiệu quả môi trường tại Việt Nam, dựa trên dữ liệu tổng hợp từ 12 tỉnh theo báo cáo của các địa phương năm 2025. Kết quả cho thấy, hiệu quả môi trường (được phản ánh thông qua số vụ vi phạm lâm nghiệp và tiềm năng hấp thụ carbon) không phụ thuộc đơn thuần vào quy mô tài nguyên rừng, mà chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi cấu trúc quản trị, đặc biệt là mức độ phân cấp và xác lập quyền sở hữu rừng
Xây dựng thương hiệu quốc gia giúp nông sản Việt gia tăng giá trị bền vững

Xây dựng thương hiệu quốc gia giúp nông sản Việt gia tăng giá trị bền vững

Việc xây dựng thương hiệu quốc gia không chỉ nhằm giúp nông sản Việt bán được nhiều sản phẩm hơn, mà là để bán được giá cao hơn, đem về nhiều giá trị hơn cho đất nước, cho doanh nghiệp và đặc biệt là mang lại giá trị bền vững cho người nông dân.
Hiện trạng và giải pháp phát triển bền vững cây mắc ca tại tỉnh Đắk Lắk

Hiện trạng và giải pháp phát triển bền vững cây mắc ca tại tỉnh Đắk Lắk

Tỉnh Đắk Lắk có điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển cây mắc ca, các nghiên cứu trồng khảo nghiệm mắc ca được thực hiện từ đầu những năm 2000 (năm 2002, 2004), kết quả cho thấy cây mắc ca có sự thích nghi tốt và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người trồng.
Tác động của nông nghiệp hữu cơ đối với sức khỏe đất và đa dạng sinh học

Tác động của nông nghiệp hữu cơ đối với sức khỏe đất và đa dạng sinh học

Đất là nền tảng quan trọng của nông nghiệp hữu cơ. Canh tác hữu cơ chú trọng bảo vệ độ phì nhiêu của đất bằng phân hữu cơ, phân xanh và các biện pháp sinh học. Đất khỏe giúp cây trồng phát triển bền vững, nâng cao chất lượng nông sản, bảo vệ môi trường và hệ sinh thái.
XEM THÊM
dam-ca-mau-chi-vi-hoa
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2025 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính