ki-niem-15-voaa
Thứ ba 13/10/2026 12:19Thứ ba 13/10/2026 12:19 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Nới rộng "cửa" vốn: Hợp tác xã và liên hiệp Hợp tác xã được vay đến 5 tỷ đồng

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Khu vực kinh tế tập thể, với hạt nhân là các hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã, từ lâu đã được xác định là thành phần kinh tế quan trọng, góp phần không nhỏ vào sự phát triển nông nghiệp, nông thôn và kinh tế - xã hội của đất nước. Với việc Nghị định 156/2025/NĐ-CP chính thức cho phép hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã được các tổ chức tín dụng xem xét cho vay không có tài sản đảm bảo tối đa đến 5 tỷ đồng, hứa hẹn tạo cú hích mạnh mẽ cho sự phát triển của mô hình kinh tế này
Nới rộng

Cánh đồng lúa chín. Nguồn sưu tầm

Theo Điểm d Khoản 6 Điều 1 Nghị định 156 sửa đổi khoản 2 Điều 9 Nghị định số 55/2015: “2. Cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, hộ kinh doanh, chủ trang trại, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được tổ chức tín dụng xem xét cho vay không có tài sản bảo đảm theo các mức như sau: Tối đa 05 tỷ đồng đối với hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã.”

Bối cảnh và nhu cầu cấp bách về vốn cho kinh tế tập thể

Luật Hợp tác xã 2023 ra đời đã mang lại một hành lang pháp lý thông thoáng hơn, khuyến khích sự đa dạng hóa và nâng cao hiệu quả hoạt động của hợp tác xã (HTX), liên hiệp hợp tác xã (LHHTX) trong nhiều lĩnh vực. Mục tiêu là phát triển kinh tế tập thể theo hướng năng động, bền vững, thực sự là cầu nối giữa hộ sản xuất nhỏ lẻ với thị trường lớn, ứng dụng công nghệ cao và tham gia sâu vào chuỗi giá trị.

Thế nhưng, thực tế cho thấy các HTX và LHHTX thường xuyên đối mặt với khó khăn chồng chất trong việc tiếp cận nguồn vốn, chủ yếu do:

Hạn chế về tài sản thế chấp: Tài sản của HTX thường là tài sản chung, khó định giá hoặc có giá trị thấp, không đủ điều kiện để đáp ứng yêu cầu thế chấp của ngân hàng. Nhiều HTX không có đủ đất đai hoặc nhà xưởng có giấy tờ pháp lý rõ ràng để làm tài sản bảo đảm.

Quy mô hoạt động và năng lực quản lý: Phần lớn HTX còn ở quy mô nhỏ lẻ, phương án sản xuất kinh doanh chưa chuyên nghiệp, thiếu tính khả thi, gây khó khăn cho việc thẩm định và phê duyệt khoản vay từ phía các tổ chức tín dụng. Năng lực quản trị, kế toán, tài chính của ban lãnh đạo HTX nhiều nơi còn yếu kém.

Hạn mức vay thấp theo quy định cũ: Trước đây, các quy định thường giới hạn mức vay của HTX ở mức khá thấp, không đủ để đầu tư vào các dự án lớn, mua sắm máy móc hiện đại, mở rộng quy mô sản xuất hay ứng dụng công nghệ cao. Điều này khiến HTX khó tích lũy, tái đầu tư và nâng cao sức cạnh tranh.

Thủ tục hành chính rườm rà: Quy trình vay vốn tại các ngân hàng thường phức tạp, đòi hỏi nhiều giấy tờ chứng minh năng lực tài chính, báo cáo hoạt động, khiến các HTX, đặc biệt là ở vùng nông thôn, gặp khó khăn về thời gian và nguồn lực.

Theo Điểm d, Khoản 6, Điều 1, Nghị định 156: “ Cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, hộ kinh doanh, chủ trang trại, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được tổ chức tín dụng xem xét cho vay không có tài sản bảo đảm theo các mức như sau: Tối đa 05 tỷ đồng đối với hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã.”, với quy định nới lỏng hạn mức vay, đã trực tiếp giải quyết một trong những nút thắt quan trọng nhất, tạo động lực mới cho sự phát triển của khu vực kinh tế tập thể.

Việc nâng hạn mức vay tối đa lên 5 tỷ đồng không là một chính sách mang tính đột phá, hứa hẹn tạo ra những chuyển biến tích cực sâu rộng: đòn bẩy đầu tư và hiện đại hóa sản xuất

Đầu tư công nghệ cao: 5 tỷ đồng là một khoản vốn đáng kể, cho phép HTX đầu tư vào các công nghệ tiên tiến như hệ thống nhà kính thông minh, tưới tiêu tự động, máy móc chế biến sâu, kho lạnh bảo quản nông sản, thiết bị sản xuất công nghiệp hiện đại. Điều này giúp HTX nâng cao năng suất, cải thiện chất lượng sản phẩm, giảm thiểu hao hụt sau thu hoạch và tối ưu hóa chi phí sản xuất.

Mở rộng quy mô và đa dạng hóa sản phẩm: Với nguồn vốn ổn định, HTX có thể mở rộng diện tích canh tác, chăn nuôi, xây dựng thêm nhà xưởng, phát triển các dòng sản phẩm mới có giá trị gia tăng cao (ví dụ: từ nông sản thô sang sản phẩm chế biến sẵn, đặc sản địa phương). Đây cũng là cơ hội để HTX phát triển các dịch vụ hỗ trợ thành viên như cung ứng vật tư, tiêu thụ sản phẩm.

Tăng cường khả năng cạnh tranh: Khi có đủ vốn để đầu tư vào công nghệ và mở rộng quy mô, sản phẩm của HTX sẽ có chất lượng đồng đều hơn, sản lượng ổn định hơn, từ đó dễ dàng đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh cả trong nước và xuất khẩu.

Nâng cao vị thế và vai trò của kinh tế tập thể

Tăng cường tự chủ tài chính: Khả năng tiếp cận nguồn vốn lớn hơn giúp HTX giảm sự phụ thuộc vào các nguồn vốn tự có hạn chế của thành viên hoặc các khoản hỗ trợ nhỏ lẻ từ ngân sách. Điều này thúc đẩy tính tự chủ, chủ động trong việc hoạch định và thực hiện các kế hoạch sản xuất kinh doanh dài hạn.

Củng cố vai trò liên kết của LHHTX: LHHTX, với năng lực vay đến 5 tỷ đồng, có thể đầu tư vào các dự án hạ tầng lớn phục vụ chung cho nhiều HTX thành viên (như trung tâm sơ chế, đóng gói tập trung, hệ thống kho bãi logistics, phòng thí nghiệm kiểm định chất lượng). Điều này củng cố vai trò trung tâm liên kết, hỗ trợ các HTX thành viên, tạo thành chuỗi giá trị mạnh mẽ hơn.

Nâng cao uy tín và tạo niềm tin: Việc một HTX/LHHTX được tổ chức tín dụng cho vay số tiền lớn là một minh chứng cho sự minh bạch trong quản lý, khả năng sinh lời của dự án và uy tín của đơn vị. Điều này không chỉ giúp HTX thu hút thêm thành viên mà còn tạo niềm tin cho các đối tác kinh doanh lớn, các nhà đầu tư tiềm năng.

Đóng góp vào phát triển kinh tế - xã hội bền vững

Tạo việc làm và cải thiện thu nhập: Đầu tư mở rộng sản xuất sẽ kéo theo nhu cầu về lao động, tạo thêm việc làm ổn định cho thành viên và người dân địa phương, đặc biệt là ở khu vực nông thôn, góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống.

Thúc đẩy liên kết sản xuất theo chuỗi: Khi HTX có đủ vốn để đầu tư vào quy trình sản xuất khép kín, ứng dụng công nghệ, sẽ thúc đẩy mạnh mẽ mô hình liên kết "4 nhà" (Nhà nước, nhà khoa học, nhà nông, nhà doanh nghiệp), hình thành các chuỗi giá trị bền vững từ sản xuất đến tiêu thụ.

Xây dựng nông thôn mới hiện đại: Sự phát triển mạnh mẽ của các HTX sẽ kéo theo sự phát triển của hạ tầng kinh tế - xã hội ở khu vực nông thôn, góp phần hiện thực hóa mục tiêu xây dựng nông thôn mới văn minh, giàu đẹp.

Mặc dù chính sách này mang tính đột phá, nhưng để nó thực sự đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả tối đa, vẫn còn nhiều thách thức cần được nhìn nhận và giải quyết.

Điều kiện tiếp cận vốn thực tế: Mặc dù hạn mức được nâng cao, các tổ chức tín dụng vẫn sẽ áp dụng các tiêu chí thẩm định chặt chẽ về phương án kinh doanh khả thi, khả năng trả nợ, và tài sản bảo đảm. Nhiều HTX quy mô nhỏ, hoạt động chưa chuyên nghiệp có thể vẫn gặp khó khăn trong việc đáp ứng các điều kiện này.

Năng lực quản trị, tài chính của HTX: Với khoản vay lớn, yêu cầu về năng lực quản lý tài chính, quản trị rủi ro, và hoạch định chiến lược của ban lãnh đạo HTX, LHHTX cần được nâng cao tương xứng. Nếu không, việc sử dụng vốn không hiệu quả có thể dẫn đến rủi ro nợ xấu và ảnh hưởng đến sự bền vững của HTX.

Cơ chế bảo lãnh tín dụng: Hiện tại, cơ chế bảo lãnh tín dụng cho các đối tượng HTX còn hạn chế, chưa thực sự phát huy hiệu quả. Điều này khiến các tổ chức tín dụng vẫn còn e ngại khi cho vay HTX.

Sự hiểu biết và linh hoạt từ phía ngân hàng: Các tổ chức tín dụng cần có sự hiểu biết sâu sắc về đặc thù hoạt động của HTX để xây dựng các sản phẩm tín dụng và quy trình thẩm định phù hợp, thay vì áp dụng cứng nhắc các tiêu chuẩn như đối với doanh nghiệp thông thường.

Cần có giải pháp đồng bộ hóa để chính sách đi vào cuộc sống

Nâng cao năng lực quản trị cho HTX, LHHTX: Đây là giải pháp cốt lõi. Nhà nước và Liên minh HTX các cấp cần tiếp tục đẩy mạnh các chương trình đào tạo, tập huấn chuyên sâu về quản trị kinh doanh, tài chính, kế toán, xây dựng phương án sản xuất kinh doanh khả thi cho cán bộ chủ chốt của HTX, LHHTX.

Hoàn thiện và phát huy hiệu quả cơ chế bảo lãnh tín dụng: Cần tăng cường nguồn lực cho Quỹ Bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, và các Quỹ Hỗ trợ phát triển HTX ở trung ương và địa phương. Đồng thời, xây dựng cơ chế bảo lãnh minh bạch, linh hoạt, giảm thiểu rủi ro cho các tổ chức tín dụng khi cho vay HTX.

Xây dựng các sản phẩm tín dụng đặc thù: Khuyến khích các tổ chức tín dụng, đặc biệt là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank) và Ngân hàng Chính sách xã hội, nghiên cứu và phát triển các gói sản phẩm tín dụng với lãi suất ưu đãi, thủ tục đơn giản, phù hợp với đặc thù sản xuất kinh doanh và khả năng thế chấp của HTX.

Phát triển các mô hình HTX kiểu mẫu: Đẩy mạnh nhân rộng các mô hình HTX kiểu mới, hoạt động hiệu quả, ứng dụng công nghệ cao, quản lý chuyên nghiệp để các HTX khác có thể học hỏi và làm theo, tạo niềm tin cho các tổ chức tín dụng.

Tăng cường vai trò tư vấn, hỗ trợ từ Liên minh HTX: Liên minh HTX các cấp cần phát huy hơn nữa vai trò cầu nối, cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý, tài chính, thị trường cho các HTX, giúp họ xây dựng hồ sơ vay vốn hiệu quả và kết nối với các tổ chức tín dụng...

Nghị định 156/2025/NĐ-CP với quy định về hạn mức vay tối đa 5 tỷ đồng là một chính sách đột phá, mở ra kỷ nguyên mới cho sự phát triển của HTX và LHHTX tại Việt Nam. Nó không chỉ cung cấp nguồn lực tài chính cần thiết mà còn thể hiện sự tin tưởng của Chính phủ vào tiềm năng và vai trò của kinh tế tập thể. Tuy nhiên, để "cửa vốn" thực sự rộng mở và phát huy hiệu quả tối đa, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa chính sách vĩ mô, nỗ lực nâng cao năng lực nội tại của bản thân các HTX/LHHTX và sự đồng hành, linh hoạt từ phía các tổ chức tín dụng. Khi những yếu tố này hội tụ, HTX và LHHTX sẽ thực sự trở thành những "tế bào" mạnh mẽ của nền kinh tế, đóng góp quan trọng vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng nông thôn mới bền vững./.

Bài liên quan

Liên kết hợp tác xã và doanh nghiệp để nâng tầm giá trị hoa Đà Lạt

Liên kết hợp tác xã và doanh nghiệp để nâng tầm giá trị hoa Đà Lạt

Với diện tích gieo trồng 12.610 ha, sản lượng khoảng 5,176 tỷ cành mỗi năm, ngành hoa Lâm Đồng có quy mô sản xuất lớn và đã khẳng định vị thế trong nông nghiệp công nghệ cao.
10 năm Chương trình FFF: Gắn phát triển rừng, sản xuất hữu cơ với sinh kế bền vững

10 năm Chương trình FFF: Gắn phát triển rừng, sản xuất hữu cơ với sinh kế bền vững

Hơn 20.000 người hưởng lợi, thu nhập thành viên tăng 15 - 30% là những kết quả nổi bật của Chương trình Hỗ trợ Rừng và Trang trại (FFF) tại Việt Nam. Hội thảo tổng kết 10 năm chương trình đặt trọng tâm vào nâng cao năng lực tổ chức của nông dân, phát triển sản xuất hữu cơ và kết nối nguồn lực cho sinh kế bền vững.
Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 2: Từ cánh đồng đến thị trường

Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 2: Từ cánh đồng đến thị trường

Một nền nông nghiệp có thể tạo ra hàng triệu tấn lương thực, thực phẩm mỗi năm nhưng vẫn còn những điểm nghẽn trên hành trình từ cánh đồng đến bàn ăn. Người sản xuất có thể làm ra sản phẩm nhưng chưa chắc có thị trường ổn định, doanh nghiệp có thể có đơn hàng nhưng chưa chắc có vùng nguyên liệu bền vững, sản phẩm có chất lượng nhưng vẫn có thể mất giá trị nếu bảo quản, chế biến và logistics chưa đáp ứng. Vì vậy, bài toán của hệ thống lương thực - thực phẩm không chỉ là “sản xuất được bao nhiêu”, mà còn là sản xuất như thế nào, kết nối ra sao và giá trị được tạo ra, phân bổ như thế nào trong toàn chuỗi.
Bắc Ninh đẩy mạnh kinh tế tập thể, mở rộng đầu ra nông sản

Bắc Ninh đẩy mạnh kinh tế tập thể, mở rộng đầu ra nông sản

Thực hiện Đề án “Hội Nông dân Việt Nam tham gia phát triển kinh tế tập thể trong nông nghiệp đến năm 2030”, các cấp Hội Nông dân thành phố Bắc Ninh tập trung củng cố hợp tác xã, tổ hợp tác và các tổ chức nghề nghiệp, đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số, xúc tiến thương mại nhằm mở rộng liên kết sản xuất và đầu ra cho nông sản.
Cần Thơ ban hành quy định mới về canh tác trên vùng hữu cơ

Cần Thơ ban hành quy định mới về canh tác trên vùng hữu cơ

Từ đất, nước, không khí, thời gian chuyển đổi đến vật tư đầu vào, phòng trừ sinh vật gây hại, thu hoạch, bảo quản và truy xuất nguồn gốc, từng khâu trong canh tác trên vùng hữu cơ tại Cần Thơ được quy định cụ thể.
Định danh điện tử đối với các tổ chức, doanh nghiệp và hợp tác xã

Định danh điện tử đối với các tổ chức, doanh nghiệp và hợp tác xã

Thành phố Hải Phòng tăng cường triển khai đồng bộ công tác định danh điện tử đối với các tổ chức, doanh nghiệp và hợp tác xã trên địa bàn, nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính và chuyển đổi số toàn diện.

CÁC TIN BÀI KHÁC

Ứng dụng công nghệ số trong quản lý sản xuất nông nghiệp hữu cơ và giải pháp phát triển bền vững

Ứng dụng công nghệ số trong quản lý sản xuất nông nghiệp hữu cơ và giải pháp phát triển bền vững

Nông nghiệp hữu cơ đối mặt nhiều thách thức về chi phí giám sát, rủi ro dịch bệnh và tính minh bạch. Việc ứng dụng công nghệ số như IoT, AI, Blockchain, Big Data và UAV tạo ra bước ngoặt giúp tối ưu hóa quản lý, kiểm soát tiêu chuẩn nghiêm ngặt và công khai chuỗi giá trị. Bài viết phân tích thực trạng, hạ tầng công nghệ, tác động kinh tế - sinh thái, rào cản cốt lõi và đề xuất giải pháp phát triển bền vững.
Nước tưới hoạt hóa bằng khoáng chất và ánh sáng mặt trời giúp năng suất cây trồng tăng tới hơn 100%

Nước tưới hoạt hóa bằng khoáng chất và ánh sáng mặt trời giúp năng suất cây trồng tăng tới hơn 100%

Các thử nghiệm đồng ruộng quy mô lớn trải dài từ Hắc Long Giang đến Hải Nam cho thấy nước tưới được xử lý bằng khoáng chất tự nhiên hoạt hóa dưới ánh nắng có thể nâng năng suất lúa tới 40,6%, mía 45,7% và khoai lang 109,5%, theo nhóm nhà khoa học thuộc Đại học Bắc Kinh.
Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 3: Từ nhận thức đến hành động

Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 3: Từ nhận thức đến hành động

Chuyển đổi hệ thống lương thực – thực phẩm không thể thành công nếu chỉ trông chờ vào một chính sách, một ngành, một doanh nghiệp hay một nhóm người. Việt Nam đã có Kế hoạch hành động quốc gia theo Quyết định 300/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, nhưng trong quá trình thực hiện vẫn gặp những khó khăn về nguồn lực, hướng dẫn, dữ liệu và năng lực của các bên. Điều quan trọng lúc này là biến mục tiêu lớn thành những việc cụ thể, để Nhà nước, địa phương, người sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp, nhà khoa học, truyền thông và người tiêu dùng cùng tạo ra thay đổi. Chuyển đổi chỉ thực sự xảy ra khi mỗi mắt xích nhận rõ trách nhiệm và cùng hành động.
Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 2: Từ cánh đồng đến thị trường

Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 2: Từ cánh đồng đến thị trường

Một nền nông nghiệp có thể tạo ra hàng triệu tấn lương thực, thực phẩm mỗi năm nhưng vẫn còn những điểm nghẽn trên hành trình từ cánh đồng đến bàn ăn. Người sản xuất có thể làm ra sản phẩm nhưng chưa chắc có thị trường ổn định, doanh nghiệp có thể có đơn hàng nhưng chưa chắc có vùng nguyên liệu bền vững, sản phẩm có chất lượng nhưng vẫn có thể mất giá trị nếu bảo quản, chế biến và logistics chưa đáp ứng. Vì vậy, bài toán của hệ thống lương thực - thực phẩm không chỉ là “sản xuất được bao nhiêu”, mà còn là sản xuất như thế nào, kết nối ra sao và giá trị được tạo ra, phân bổ như thế nào trong toàn chuỗi.
Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 1: Từ bàn ăn nhìn ra cả hệ thống

Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 1: Từ bàn ăn nhìn ra cả hệ thống

Mỗi ngày, một bữa cơm gia đình bắt đầu từ những điều rất quen thuộc: Hạt gạo, bó rau, con cá, quả trứng hay miếng thịt. Nhưng để những thực phẩm ấy xuất hiện trên bàn ăn là cả một hành trình dài, với sự tham gia của người sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp, nhà khoa học, cơ quan quản lý, hệ thống phân phối và chính người tiêu dùng. Phía sau mỗi món ăn còn là đất, nước, lao động, công nghệ, thị trường, chính sách và môi trường. Hiểu được hành trình ấy chính là bước đầu tiên để mỗi người nhận ra mình đang ở đâu và có thể làm gì để cùng xây dựng một hệ thống lương thực - thực phẩm minh bạch, trách nhiệm và bền vững.
Khả năng hấp thụ carbon của hệ thống nông nghiệp hữu cơ

Khả năng hấp thụ carbon của hệ thống nông nghiệp hữu cơ

Nông nghiệp hữu cơ đang mở ra hướng tiếp cận mới trong ứng phó biến đổi khí hậu khi không chỉ giảm phụ thuộc vào vật tư hóa học mà còn góp phần gia tăng carbon trong đất. Thông qua đa dạng hóa cây trồng, sử dụng phân hữu cơ, cây che phủ, luân canh và giảm làm đất, hệ thống này có thể nâng cao khả năng lưu giữ carbon, cải thiện sức khỏe đất và phát triển nông nghiệp bền vững.
Phát triển nông nghiệp sinh thái: Từ mô hình riêng lẻ đến chuyển đổi cả hệ thống

Phát triển nông nghiệp sinh thái: Từ mô hình riêng lẻ đến chuyển đổi cả hệ thống

Chuyển đổi sang nông nghiệp sinh thái, xanh, tuần hoàn cần được thực hiện đồng bộ từ tổ chức sản xuất, ứng dụng khoa học công nghệ đến liên kết thị trường và chia sẻ lợi ích. Tại hội thảo khoa học tổ chức ngày 30/9 ở Ninh Bình, các nhà quản lý, chuyên gia, doanh nghiệp và hợp tác xã nhấn mạnh yêu cầu để người nông dân được hưởng lợi xứng đáng từ những giá trị sinh thái mà họ tạo ra.
AOLC 2026: Lan tỏa những sáng kiến nông nghiệp sinh thái và hữu cơ

AOLC 2026: Lan tỏa những sáng kiến nông nghiệp sinh thái và hữu cơ

Ngày 30/9, tại Hà Nội, Khóa tập huấn Lãnh đạo Nông nghiệp Sinh thái và Hữu cơ năm 2026 (AOLC 2026) chính thức bế mạc, ghi nhận 27 học viên hoàn thành chương trình và vinh danh bốn đề án phát triển tiêu biểu. Từ những sáng kiến về thực phẩm học đường, sinh kế cộng đồng đến kết nối thị trường, khóa học mở ra kỳ vọng lan tỏa các thực hành nông nghiệp sinh thái, hữu cơ vào đời sống.
Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tiêu dùng thực phẩm hữu cơ

Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tiêu dùng thực phẩm hữu cơ

Quyết định tiêu dùng thực phẩm hữu cơ không chỉ chịu tác động bởi nhận thức về sức khỏe và an toàn thực phẩm mà còn liên quan đến giá cả, chất lượng, niềm tin, kiến thức, khả năng tiếp cận và các chuẩn mực xã hội. Việc nhận diện đầy đủ những yếu tố này có ý nghĩa quan trọng trong xây dựng chính sách, phát triển thị trường và thúc đẩy tiêu dùng thực phẩm hữu cơ bền vững tại Việt Nam.
Cần Thơ ban hành quy định mới về canh tác trên vùng hữu cơ

Cần Thơ ban hành quy định mới về canh tác trên vùng hữu cơ

Từ đất, nước, không khí, thời gian chuyển đổi đến vật tư đầu vào, phòng trừ sinh vật gây hại, thu hoạch, bảo quản và truy xuất nguồn gốc, từng khâu trong canh tác trên vùng hữu cơ tại Cần Thơ được quy định cụ thể.
Vai trò của Hợp tác xã trong phát triển nông nghiệp hữu cơ bền vững

Vai trò của Hợp tác xã trong phát triển nông nghiệp hữu cơ bền vững

Trong quá trình chuyển đổi sang nền nông nghiệp sinh thái, tuần hoàn và bền vững, hợp tác xã ngày càng giữ vai trò kết nối quan trọng giữa nông dân, doanh nghiệp và thị trường. Tổ chức sản xuất theo tiêu chuẩn, hỗ trợ kỹ thuật, xây dựng thương hiệu và liên kết chuỗi giá trị giúp nông nghiệp hữu cơ nâng cao giá trị, sức cạnh tranh.
Khẳng định vai trò khuyến nông trong canh tác lúa phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh

Khẳng định vai trò khuyến nông trong canh tác lúa phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh

Ngày 22/9, tại Nghệ An, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường Nghệ An tổ chức Diễn đàn Khuyến nông Nông nghiệp với chủ đề “Giải pháp nhân rộng mô hình canh tác lúa phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh”.
XEM THÊM
dam-ca-mau-chi-vi-hoa
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2026 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính