![]() |
| Nghị quyết số 85/NQ-CP tiếp tục nhấn mạnh định hướng phát triển nông nghiệp sinh thái, khuyến khích nông nghiệp xanh, hữu cơ, tuần hoàn, gắn với nâng cao giá trị gia tăng, bảo vệ môi trường và cải thiện đời sống người dân nông thôn. |
Cụ thể, ngày 04/4/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 85/NQ-CP về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Kết luận số 219-KL/TW, ngày 26/11/2025 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Chính phủ quyết nghị để thực hiện Kết luận số 219-TW/KL, ngày 26 tháng 11 năm 2025 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16 tháng 6 năm 2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (gọi tắt là Nghị quyết số 19-NQ/TW và Kết luận số 219-KL/TW).
Đáng chú ý, trong định hướng cơ cấu lại ngành nông nghiệp giai đoạn 2026 - 2030, Chương trình hành động của Chính phủ đã mở rộng hơn không gian phát triển cho nông nghiệp hữu cơ khi nhấn mạnh yêu cầu phát triển nền nông nghiệp sinh thái, hiệu quả, bền vững, minh bạch và có trách nhiệm, đồng thời khuyến khích phát triển nông nghiệp xanh, hữu cơ, tuần hoàn. Đây không chỉ là định hướng về phương thức sản xuất, mà còn là cơ sở để nâng cao giá trị gia tăng của nông sản, đáp ứng tốt hơn các tiêu chuẩn quốc tế, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và tạo thêm động lực để hợp tác xã, doanh nghiệp, người nông dân tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị nông nghiệp bền vững.
Chương trình đồng thời nhấn mạnh cần nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, toàn xã hội đối với vai trò nền tảng, vị trí chiến lược lâu dài của nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Mục tiêu không chỉ dừng ở phát triển sản xuất, mà còn là phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế của từng vùng, từng địa phương; gắn phát triển nông nghiệp với phát triển đô thị, với tổ chức bộ máy chính quyền địa phương 2 cấp vận hành hiệu quả, qua đó tạo nền tảng đưa đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới theo hướng thịnh vượng, giàu mạnh.
Theo định hướng được đặt ra, đến năm 2030, Việt Nam hướng tới xây dựng nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa hiện đại, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và tính bền vững cao, đủ sức cạnh tranh trong nhóm dẫn đầu Đông Nam Á và top 15 thế giới. Cùng với đó là yêu cầu bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia, duy trì đà tăng trưởng cao của xuất khẩu nông sản, khẳng định người nông dân là chủ thể, là trung tâm của quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp. Mục tiêu cuối cùng là xây dựng nông thôn mới hiện đại, giàu đẹp, giàu bản sắc và bền vững, đồng thời chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm phát thải khí nhà kính, sử dụng tài nguyên hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả và ngăn chặn xu hướng gia tăng ô nhiễm môi trường, hướng tới nền kinh tế xanh, thân thiện với môi trường.
Tạo đà mới cho tam nông trong giai đoạn phát triển mới
Một trong những nhóm giải pháp đầu tiên được nhấn mạnh là đổi mới công tác truyền thông, thống nhất nhận thức và hành động về nông nghiệp, nông dân, nông thôn gắn với bảo vệ môi trường, quản lý và sử dụng hiệu quả tài nguyên. Chính phủ yêu cầu tăng cường tuyên truyền sâu rộng về vị trí, vai trò và đóng góp của nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong tiến trình phát triển đất nước; đồng thời đổi mới phương thức truyền thông để thúc đẩy chuyển mạnh tư duy từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp. Các chủ trương, mục tiêu, định hướng mới phải được cập nhật, phổ biến tới cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, địa phương, doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân; song song với đó là đẩy mạnh lan tỏa các mô hình sản xuất - kinh doanh hiệu quả, gương nông dân tiêu biểu, nông thôn tiêu biểu, đồng thời khắc phục tình trạng thông tin thiếu chính xác gây tác động tiêu cực tới tâm lý người tiêu dùng và hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Về thể chế, Chính phủ yêu cầu rà soát, hoàn thiện đồng bộ các cơ chế, chính sách liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường để tạo động lực mới cho phát triển. Một yêu cầu lớn được đặt ra là phân định rõ vai trò của chính quyền địa phương các cấp, tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, đồng thời nâng cao trách nhiệm, tính chủ động và năng lực tổ chức thực hiện ở cơ sở. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường sẽ được rà soát toàn diện, sửa đổi, bổ sung để bảo đảm thống nhất, đồng bộ, phù hợp với tổ chức bộ máy mới sau sáp nhập, hợp nhất. Trong năm 2026, dự kiến sẽ xây dựng 2 dự án luật gồm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường và Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo thay thế.
Cùng với đó, Chính phủ đặt ra yêu cầu tiếp tục tháo gỡ các điểm nghẽn về vốn, đất đai, công nghệ, cũng như xử lý tình trạng chồng chéo trong chính sách pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, định mức kinh tế - kỹ thuật. Nhiều cơ chế về thuế, bảo hiểm nông nghiệp, đất đai, đầu tư sẽ được nghiên cứu sửa đổi để hỗ trợ tối đa cho hợp tác xã, doanh nghiệp và người dân phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung, quy mô lớn; đầu tư kho bãi, logistics nhằm hạn chế nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng nông sản, thủy sản. Nhà nước cũng tính tới các chính sách hỗ trợ để doanh nghiệp, người dân yên tâm sản xuất trong bối cảnh thị trường biến động, đồng thời hoàn thiện cơ chế cho phát triển kinh tế nông nghiệp số, nông nghiệp tuần hoàn, các dự án xanh và đầu tư vào những ngành kinh tế thân thiện với môi trường.
Thêm lực đẩy cho nông nghiệp xanh, hữu cơ, bền vững
Trong định hướng phát triển ngành, nhiệm vụ trọng tâm là cơ cấu lại nông nghiệp theo hướng thực chất, hiệu quả, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng trên nền tảng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo. Sản xuất nông nghiệp hàng hóa sẽ được thúc đẩy theo hướng chuyển từ nông sản giá trị thấp sang nông sản giá trị cao; chuyển đổi những vùng lúa năng suất thấp, canh tác một vụ sang cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao hơn; đồng thời hình thành các vùng nguyên liệu lớn, bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu, phát thải thấp cho những sản phẩm chủ lực cấp quốc gia và cấp tỉnh. Điểm đáng chú ý là chương trình hành động nhấn mạnh phát triển nông nghiệp sinh thái, hiệu quả, bền vững, minh bạch và có trách nhiệm; khuyến khích phát triển nông nghiệp xanh, hữu cơ, tuần hoàn; chú trọng sản xuất hàng hóa quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao, chế biến và khai thác theo hướng thích ứng với biến đổi khí hậu, đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế và phát huy tối đa lợi thế từng vùng, từng địa phương.
Tổ chức sản xuất cũng sẽ được sắp xếp lại theo vùng chuyên canh, gắn với chỉ dẫn địa lý, truy xuất nguồn gốc, mã số vùng trồng, vùng nuôi để đáp ứng yêu cầu thị trường. Song song với đó là chuyển đổi hệ thống lương thực, thực phẩm theo hướng xanh, ít phát thải và bền vững thông qua thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo trong sản xuất. Trong thủy sản, định hướng lớn là phát triển mạnh nuôi biển, khai thác hải sản bền vững, đồng thời tập trung giải quyết dứt điểm các khuyến nghị của EC để gỡ “thẻ vàng”, ngăn chặn và xử lý nghiêm tàu cá khai thác trái phép ngoài vùng biển Việt Nam.
Kinh tế tập thể và hợp tác xã tiếp tục được xác định là trụ cột quan trọng trong tổ chức lại sản xuất nông nghiệp. Chính phủ yêu cầu tiếp tục củng cố, phát triển hợp tác xã hiệu quả, hiện đại, gắn với chuỗi giá trị và sinh kế bền vững ở nông thôn; ưu tiên hỗ trợ hợp tác xã nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, chuyển đổi số, liên kết sản xuất - tiêu thụ với doanh nghiệp và tham gia xây dựng vùng nguyên liệu tập trung. Đây cũng là nền tảng để tăng sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam, đồng thời thúc đẩy các hình thức hợp tác mới trong nông nghiệp.
Về khoa học công nghệ, chương trình hành động yêu cầu triển khai đồng bộ và hiệu quả Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Cùng với việc cắt giảm triệt để các điều kiện, thủ tục hành chính đang là rào cản cho phát triển khoa học công nghệ, ngành nông nghiệp sẽ tổ chức lại hệ thống đơn vị sự nghiệp khoa học công nghệ theo hướng tinh gọn, hiệu quả, tự chủ thực chất và tăng năng lực kết nối với doanh nghiệp để thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu. Định hướng này cũng đi kèm với việc tập trung đào tạo, phát triển và thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, trọng dụng các nhà khoa học trong khối tư nhân, các nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia quốc tế, hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh, nhất là trong các lĩnh vực có tiềm năng đột phá như công nghệ sinh học, trí tuệ nhân tạo, công nghệ viễn thám, thăm dò địa chất và khoáng sản.
Chuyển đổi số toàn diện, thực chất cũng là một nhiệm vụ xuyên suốt. Chính phủ yêu cầu xây dựng các nền tảng quản trị dữ liệu dùng chung, dữ liệu lớn, đồng bộ về đất đai, tài nguyên nước, rừng, khí tượng thủy văn, đa dạng sinh học, bản đồ số chuyên ngành, cùng các hệ thống dự báo, cảnh báo thông minh. Việc giám sát sớm nguy cơ đối với môi trường nuôi trồng, dịch bệnh, cháy rừng phải được tăng cường để chủ động phòng ngừa, phản ứng nhanh và xử lý kịp thời các tình huống phát sinh trên cây trồng, vật nuôi, thủy sản cũng như trong bảo vệ rừng. Bên cạnh đó, Nhà nước sẽ hỗ trợ kết nối, chế biến, tiêu thụ nông sản trong nước; chủ động có giải pháp khắc phục tình trạng dư thừa, giảm giá gây thiệt hại cho người sản xuất; phối hợp với các địa phương hỗ trợ tiêu thụ nông sản chính vụ, đẩy mạnh kết nối thu mua qua hệ thống siêu thị, tổ chức các diễn đàn xúc tiến tiêu thụ, đồng thời tăng cường xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu chứng nhận, chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm nông nghiệp thế mạnh ở địa phương và quốc gia.
Một trục lớn khác của chương trình là nâng cao vai trò, vị thế, năng lực làm chủ và cải thiện toàn diện đời sống nông dân, cư dân nông thôn. Theo đó, lực lượng lao động nông nghiệp sẽ được đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn để hình thành đội ngũ nông dân chuyên nghiệp, có tri thức, tay nghề cao, đáp ứng yêu cầu của nông nghiệp thông minh, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp xanh, bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu. Chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn và lao động nghèo khu vực đô thị cũng sẽ được đổi mới toàn diện. Việc phát triển nguồn nhân lực nông nghiệp, nông thôn phải gắn chặt với quá trình đô thị hóa thực chất, hiệu quả, đi vào chiều sâu, lấy cư dân nông thôn làm chủ thể, qua đó tạo ra chuyển biến rõ nét hơn về chuyển đổi nghề nghiệp, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân.
Song song với đào tạo là phát triển thị trường lao động khu vực nông thôn theo hướng hiện đại, linh hoạt, đồng bộ. Hệ thống thông tin thị trường lao động sẽ được tăng cường kết nối theo địa bàn cấp tỉnh, vùng và trên phạm vi cả nước; các hoạt động giao dịch việc làm, kết nối cung - cầu lao động tại chỗ, trong tỉnh và ngoài tỉnh sẽ được đẩy mạnh. Chính sách tạo việc làm, chuyển đổi việc làm bền vững tại nông thôn tiếp tục ưu tiên cho hộ nghèo, cận nghèo và mới thoát nghèo, qua đó tạo nền tảng vững chắc hơn cho an sinh và sinh kế bền vững ở khu vực nông thôn.
Đối với nông thôn, định hướng phát triển được đặt ra là hiện đại, thông minh, gắn chặt với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Chương trình hành động yêu cầu bảo đảm sự hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái; kết hợp chặt chẽ giữa đầu tư hạ tầng, nâng cao chất lượng đời sống và giữ gìn bản sắc văn hóa. Việc giảm nghèo đa chiều, bao trùm, bảo đảm an sinh xã hội, bình đẳng giới, nâng cao chất lượng sống và khả năng tiếp cận dịch vụ cơ bản cho người dân tiếp tục là nhiệm vụ trọng tâm. Đặc biệt, chương trình nhấn mạnh phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi; thu hẹp chênh lệch phát triển giữa các vùng, các nhóm dân cư; củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc thiểu số.
Các chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2035 sẽ tiếp tục được triển khai hiệu quả. Nhà nước cũng định hướng xây dựng các mô hình phân bố dân cư phù hợp với điều kiện sinh thái, văn hóa, dân tộc của từng vùng, đồng thời đẩy mạnh phát triển công nghiệp, dịch vụ và ngành nghề nông thôn. Tại các khu vực thường xuyên chịu tác động của thiên tai, bão lũ, sạt lở đất, việc bố trí lại khu dân cư và hỗ trợ phát triển nhà ở cho người dân được xác định là nhiệm vụ cần ưu tiên. Bên cạnh đó, nguồn nhân lực và quản trị hợp tác xã sẽ được đào tạo theo hướng chuyên nghiệp, số hóa; hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về hợp tác xã và chuỗi giá trị nông sản sẽ được xây dựng và vận hành để làm nền tảng cho tích hợp điều hành và giám sát chính sách.
Chung tay đưa nghị quyết vào cuộc sống
Hạ tầng nông nghiệp, nông thôn, tài nguyên và môi trường cũng được đặt trong yêu cầu phải hoàn thiện đồng bộ, hiện đại, với sự tham gia của cả ngân sách nhà nước lẫn nguồn lực xã hội. Trọng tâm gồm phát triển thủy lợi đa mục tiêu; xây dựng, nâng cấp, sửa chữa công trình đê điều, phòng chống thiên tai và thích ứng biến đổi khí hậu; ứng dụng công nghệ để quản lý, sử dụng nước hiệu quả và quản trị tài nguyên nước trên nền tảng số. Ở lĩnh vực thủy sản, sẽ tiếp tục phát triển hệ thống cảng cá, khu neo đậu, cơ sở hạ tầng trên bờ và hạ tầng phục vụ nuôi biển. Trong lâm nghiệp, yêu cầu là đầu tư hạ tầng bảo vệ và phát triển rừng; cùng với đó là phát triển hạ tầng cho chuỗi cung ứng lạnh, bảo quản và chế biến.
Nhà nước cũng sẽ tăng cường đầu tư cho hệ thống điều tra cơ bản, giám sát, quan trắc tài nguyên đất, nước, khoáng sản, khí tượng thủy văn, biển và hải đảo; phát triển cơ sở dữ liệu tài nguyên đồng bộ, thống nhất để phục vụ chuyển đổi số quốc gia; chú trọng hạ tầng kỹ thuật phục vụ quản lý, giám sát biến đổi khí hậu, nước biển dâng, sạt lở bờ sông, bờ biển. Việc tổng hợp các nguồn lực tài nguyên, đặc biệt là đất đai, rừng, biển, nước thành giá trị vật chất, hạ tầng và tài chính cho phát triển ngành cũng được xem là nhiệm vụ quan trọng nhằm đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng cao của cả nước trong giai đoạn 2026 - 2030 và những năm tiếp theo. Cùng với đó là đầu tư cho các công trình, dự án có tính chất phòng ngừa, kiểm soát và xử lý ô nhiễm môi trường liên vùng, liên tỉnh; các hạ tầng phân tích, xử lý dữ liệu, mô hình hóa phục vụ cảnh báo, dự báo chất lượng môi trường; hệ thống quan trắc, viễn thám và các trung tâm ứng cứu, xử lý sự cố môi trường trọng điểm.
Ở góc độ quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, chương trình hành động nhấn mạnh yêu cầu nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng tài nguyên, tăng khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu. Việt Nam sẽ tập trung xây dựng và triển khai Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) giai đoạn 2026 - 2035; đẩy mạnh thực hiện Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, cùng với các kế hoạch hành động quốc gia về giảm phát thải khí nhà kính, bảo vệ tầng ô-dôn và thích ứng với biến đổi khí hậu. Quản lý đất đai, tài nguyên nước, khoáng sản sẽ được thực hiện chặt chẽ hơn theo nguyên tắc thị trường; hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách sẽ được hoàn thiện theo hướng đồng bộ, minh bạch để vốn hóa nguồn lực tài nguyên, phân bổ hợp lý và sử dụng hiệu quả. Cùng với đó là phát triển thị trường, thúc đẩy thương mại hóa quyền sử dụng đất, tăng cường đăng ký quyền sử dụng đất và áp dụng định giá đất theo thị trường theo hướng công khai, minh bạch.
An ninh nguồn nước, an toàn hồ đập và ngăn chặn suy giảm tài nguyên nước tiếp tục là những yêu cầu trọng tâm. Việc tích nước, điều tiết, quản lý, khai thác và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn nước phải phục vụ thiết thực cho phát triển kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân. Hệ thống thủy lợi sẽ được quản lý, vận hành theo hướng đa mục tiêu, gắn với chuyển đổi số và vận hành thông minh để khai thác tối đa hiệu quả của công trình. Đồng thời, chất lượng đánh giá tác động môi trường và đánh giá môi trường chiến lược phải được nâng lên, qua đó từng bước cải thiện rõ rệt tình trạng ô nhiễm tại đô thị, cụm công nghiệp, làng nghề, lưu vực sông và khu vực nông thôn.
Chương trình cũng đặt mục tiêu phục hồi rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn, các hệ sinh thái sông, hồ, nguồn nước ngầm; kiểm soát ô nhiễm; phát triển giá trị đa dụng của hệ sinh thái rừng, nâng cao năng suất, chất lượng rừng và giá trị gia tăng cho sản phẩm lâm nghiệp. Các chương trình phục hồi rừng ngập mặn, rừng đầu nguồn, đất ngập nước sẽ được ưu tiên đầu tư. Song song là định hướng phát triển “hạ tầng xanh”, xây dựng “hệ sinh thái tự nhiên chống chịu” với thiên tai, đặc biệt tại Đồng bằng sông Cửu Long, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên và khu vực ven biển. Chính phủ cũng yêu cầu xử lý dứt điểm các điểm nóng ô nhiễm tại các đô thị lớn, khu công nghiệp, làng nghề, các dòng sông; ngăn chặn các nguồn gây ô nhiễm mới; đồng thời tích hợp các tiêu chuẩn môi trường vào quy hoạch và phát triển bền vững, thực hiện cơ chế “người gây ô nhiễm phải trả tiền” và “trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất” (EPR).
Về tổ chức thực hiện, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và UBND các tỉnh, thành phố phải căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao để xây dựng và ban hành kế hoạch thực hiện chương trình hành động; đồng thời tập trung vào những nhiệm vụ trọng tâm được giao trong phụ lục kèm theo, tổ chức sơ kết, tổng kết và định kỳ hằng năm báo cáo kết quả về Bộ Nông nghiệp và Môi trường trước ngày 31/12 để tổng hợp. Bộ Nông nghiệp và Môi trường là cơ quan đầu mối, chịu trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương theo dõi, đôn đốc việc triển khai; kịp thời báo cáo, kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý những vấn đề phát sinh, bảo đảm chương trình hành động được thực hiện đồng bộ, hiệu quả. Đồng thời, bộ này cũng có trách nhiệm tham mưu Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phối hợp với Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương trong hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, giám sát thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW và Kết luận số 219-KL/TW.
Chính phủ cũng đề nghị Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương tăng cường vận động hội viên, đoàn viên và nhân dân tích cực hưởng ứng, tham gia, giám sát, phản biện xã hội trong quá trình thực hiện. Kinh phí thực hiện sẽ được bố trí từ ngân sách nhà nước theo phân cấp hiện hành và huy động thêm từ các nguồn tài chính hợp pháp khác. Trong quá trình triển khai, nếu phát sinh yêu cầu sửa đổi, bổ sung nội dung cụ thể của chương trình, các bộ, ngành, địa phương sẽ gửi kiến nghị về Bộ Nông nghiệp và Môi trường để tổng hợp, báo cáo Chính phủ xem xét, quyết định.
Nông nghiệp hữu cơ đang trở thành một hướng đi chiến lược, không chỉ góp phần bảo vệ môi trường mà còn mở ra cơ ... |
Việt Nam đã và đang bước vào kỷ nguyên vươn mình. Đối với nông nghiệp, nông thôn, nông dân, dự thảo Văn kiện Đại hội ... |
Chương trình hành động số 12-CTr/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Nghệ An xác định 7 nhóm nhiệm vụ trọng tâm; đặt nông nghiệp, ... |