ki-niem-15-voaa
Chủ nhật 19/07/2026 07:34Chủ nhật 19/07/2026 07:34 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Khẳng định uy tín và chất lượng của chè “made in Vietnam” trên trường quốc tế

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Chủ tịch Hiệp hội Chè Việt Nam, Ông Hoàng Vĩnh Long cho biết, sản xuất và xuất khẩu chè của Việt Nam đứng thứ 5 trên thế giới. Ngành chè nước ta có trên 1,5 triệu người trực tiếp tham gia trồng và sản xuất chè và khoảng 2,5 triệu người gián tiếp tham gia vào quá trình sản xuất, chế biến và tiêu thụ chè.
Tính đến năm 2024, cả nước có trên 120 ngàn ha chè, được trồng tại 34 tỉnh thành với sản lượng hàng năm đạt hơn 1,2 triệu tấn chè búp tươi, tập trung chủ yếu ở khu vực Miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên…
Tính đến năm 2024, cả nước có trên 120 ngàn ha chè, được trồng tại 34 tỉnh thành với sản lượng hàng năm đạt hơn 1,2 triệu tấn chè búp tươi, tập trung chủ yếu ở khu vực Miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên…

Theo đánh giá của các chuyên gia và người tiêu dùng quốc tế thì chất lượng sản phẩm chè Việt Nam không thua kém bất kỳ quốc gia sản xuất chè nào trên thế giới. Đặc biệt là chè xanh Việt Nam được rất nhiều khách hàng đánh giá cao như chè xanh Mộc Châu, Thái Nguyên, Suối Giàng, Hà Giang, Oolong Lâm Đồng, các sản phẩm chè ướp hương sen, nhài... Tuy nhiên có một điều đáng tiếc là các sản phẩm nổi tiếng này khi xuất khẩu ra nước ngoài đến tay người tiêu dùng phần lớn lại không mang thương hiệu chè Việt Nam. Nguyên nhân chính là do khâu quảng bá của chúng ta rất hạn chế, thông tin sản phẩm chưa đến tay người tiêu dùng.

Thực tại ngành chè Việt Nam đã và đang phát triển theo hướng bền vững đã có rất nhiều các đơn vị áp dụng sản xuất theo các chứng nhận quốc tế và hầu hết các đơn vị sản xuất đã nhận thức và nắm bắt được xu hướng tiêu dùng cũng như khó khăn thách thức về các rào cản kỹ thuật mà các thị trường nhập khẩu áp dụng. Mặt khác tại thị trường nội tiêu sản lượng tiêu dùng sản phẩm ngày càng tăng, người tiêu dùng lựa chọn những sản phẩm có chất lượng tốt uy tín và có nguồn gốc rõ ràng đảm bảo sức khỏe người tiêu dùng.

Điểm mạnh của Việt Nam là thổ nhưỡng khí hậu rất phù hợp với sự phát triển của cây chè, Việt nam có nhiều vùng chè đặc sản, chất lượng cao như thái Nguyên, Sơn La, Lâm Đồng. Đặc biệt Việt Nam còn sở hữu gần 20 ngàn ha chè Shan rừng. Nhiều vùng chè Shan cổ thụ hàng trăm năm tuổi cho chất lượng cao như Suối Giàng Yên Bái, Hà Giang, Tà Xùa - Sơn La..

Phát biểu tại diễn đàn “Kết nối sản xuất và tiêu thụ chè chất lượng cao”, tổ chức ngày 5/11/2024, Ông Hoàng Vĩnh Long, Chủ tịch Hiệp hội Chè Việt Nam cho biết: Việt Nam là một nước sản xuất và xuất khẩu chè đứng thứ 5 trên thế giới. Ngành chè nước ta có trên 1,5 triệu người trực tiếp tham gia trồng và sản xuất chè và khoảng 2,5 triệu người gián tiếp tham gia vào quá trình sản xuất, chế biến và tiêu thụ chè. Chè nước ta được xuất đến trên 70 quốc gia vùng lãnh thổ nhưng giá chè xuất khẩu bình quân chỉ bằng 65% giá bình quân của các nước hàng đầu về xuất khẩu chè và chỉ bằng 55% giá chè xuất khẩu bình quân của Ấn Độ và Sri Lanka. Mặc dù với sản lượng và số lượng xuất khẩu lớn nhưng giá trị thu được của mặt hàng này chưa cao, tính cạnh tranh của mặt hàng còn thấp, giá cả sản phẩm không ổn định trên thị trường quốc tế và vẫn còn phụ thuộc vào một số thị trường chính.

Theo Hiệp hội Chè Việt Nam nhận định, ngành chè Việt Nam đang phát triển theo hướng bền vững với nhiều đơn vị sản xuất áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế. Đa số các doanh nghiệp chè hiện nay đều ý thức và nắm bắt được xu hướng tiêu dùng cũng như thách thức từ các rào cản kỹ thuật ở thị trường nhập khẩu. Đồng thời, thị trường nội địa cũng ghi nhận sản lượng tiêu dùng ngày càng tăng khi người tiêu dùng ngày càng ưu tiên sản phẩm có chất lượng, uy tín và nguồn gốc rõ ràng.

Trong thời gian qua, Hiệp hội chè Việt Nam và các tỉnh cũng đã quan tâm và có nhiều chính sách hỗ trợ phát triển và xây dựng thương hiệu cho sản phẩm chè Việt Nam cũng như của từng địa phương. Cụ thể như, Xây dựng nhãn hiệu chè Việt Nam, được đăng ký trên 77 quốc gia và vùng lãnh thổ; Nhãn hiệu tập thể chè shan tuyết vùng cao (Snowshan), được đăng ký ở 17 quốc gia; Xây dựng các phim giới thiệu về các vùng chè Việt Nam; Tổ chức các chương trình xúc tiến thương mại trong nước và quốc tế;...

Bên cạnh những địa phương và đơn vị đã và đang thực hiện tốt việc xây dựng uy tín cho người tiêu dùng và khách hàng trong và ngoài nước thì ngành chè vẫn còn phần lớn các doanh nghiệp và hợp tác xã chưa thực sự quan tâm đến việc nâng cao chất lượng sản phẩm, sản xuất vẫn chạy theo số lượng, giá rẻ, không liên kết sản xuất hoặc liên kết hình thức và thiếu kiểm soát về an toàn thực phẩm.

Thực trạng liên kết yếu, nếu không muốn nói tiêu cực hơn là dìm nhau, phá nhau dẫn đến vấn đề nội tại của ngành chè là cạnh tranh nội bộ không lành mạnh từ nguyên liệu đầu vào đến giá bán sản phẩm. Quy hoạch, quản lý cũng đang có vấn đề, hạn chế khi nhà máy chế biến không gắn với vùng nguyên liệu. Số lượng và công suất chế biến của các cơ sở chế biến lớn hơn nhiều so với khả năng đáp ứng nguyên liệu. Cả nước có trên 80% diện tích chè phân tán trong các hộ nông dân, manh mún, nhỏ lẻ. Việc áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật vào canh tác còn thấp. Chưa phát huy tiềm năng lợi thế về đất đai, khí hậu, lao động. Đầu tư thấp, chất lượng nguyên liệu thấp, giá trị thấp, chưa kiểm soát được an toàn thực phẩm.

Việt Nam là quốc gia có nhiều tiềm năng lợi thế về trồng chè và có nhiều vùng chè đặc sản chất lượng tốt đang được khách hàng trong và ngoài nước biết đến.

Liên kết sản xuất theo chuỗi sản phẩm là chìa khóa để xây dựng thương hiệu. Kinh nghiệm ngành chè thế giới đã chứng minh là các cơ sở chế biến phải gắn kết chặt chẽ với một vùng nguyên liệu cụ thể trong một tổ chức, được điều phối tập trung thống nhất tạo ra các chuỗi giá trị gia tăng cao dựa trên nền tảng liên kết nông - công nghiệp thì sẽ phát triển bền vững, ví dụ như Kenya.

Kinh nghiệm của các địa phương có chè, hoặc có doanh nghiệp chè phát triển là do chính quyền địa phương đã tạo cơ hội để các doanh nghiệp chè duy trì được liên kết chặt chẽ giữa sản xuất nông nghiệp và chế biến, phân vùng nguyên liệu cụ thể cho từng cơ sở chế biến. Doanh nghiệp và người trồng chè phải cùng có trách nhiệm đến sản phẩm cuối cùng, cùng xây dựng thương hiệu và cùng được hưởng lợi từ sản phẩm đem lại. Doanh nghiệp hỗ trợ người dân, người dân có trách nhiệm với doanh nghiệp.

Ông Hoàng Vĩnh Long, Chủ tịch Hiệp hội Chè Việt Nam.
Ông Hoàng Vĩnh Long, Chủ tịch Hiệp hội Chè Việt Nam.

Ông Hoàng Vĩnh Long, Chủ tịch Hiệp hội Chè Việt Nam cho biết: Thực tế hiện nay, ngành chè Việt Nam đang đứng trước nhiều thách thức trên con đường phát triển. Để ngành chè vượt qua được những khó khăn và thách thức hiện tại, tận dụng được tối đa các lợi ích từ các hiệp định thương mại đã và đang được ký kết thì sản phẩm phải an toàn, muốn vậy phải tổ chức sản xuất theo chuỗi. Mỗi cá nhân, tổ chức trong chuỗi sản xuất sản phẩm chè phải gắn bó mật thiết trong toàn bộ chuỗi sản xuất theo cấu trúc quản lý thích hợp để kiểm soát được chất lượng và cùng nhau tạo ra giá trị gia tăng, tăng lợi nhuận cho chính mình.

Có thể thấy, thực hiện tổ chức sản xuất liên kết công - nông nghiệp vừa phải theo cơ chế thị trường, vừa phải bảo đảm các mục tiêu cơ bản về phúc lợi cho nông dân và người tiêu dùng, chuyển mạnh từ phát triển theo chiều rộng sang nâng cao chất lượng, hiệu quả, tăng giá trị và lợi nhuận cho người dân và doanh nghiệp - Ông Hoàng Vĩnh Long nhấn mạnh.

Bên cạnh đó, cần tăng cường quảng bá thương hiệu sản phẩm chè thông qua các chương trình xúc tiến thương mại trong nước và quốc tế. Tham gia các cuộc thi sản phẩm chè thế giới và khu vực. Xây dựng các video về vùng chè, về sản xuất để giới thiệu với bạn bè trong nước và quốc tế về quy mô sản xuất và quy trình sản xuất an toàn của doanh nghiệp, hợp tác xã…

Từng bước xây dựng và khẳng định thương hiệu chè Việt trên trường quốc tế, khẳng định uy tín và chất lượng của chè “made in Vietnam” với nhiều sản phẩm chè đa dạng, phong phú với các dòng sản phẩm chính là chè xanh, chè đen,các sản phẩm từ chè Shan rừng, chè ướp hương và chè Oolong…

Trong tương lai chè Việt sẽ từng bước để bạn bè quốc tế biết đến nhiều hơn, thay vì xuất khẩu chè thô, giá rẻ thì chúng ta hướng đến xây dựng thương hiệu chất lượng và nâng cao giá bán cho sản phẩm chè. Việc này không thể làm trong ngày một ngày hai mà chúng ta đã đang và sẽ tiếp tục thực hiện mục tiêu đó.

Bài liên quan

Thái Nguyên thúc đẩy phát triển ngành chè gắn với thương hiệu và chuyển đổi số

Thái Nguyên thúc đẩy phát triển ngành chè gắn với thương hiệu và chuyển đổi số

Nhân Ngày Chè thế giới 21/5, Hội Chè Thái Nguyên tổ chức Tọa đàm “Phát triển ngành chè Thái Nguyên gắn với xây dựng thương hiệu và chuyển đổi số”, nhằm trao đổi các giải pháp nâng cao chất lượng, giá trị và sức cạnh tranh của sản phẩm chè trong giai đoạn mới.
Khởi công tổ hợp sản xuất chè công nghệ cao và sân golf Quân Chu

Khởi công tổ hợp sản xuất chè công nghệ cao và sân golf Quân Chu

Sáng 19/5, tại xã Quân Chu, tỉnh Thái Nguyên diễn ra lễ khởi công Tổ hợp dự án sản xuất, chế biến chè công nghệ cao, vùng nguyên liệu chè hữu cơ và Khu tổ hợp văn hóa, thể dục thể thao sân golf Quân Chu. Đây là một trong những công trình trọng điểm của tỉnh được triển khai nhân dịp kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Phát triển chè hữu cơ, nâng tầm thương hiệu “Đệ nhất danh trà” Thái Nguyên

Phát triển chè hữu cơ, nâng tầm thương hiệu “Đệ nhất danh trà” Thái Nguyên

Ngày 16/5/2026, Chi hội Nông nghiệp Hữu cơ Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên phối hợp với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thái Nguyên tổ chức lớp tập huấn “Kỹ thuật sản xuất chè hữu cơ”. Chương trình nhằm cập nhật kiến thức về nông nghiệp hữu cơ, tiêu chuẩn chứng nhận, kỹ thuật canh tác chè hữu cơ và cơ chế chính sách, góp phần nâng cao chất lượng, giá trị và phát triển bền vững thương hiệu chè Thái Nguyên.
Gìn giữ tinh hoa, lan tỏa giá trị "Thái Nguyên đệ nhất danh trà"

Gìn giữ tinh hoa, lan tỏa giá trị "Thái Nguyên đệ nhất danh trà"

Giữa không khí rộn ràng của mùa chè xuân trên vùng đất Tân Cương (Thái Nguyên), Hợp tác xã (HTX) Hương Vân Trà - hội viên của Chi hội Nông nghiệp hữu cơ Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tổ chức Hội thi sao chè truyền thống với sự tham gia của nhiều nghệ nhân, người làm chè và các chuyên gia trong lĩnh vực chè.
Khi làm trà trở thành hành trình kiến tạo tinh hoa

Khi làm trà trở thành hành trình kiến tạo tinh hoa

Xã Tân Cương, tỉnh Thái Nguyên là vùng đất được mệnh danh “thủ phủ” của cây chè, ở đó một câu chuyện làm trà đang được viết tiếp theo cách rất khác. Không chỉ sản xuất, HTX Hương Vân Trà, do bà Nguyễn Thị Hương Vân sáng lập còn coi trà là tinh hoa và là giá trị văn hoá cần được trân trọng
Thái Nguyên: Nâng cao giá trị sản xuất chè "sạch"

Thái Nguyên: Nâng cao giá trị sản xuất chè "sạch"

Để nâng cao giá trị thu được từ cây chè, việc mở rộng diện tích áp dụng các quy trình sản xuất “sạch” để tạo ra sản phẩm an toàn, đáp ứng nhu cầu thị trường là một trong những mục tiêu mà tỉnh hướng đến.

CÁC TIN BÀI KHÁC

“Cà phê doanh nhân” lan tỏa văn hóa phát triển, động lực tăng trưởng kinh tế hai con số

“Cà phê doanh nhân” lan tỏa văn hóa phát triển, động lực tăng trưởng kinh tế hai con số

Tại không gian Cà phê Bảo tàng Đắk Lắk (phường Buôn Ma Thuột), Sở Tài chính phối hợp với Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh tổ chức Chương trình “Cà phê doanh nhân” lần thứ 4 năm 2026 với chủ đề “Xây dựng văn hóa phát triển - Trụ cột cho tăng trưởng kinh tế hai con số”. Chương trình có sự tham dự của Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thiên Văn cùng đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành, Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh và đông đảo doanh nhân, doanh nghiệp trên địa bàn.
Khát vọng xanh trên vùng cao Quài Tở: Khi cà phê và mắc ca thắp sáng tương lai nông nghiệp

Khát vọng xanh trên vùng cao Quài Tở: Khi cà phê và mắc ca thắp sáng tương lai nông nghiệp

Từng là vùng đất gặp nhiều khó khăn trong canh tác truyền thống, xã Quài Tở, tỉnh Điện Biên hôm nay đang chứng kiến một cuộc bứt phá ngoạn mục nhờ chiến lược chuyển đổi cơ cấu cây trồng đồng bộ. Với sự xuất hiện của những nương cà phê bạt ngàn xen lẫn gốc mắc ca xanh mướt, địa phương không chỉ thay đổi tư duy sản xuất của đồng bào vùng cao mà còn định hình một hệ sinh thái nông nghiệp bền vững, mở ra con đường thoát nghèo và vươn lên làm giàu chính đáng cho người dân nơi đây.
Chuyện người nông dân bền bỉ vượt khó “vun đắp” khát vọng làm giàu

Chuyện người nông dân bền bỉ vượt khó “vun đắp” khát vọng làm giàu

Bắt đầu khởi nghiệp chỉ bằng số vốn ít ỏi, nuôi vài con lợn cùng căn nhà cấp 4 đơn sơ, sau gần 30 năm bền bỉ lao động đầy gian nan, được đánh đổi bằng mồ hôi, nghị lực và khát vọng làm giàu chính đáng, vợ chồng ông Bế Văn Thuỵ, bà Vương Thị Loan ở xóm Nà Vạc, xã Trường Hà, tỉnh Cao Bằng đã xây dựng được mô hình kinh tế tổng hợp cho doanh thu hơn 1,6 tỷ đồng mỗi năm, lợi nhuận trên 600 triệu đồng. Không chỉ làm giàu cho gia đình, vợ chồng ông Thuỵ còn nhiệt tình chia sẻ kinh nghiệm sản xuất, tích cực tham gia các hoạt động, phong trào ở địa phương. Những nỗ lực ấy được ghi nhận bằng danh hiệu “Hộ nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi” cấp tỉnh năm 2025 do Hội Nông dân tỉnh Cao Bằng trao tặng.
Tuyên Quang khai thác hiệu quả giá trị kinh tế dưới tán rừng

Tuyên Quang khai thác hiệu quả giá trị kinh tế dưới tán rừng

Phát triển thảo quả, sa nhân tím và dược liệu dưới tán rừng đang giúp nhiều địa phương nâng cao thu nhập, gắn sinh kế với bảo vệ rừng bền vững.
Dray Bhăng ra mắt mô hình “cải tạo vườn tạp” kỹ thuật trồng cà phê thả ngọn

Dray Bhăng ra mắt mô hình “cải tạo vườn tạp” kỹ thuật trồng cà phê thả ngọn

Ban Thường vụ Hội Nông dân xã Dray Bhăng tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức lễ ra mắt mô hình điểm “cải tạo vườn tạp” gắn với kỹ thuật trồng cà phê thả ngọn tại vườn hộ gia đình tại (buôn Hra). Đây là hoạt động thiết thực nhằm chuyển đổi cơ cấu cây trồng, nâng cao hiệu quả sử dụng đất và góp phần phát triển kinh tế nông hộ theo hướng bền vững.
Mô hình lạc hoa và lúa Ngọc Nương mở hướng nâng cao giá trị

Mô hình lạc hoa và lúa Ngọc Nương mở hướng nâng cao giá trị

Mô hình trồng lạc hoa và lúa Ngọc Nương chất lượng cao tại xã Đường Hồng, tỉnh Tuyên Quang bước đầu đạt kết quả tích cực, mở triển vọng nhân rộng sản xuất và nâng cao thu nhập.
Người Cựu chiến binh gieo “mầm xanh” từ mô hình nông nghiệp bền vững

Người Cựu chiến binh gieo “mầm xanh” từ mô hình nông nghiệp bền vững

Từ vùng đất Bom Bo, tỉnh Đồng Nai cựu chiến binh Lê Văn Cảnh đã xây dựng mô hình sản xuất đa cây trồng trên diện tích gần 15 ha. Không chạy theo những cơn “sốt” nông sản, ông lựa chọn hướng canh tác lâu dài, chú trọng chăm sóc đất, sử dụng vật tư hợp lý, tạo việc làm và hỗ trợ người dân cùng phát triển sinh kế.
Nữ nông dân làm giàu từ những mùa mía ngọt

Nữ nông dân làm giàu từ những mùa mía ngọt

Có hẹn đến ba lần, tôi mới gặp được chị Lý Thị Duyên tại ngôi nhà ba tầng khang trang ở xóm Tà Lùng, xã Phục Hoà, tỉnh Cao Bằng. Lần này, khi tôi đến cũng vừa lúc chị Duyên từ nương mía trở về sau buổi chăm sóc cây. Những lần trước, khi thì chị tất bật với hơn 3 ha mía nguyên liệu, khi lại mải chăm sóc vườn vải thiều 200 gốc, hôm khác lại bận rộn với lứa tằm mới nuôi. Đón chúng tôi sau một buổi lao động, chị nở nụ cười hiền hậu rồi nói: "Làm nông là thế đấy, lúc nào cũng bận. Quanh năm hết việc này đến việc khác, muốn nghỉ cũng chẳng được”.
Xã Phục Hoà – Vùng đất biên cương giàu tiềm năng, khát vọng vươn lên

Xã Phục Hoà – Vùng đất biên cương giàu tiềm năng, khát vọng vươn lên

Nằm ở phía Đông tỉnh Cao Bằng, xã Phục Hoà là vùng đất biên cương giàu truyền thống cách mạng, có vị trí chiến lược đặc biệt về kinh tế, quốc phòng – an ninh và đối ngoại. Được thành lập theo Nghị quyết số 1657/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trên cơ sở sáp nhập thị trấn Hoà Thuận, thị trấn Tà Lùng, xã Mỹ Hưng và xã Đại Sơn. Xã Phục Hoà bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều thời cơ, vận hội lớn.
“Land sparing” hay “land sharing” sẽ mở ra hướng đi bền vững cho nông nghiệp?

“Land sparing” hay “land sharing” sẽ mở ra hướng đi bền vững cho nông nghiệp?

Giữa áp lực gia tăng sản lượng lương thực và bảo vệ đa dạng sinh học, giới khoa học cho rằng nông nghiệp không nên chỉ theo đuổi một mô hình sử dụng đất duy nhất. Các nghiên cứu mới chỉ ra việc kết hợp linh hoạt giữa “land sparing” và “land sharing” có thể giúp cân bằng mục tiêu phát triển sản xuất với bảo tồn thiên nhiên.
Quảng Trị: Triển khai mô hình chăn nuôi Gà Ri lai tại hai xã Trường Sơn và Dân Hóa

Quảng Trị: Triển khai mô hình chăn nuôi Gà Ri lai tại hai xã Trường Sơn và Dân Hóa

Ban Dự án Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Trị vừa phối hợp với Văn phòng Plan triển khai mô hình chăn nuôi Gà Ri lai tại hai xã Trường Sơn và Dân Hóa…nhằm hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số tại các xã khó khăn phát triển sinh kế bền vững, thích ứng tốt hơn với biến đổi khí hậu.
Mùa “quả vàng” trên đất Đam Rông

Mùa “quả vàng” trên đất Đam Rông

Giữa những triền đồi vốn quen với màu xanh của cà phê, sầu riêng và mắc ca, những tán vú sữa Hoàng Kim đang âm thầm bén rễ, trổ hoa rồi kết thành từng chùm quả vàng óng. Từ khu vườn xen canh của Hợp tác xã Trái cây Minh Thương, một hướng đi mới về nông nghiệp hữu cơ đang được vun đắp trên vùng đất bazan Đam Rông.
XEM THÊM
dam-ca-mau-chi-vi-hoa
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2026 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính