Thứ hai 02/03/2026 05:40Thứ hai 02/03/2026 05:40 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Phát triển sản xuất các loài nhuyễn thể, rong biển còn gặp nhiều khó khăn

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Hiện nay chất lượng giống thấp, bị suy giảm; mật độ nuôi ngày càng gia tăng dẫn tới phá vỡ quy hoạch nuôi và hiện tượng ngao chết hàng loạt, chất lượng môi trường nuôi suy giảm do ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu. Thị trường tiêu thụ, giá bán các sản phẩm nhuyễn thể không ổn định. Do ngành trồng rong biển chưa được quy hoạch, thiếu đồng bộ nên sản xuất còn nhỏ lẻ, manh mún, chưa xây dựng được chuỗi liên kết trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm; người trồng rong chủ yếu bán sản phẩm thô. Công tác nghiên cứu bệnh và môi trường nuôi chưa theo kịp với đòi hỏi thực tế sản xuất, thậm chí một số bệnh chưa có biện pháp điều trị. Công nghệ thu hoạch, bảo quản sản phẩm sau thu hoạch cũ nên hiệu quả thấp, hao hụt và chất lượng sản phẩm chưa bảo đảm khiến việc tiêu thụ gặp khó khăn.
nguồn giống cho nuôi thương phẩm ngao vẫn còn dựa vào tự nhiên ở một số vùng sản xuất nên thiếu tính chủ động về chất lượng và số lượng - Ảnh minh họa.
Nguồn giống cho nuôi thương phẩm ngao vẫn còn dựa vào tự nhiên ở một số vùng sản xuất nên thiếu tính chủ động về chất lượng và số lượng - Ảnh minh họa.

Theo báo cáo từ Cục Thủy sản (Bộ NN&PTNT), Việt Nam đã xuất khẩu nhuyễn thể sang nhiều thị trường trên thế giới. Nếu năm 2023, giá trị kim ngạch xuất khẩu nhuyễn thể có vỏ giảm 12% so với cùng kỳ (126 triệu USD7 thì chỉ trong 11 tháng đầu năm 2024 kim ngạch này đã tăng 67% so với cùng kỳ với 195,3 triệu USD. Các đối tượng xuất khẩu chủ yếu là ngao/ nghêu, hàu, sò, vẹm. 10 tỉnh có sản lượng động vật thân mềm xuất khẩu nhiều nhất cả nước bao gồm Thanh Hoá, Bến Tre, Nam Định, Bình Thuận, Thái Bình, Hải Phòng, Sóc Trăng, Kiên Giang, Quảng Ninh, Tiền Giang, chiếm 97% kim ngạch.

Hiện có 36 công ty Việt Nam có sản phẩm nghêu xuất khẩu. Top 3 công ty lớn nhất gồm Công ty Cổ phần XNK Thủy sản Thanh Hóa (HASUVIMEX) chiếm 24% tỷ trọng xuất khẩu, công ty Thủy sản Lenger Việt Nam chiếm gần 19% và

Công ty TNHH Minh Đăng chiếm gần 13%. Đa số các nhà máy chế biến nhuyễn thể hai mảnh vỏ xuất khẩu đều được trang bị công nghệ và thiết bị hiện đại, đáp ứng tốt các tiêu chuẩn quốc tế, đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững.

Trong số các mặt hàng nhuyễn thể hai mảnh vỏ, hàu là sản phẩm có tăng trưởng xuất khẩu đột phá trong năm 2023, với mức tăng 56% đạt trên 14 triệu USD, chủ yếu là hàu tươi, ướp lạnh. Trong đó riêng thị trường Đài Loan tiêu thụ trên 77% hàu xuất khẩu của Việt Nam với giá trị gần 11 triệu USD, tăng 26% so với năm 2022. Ngoài ra Việt Nam còn xuất khẩu hàu tươi ướp lạnh sang Lào, Campuchia, Nhật Bản...

Đối với rong biển, giá xuất khẩu mỗi kg rong biển từ Việt Nam đã có sự biến động đáng kể trong 10 năm qua. Năm 2013, giá là 3,72 USD/kg, tăng lên 13,46 đô la USD/kg vào năm 2014. Sau đó là mức đỉnh điểm là 20,71 USD/kg vào năm 2015. Tuy nhiên, giá đã giảm mạnh xuống còn 2,99 USD/kg vào năm 2016 và tiếp tục xuống còn 1,90 USD/kg vào năm 20178. Đến năm 2024, giá bán dao động từ 4,46 - 11,31 USD/kg.

Theo dữ liệu Xuất khẩu Việt Nam của Volza, Việt Nam đã xuất khẩu 3.563 lô hàng rong biển từ tháng 3 năm 2023 đến tháng 2 năm 2024 (TTM). Những lô hàng xuất khẩu này được thực hiện bởi 737 Nhà xuất khẩu Việt Nam tới 1.169 người mua, đánh dấu tốc độ tăng trưởng 32% so với 12 tháng trước đó. Trong giai đoạn này, chỉ riêng trong tháng 2 năm 2024, 244 lô hàng rong biển xuất khẩu đã được thực hiện từ Việt Nam (tăng 33% so với cùng kỳ năm 2023).

Một số doanh nghiệp lớn đã tham gia sản xuất và chế biến rong biển, một số doanh nghiệp trong nước cũng đã liên doanh liên kết với doanh nghiệp nước ngoài trồng và chế biến rong biển xuất khẩu đi Nhật Bản, Hàn Quốc, tuy nhiên nhìn chung công nghệ chế biến sâu rong biển chưa phát triển, chưa so sánh được với các sản phẩm chế biến sâu của Hàn Quốc, Nhật Bản.

Ngành thủy sản Quảng Bình : Vướng mắc trong quá trình sản xuất nông nghiệp hữu cơ Ngành thủy sản Quảng Bình : Vướng mắc trong quá trình sản xuất nông nghiệp hữu cơ

Quảng Bình là một tỉnh tiếp giáp với biển, rất thuận lợi và có thế mạnh trong việc phát triển nuôi trồng, chế biến và ...

Việt Nam phấn đấu đạt kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản 70 tỷ USD đến năm 2030 Việt Nam phấn đấu đạt kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản 70 tỷ USD đến năm 2030

Mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu đạt kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản 70 tỷ USD, với sự công nhận ...

Việt Nam tăng cường bảo vệ và khai thác bền vững nguồn lợi thủy sản đến năm 2050 Việt Nam tăng cường bảo vệ và khai thác bền vững nguồn lợi thủy sản đến năm 2050

Chính phủ vừa phê duyệt kế hoạch bảo vệ và khai thác bền vững nguồn lợi thủy sản đến năm 2050, tập trung mở rộng ...

Bên cạnh những kết quá đạt được cũng còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc như nguồn giống cho nuôi thương phẩm ngao vẫn còn dựa vào tự nhiên ở một số vùng sản xuất nên thiếu tính chủ động về chất lượng và số lượng. Nguồn giống tự nhiên chỉ có ở một số vùng nhất định nhưng thiếu sự quản lý, khai thác hợp lý nên đang có nguy cơ bị cạn kiệt. Giống ngao, hàu có dấu hiệu thoái hóa, dẫn chậm lớn, tỉ lệ thịt/vỏ thấp dẫn đến giảm sản lượng thu hoạch và tiêu thụ gặp rất khó khăn. Sản xuất giống chỉ tập trung ở một vài địa phương. Các tỉnh nhập con giống gặp khó khăn trong việc kiểm soát chất lượng. Nhiều cơ sở sản xuất giống chưa được cấp giấy Chứng nhận cơ sở sản xuất.

Cũng như các loài thuỷ sản khác, cây giống là chìa khoá để nuôi trồng rong biển thành công và bền vững. Chất lượng cây giống càng trở nên quan trọng hơn trong điều kiện môi trường canh tác bị suy giảm như nhiệt độ nước biển tăng. Tuy nhiên, chất lượng giống rong đang ngày một suy giảm do đa số giống rong được tạo thành bằng phương pháp nhân giống sinh dưỡng từ rong trưởng thành. Việc nhân giống sinh dưỡng lặp đi lặp lại dẫn đến tình trạng thoá hoá giống, làm giảm khả năng tăng trưởng của rong, giảm chất lượng rong khi thu hoạch và rong dễ bị nhiễm bệnh. Ngoài ra, sự thoái hoá chất lượng giống của rong có thể thúc đẩy sự ra đời của các loài hoặc kiểu gen không phải bản địa, gây rủi ro cho đa dạng sinh học và an toàn sinh học.

Mật độ nuôi ngày càng gia tăng dẫn tới phá vỡ quy hoạch nuôi và hiện tượng ngao chết hàng loạt; vị trí một số điểm nuôi hiện đang nằm chồng lấn quy hoạch phát triển du lịch, công nghiệp, gây ảnh hưởng cho sự phát triển; quy hoạch một số tỉnh không còn diện tích cho rong biển. Suy giảm chất lượng môi trường nuôi do ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu.

Độ đục, mức dinh dưỡng, sự nở hoa của thực vật phù du, biến động nhiệt độ, độ mặn đều là những yếu tố có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển thành công của vùng trồng rong biển. Do đó, chất lượng nước suy giảm ở nhiều vùng ven biển do nước thải sinh hoạt, nước thải nông nghiệp và công nghiệp từ đất liền cũng là mối đe dọa đối với nghề trồng rong biển hiện tại và tương lai, do làm tăng độ đục, ô nhiễm bởi kim loại nặng và các chất ô nhiễm hữu cơ, tác động tiêu cực đến sự phát triển của rong biển và có thể dẫn đến nguy cơ mất an toàn thực phẩm do dư lượng kim loại nặng tồn dư trong rong (do rong biển có khả năng hấp thụ kim loại nặng cao).

Nhiệt độ nước biển và mực nước biển tăng do biến đổi khí hậu cũng làm giảm sự phát triển của các loài rong biển. Ngoài ra, tần suất xuất hiện các cơn bão cùng với lượng mưa lớn cũng tác động không nhỏ đến hoạt động trồng rong biển. Nguy cơ phơi nhiễm với một số mối nguy an toàn thực phẩm nhất định từ rong biển có thể trở nên trầm trọng hơn do biến đổi khí hậu (Từ năm 2015 đến nay, do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, rong bị gãy dập; tình trạng cá dìa ăn rong tại các khu vực trồng rong ven bờ nên diện tích trồng và sản lượng rong ngày càng giảm rõ rệt tại Ninh Thuận).

Các vùng nuôi nhuyễn thể ở bờ biển nước ta hàng năm thường xuyên chịu ảnh hưởng bão gió, áp thấp nhiệt đới với tần suất cao; vùng biển phía Bắc chịu tác động của mùa đông lạnh kéo dài, nên đã gây bất lợi cho việc phát triển nuôi ngao. Hiện tượng ngao chết hàng loạt thường xảy ra từ tháng 2 đến tháng 5 hàng năm, những tháng khác trong năm vẫn có hiện tượng này nhưng ít xảy ra hơn. Sự thay đổi về nhiệt độ, độ mặn, chất lượng nước kém là những nguyên nhân chủ yếu gây ra hiện tượng ngao chết hàng loạt ở nhiều địa phương trong thời gian qua.

Về thị trường tiêu thụ: Thị trường tiêu thụ của sản phẩm ngao nuôi và giá cả không ổn định. Nhu cầu thị trường còn rất lớn cả tiêu thụ nội địa và xuất khẩu; quản lý điều kiện vệ sinh và an toàn thực phẩm còn nhiều bất cập. Công nghệ chế biến đơn giản, chưa đáp ứng được yêu cầu thị trường nhập khẩu; nhiều vùng thu hoạch chưa được cấp chứng nhận đủ điều kiện xuất khẩu. Nhiều nơi, nhiều vùng sản xuất sản phẩm không đảm bảo kích cỡ, tỉ lệ thịt/vỏ thấp do con giống có dấu hiệu thoái hóa nguồn gen, dẫn đến việc tiêu thụ gặp rất khó khăn.

Đối với rong biển, mặc dù rong biển có giá trị dinh dưỡng cao, mang lại nhiều lợi ích đối với sức khoẻ nhưng tỷ lệ người dân sử dụng rong biển như một nguồn thực phẩm hàng ngày trong bữa ăn chưa nhiều. Niềm tin của người tiêu dùng dành cho các sản phẩm trong nước chưa cao, cùng với tâm lý “sính ngoại” cũng là một trong những trở ngại lớn để ngành rong biển phát huy tiềm năng sẵn có trong tương lai. Hoạt động truyền thông đến người tiêu dùng trong và ngoài nước chưa được quan tâm đúng mức. Thêm vào đó, sản phẩm chế biến của rong biển còn đơn giản, hạn chế nên chưa hấp dẫn được thị trường tiêu thụ nội địa.

Do ngành trồng rong biển chưa được quy hoạch, thiếu đồng bộ nên sản xuất còn nhỏ lẻ, manh mún, chưa xây dựng được chuỗi liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, Người trồng rong chủ yếu bán sản phẩm thô sơ cho thương lái và rong biển qua nhiều bên trung gian mới đến được với doanh nghiệp chế biến và người tiêu dùng. Do đó, chi phí sản phẩm bị tăng cao do chi phí trung gian.

Bên cạnh đó, giá rong biển còn thấp và thường xuyên biến động, giá xuất khẩu bấp bênh do biến động tỉ giá hối đoái và sự bất ổn của các thị trường cũng gây ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý và thu nhập của các thành phần tham gia chuỗi sản xuất rong biển, đặc biệt là người nông dân. Công tác nghiên cứu bệnh và môi trường nuôi còn chưa theo kịp với đòi hỏi thực tế sản xuất, thậm chí một số bệnh chưa có biện pháp điều trị. Cảnh báo môi trường dịch bệnh đã có, song do nguồn lực còn hạn chế nên tại một số thời điểm chưa kịp thời, dẫn đến vẫn còn hiện tượng nghêu chết hàng loạt ở nhiều nơi.

Công nghệ thu hoạch, bảo quản sản phẩm sau thu hoạch: nhiều nơi, nhiều vùng nuôi thu hoạch thủ công, chưa áp dụng được công nghệ mới nên hiệu quả thấp, hao hụt và chất lượng sản phẩm không bảo đảm, dẫn đến việc tiêu thụ gặp nhiều khó khăn.

Phát triển sản xuất các loài nhuyễn thể, rong biển còn gặp nhiều khó khăn
Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Phùng Đức Tiến cho rằng, nhuyễn thể và rong biển là hai lĩnh vực có tiềm năng to lớn để phát triển trong thời gian tới.

Phát biểu tại hội nghị "Phát triển sản xuất nhuyễn thể và rong biển" diễn ra sáng 26/12/2024, tại Nam Định, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Phùng Đức Tiến khẳng định, ngành thủy sản năm 2024 dù gặp nhiều khó khăn nhưng đã đạt được những thành tựu rất quan trọng: sản lượng đạt 9,6 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 10 tỷ USD. Riêng đối với nhuyễn thể, sản lượng nuôi đã đạt gần 480.000 tấn, rong biển hơn 150.000 tấn.

Thứ trưởng Phùng Đức Tiến cho rằng, bên cạnh việc đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm và tạo sinh kế cho ngư dân ven biển nói chung, nuôi nhuyễn thể và trồng rong biển còn đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu áp lực khai thác nguồn lợi thủy sản, hồi sinh nguồn lợi và giảm xung đột trong quá trình bảo vệ nguồn lợi thủy sản, góp phần vào thực hiện chiến lược phát triển thủy sản Việt Nam. Theo đó, "đẩy mạnh phát triển nhuyễn thể và rong biển là phù hợp với xu thế xanh hiện nay", lãnh đạo Bộ NN-PTNT nói.

Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Phùng Đức Tiến nhấn mạnh, nhuyễn thể và rong biển là hai ngành hàng có tiềm năng to lớn để phát triển trong thời gian tới, đã có "đường dẫn" ra thị trường nước ngoài, hệ sinh thái rất đầy đủ, quản lý Nhà nước, khoa học công nghệ, doanh nghiệp, người nuôi, tuy nhiên sự liên kết chưa chặt chẽ lắm.

Chính vì vậy, thời gian tới, Cục Thủy sản ngoài việc xây dựng cơ chế chính sách, cần kết nối các đơn vị liên quan như: Cơ quan quản lý Nhà nước, viện, trường, doanh nghiệp và người nuôi... Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường tăng cường công tác xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường... Các viện, trường chú trọng đến khoa học công nghệ, làm sao để bắt kịp nhu cầu thực tiễn; doanh nghiệp đổi mới công nghệ, cập nhật kiến thức quản lý, thông tin thị trường; địa phương triển khai các quy hoạch vùng, tỉnh liên quan đến thủy sản...

Đồng thời, tiếp tục giải quyết bài toán con giống; chú trọng đến công tác thú y, phòng chống dịch bệnh gắn với an toàn sinh học; mở rộng hợp tác quốc tế; nghiên cứu các phương thức nuôi phù hợp...

Bài liên quan

Quảng Ninh: Lãnh đạo tỉnh thăm và chúc tết doanh nghiệp chế biến thủy sản

Quảng Ninh: Lãnh đạo tỉnh thăm và chúc tết doanh nghiệp chế biến thủy sản

Sáng 20/2/2026 (tức mùng 4 Tết), Phó Chủ tịch tỉnh Quảng Ninh đã đến thăm, chúc Tết và làm việc với Công ty Cổ phần Thủy hải sản Tất Thành – cơ sở chế biến hầu tại phường Liên Hòa.
Xu hướng công nghệ thủy sản 2026

Xu hướng công nghệ thủy sản 2026

Biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và dịch bệnh đang đặt ra những thách thức ngày càng lớn đối với ngành thủy sản. Trong bối cảnh đó, việc ứng dụng công nghệ không chỉ nhằm nâng cao năng suất, mà còn là chìa khóa để bảo đảm hiệu quả, bền vững và an toàn. Dưới đây là các công nghệ được kỳ vọng sẽ định hình xu hướng phát triển của ngành thủy sản trong năm 2026.
Singapore khởi động dự án nuôi cá hồi vân công nghệ cao ngay tại vùng nhiệt đới

Singapore khởi động dự án nuôi cá hồi vân công nghệ cao ngay tại vùng nhiệt đới

Với công suất thiết kế lên tới 3.000 tấn mỗi năm, dự án nuôi trồng thủy sản trong nhà tại Singapore đang hiện thực hóa việc nuôi loài cá nước lạnh ngay giữa lòng thành phố nhiệt đới nhờ ứng dụng công nghệ tuần hoàn tiên tiến.
Tạm biệt lãng phí thức ăn: Israel đổi mới nuôi trồng thủy sản bằng trí tuệ nhân tạo (AI)

Tạm biệt lãng phí thức ăn: Israel đổi mới nuôi trồng thủy sản bằng trí tuệ nhân tạo (AI)

Israel đang ứng dụng công nghệ âm học để cách mạng hóa việc cho ăn trong nuôi trồng thủy sản, qua đó từng bước loại bỏ lãng phí thức ăn. Giải pháp này không chỉ giúp cắt giảm chi phí sản xuất mà còn mở ra hướng đi mới trong kiểm soát ô nhiễm môi trường.
Quảng Ninh: Kiểm tra khu vực thủy sản biển tự nhiên chết bất thường

Quảng Ninh: Kiểm tra khu vực thủy sản biển tự nhiên chết bất thường

Sáng 13/1, UBND xã Đầm Hà phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức kiểm tra thực địa tại khu vực xảy ra hiện tượng thủy sản biển tự nhiên chết bất thường theo phản ánh của các hộ nuôi cá lồng bè.
Ra mắt Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản

Ra mắt Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản

Ngày 26/12, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Lễ ra mắt Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản Việt Nam.

CÁC TIN BÀI KHÁC

Năng lượng tái tạo - Nền tảng cho phát triển bền vững

Năng lượng tái tạo - Nền tảng cho phát triển bền vững

Khác với các nguồn năng lượng không tái tạo như than đá, dầu mỏ hay khí tự nhiên, năng lượng tái tạo có khả năng tái sinh liên tục trong tự nhiên và ít gây tác động tiêu cực đến môi trường. Việc phát triển và sử dụng năng lượng tái tạo không chỉ góp phần đảm bảo an ninh năng lượng mà còn đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển bền vững của mỗi quốc gia.
Vai trò của nông nghiệp hữu cơ trong việc tăng cường sức khoẻ đất, giảm phát thải khí nhà kính và giảm nhẹ biến đổi khí hậu

Vai trò của nông nghiệp hữu cơ trong việc tăng cường sức khoẻ đất, giảm phát thải khí nhà kính và giảm nhẹ biến đổi khí hậu

Nông nghiệp hữu cơ (NNHC) có vai trò thiết yếu trong việc tăng cường sức khỏe đất (cải thiện cấu trúc, giữ nước, tăng chất hữu cơ), giảm phát thải khí nhà kính (giảm N2ON sub 2 ON2O từ phân đạm, tăng hấp thụ carbon) và giảm nhẹ biến đổi khí hậu (tăng khả năng chống chịu, tạo hệ sinh thái bền vững), hướng tới một nền nông nghiệp xanh, sạch, an toàn và bền vững.
Khuyến nông Hà Tĩnh - "nhịp cầu" đưa nông nghiệp hữu cơ vào thực tiễn

Khuyến nông Hà Tĩnh - "nhịp cầu" đưa nông nghiệp hữu cơ vào thực tiễn

Trong không khí rộn ràng đón Xuân Bính Ngọ, Tạp chí Hữu cơ Việt Nam đã có cuộc trò chuyện thân mật với ông Nguyễn Hữu Ngọc, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Hà Tĩnh để cùng nhìn lại những thành tựu đáng tự hào trong năm qua và lắng nghe những kế hoạch, kỳ vọng mà ngành sẽ triển khai nhằm mang lại một diện mạo mới mẻ, đậm đà bản sắc cho mảnh đất và con người Hà Tĩnh trong năm mới.
Xu hướng toàn cầu và "sân chơi" hữu cơ

Xu hướng toàn cầu và "sân chơi" hữu cơ

Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, khi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra tiêu chuẩn cao hơn, nông nghiệp hữu cơ chính là chìa khóa để nông sản Việt Nam bước vào những “cánh cửa” thị trường khó tính nhất. Nếu tận dụng tốt tiềm năng, khắc phục những điểm nghẽn và xây dựng được chuỗi giá trị bền vững, nông nghiệp hữu cơ hoàn toàn có thể trở thành một trụ cột mới trong chiến lược xuất khẩu nông sản của Việt Nam trong tương lai.
Kinh tế biển và khoa học về biển trong chiến lược phát triển của Việt Nam

Kinh tế biển và khoa học về biển trong chiến lược phát triển của Việt Nam

Biển và đại dương chiếm hơn 70% diện tích bề mặt Trái Đất, giữ vai trò vô cùng quan trọng đối với sự sống và sự phát triển của nhân loại. Đối với Việt Nam - một quốc gia ven biển thuộc khu vực Đông Nam Á, biển không chỉ mang ý nghĩa về tài nguyên, kinh tế mà còn có giá trị đặc biệt về quốc phòng, an ninh và chủ quyền quốc gia. Vì vậy, phát triển kinh tế biển gắn với đẩy mạnh khoa học về biển là yêu cầu cấp thiết và mang tính chiến lược lâu dài.
Xây dựng thương hiệu: “Đòn bẩy” để nông nghiệp hữu cơ Việt Nam vươn xa

Xây dựng thương hiệu: “Đòn bẩy” để nông nghiệp hữu cơ Việt Nam vươn xa

Trong bối cảnh người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến sức khỏe và môi trường, nông nghiệp hữu cơ được xem là xu hướng tất yếu của phát triển bền vững. Tại Việt Nam, sản xuất nông nghiệp hữu cơ đã có những bước tiến đáng kể, với hàng nghìn hecta canh tác và hàng trăm doanh nghiệp, hợp tác xã tham gia. Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhiều sản phẩm hữu cơ vẫn loay hoay tìm chỗ đứng trên thị trường. Một trong những “nút thắt” lớn nhất chính là truyền thông và xây dựng thương hiệu chưa tương xứng với tiềm năng.
Rừng ngập mặn: “Vườn ươm” sinh vật biển, lá phổi xanh cho tương lai

Rừng ngập mặn: “Vườn ươm” sinh vật biển, lá phổi xanh cho tương lai

Rừng ngập mặn đóng vai trò như “lá phổi xanh” của vùng ven biển, hấp thu lượng lớn CO2, qua đó góp phần quan trọng vào nỗ lực giảm phát thải và thích ứng biến đổi khí hậu. Không những thế, hệ sinh thái rừng ngập mặn còn là nơi ương dưỡng tự nhiên cho nhiều loài thủy sinh vật, cung cấp nguồn thức ăn, nơi trú ẩn và môi trường sinh sản thiết yếu.
Kinh tế xanh không phải là khẩu hiệu mà là nhu cầu của xã hội

Kinh tế xanh không phải là khẩu hiệu mà là nhu cầu của xã hội

Trong nhiều năm qua, khái niệm “xanh hoá nền kinh tế” xuất hiện ngày càng dày đặc trong các văn kiện, diễn đàn, chiến lược phát triển và các chương trình hành động ở cả tầm quốc gia lẫn địa phương.
Vai trò của chính sách nâng tầm nông nghiệp hữu cơ Việt Nam

Vai trò của chính sách nâng tầm nông nghiệp hữu cơ Việt Nam

Nông nghiệp hữu cơ đang trở thành một hướng đi chiến lược, không chỉ góp phần bảo vệ môi trường mà còn mở ra cơ hội nâng tầm giá trị nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế. Các chính sách và biện pháp hỗ trợ đã, đang và sẽ tiếp tục định hướng, tạo hành lang pháp lý và thúc đẩy nông nghiệp hữu cơ phát triển bền vững, qua đó góp phần củng cố vị thế của nền nông nghiệp Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Kiến tạo những miền quê cân bằng và bền vững

Kiến tạo những miền quê cân bằng và bền vững

Nông thôn mới đang chuyển mình sang kỷ nguyên hữu cơ, nơi kinh tế xanh và tuần hoàn là trụ cột. Đây là bước đệm lịch sử, kiến tạo những miền quê hiện đại, cân bằng và hài hòa giữa phát triển với thiên nhiên.
Năm Ngọ niềm kiêu hãnh về sự mạnh mẽ và phóng khoáng

Năm Ngọ niềm kiêu hãnh về sự mạnh mẽ và phóng khoáng

Xuân Bính Ngọ về, không chỉ là sự chuyển giao của đất trời, của thời gian, mà còn là một cuộc hẹn hò thiêng liêng với những tầng lớp cảm xúc sâu thẳm trong tâm hồn mỗi người Việt. Năm Ngọ, năm của con Ngựa - loài vật tượng trưng cho sự kiên trì, tốc độ, và khát vọng vươn xa, mang theo một luồng sinh khí mới mẻ, mạnh mẽ. Cảm xúc vào Xuân Bính Ngọ vì thế cũng đa chiều, vừa sâu lắng nét truyền thống, vừa rạo rực tinh thần dấn thân, khác biệt hẳn so với bất kỳ mùa xuân nào khác.
Ngựa trong văn hóa Việt: Từ chiến mã linh thiêng đến khát vọng “hóa rồng”

Ngựa trong văn hóa Việt: Từ chiến mã linh thiêng đến khát vọng “hóa rồng”

Trong tâm thức ngàn đời của người Việt, con ngựa không chỉ là vật nuôi, là phương tiện, mà đã hóa thân thành một biểu tượng văn hóa đa diện. Từ những huyền thoại giữ nước đến những bức phù điêu nơi mái đình rêu phong, hình tượng Ngọ luôn song hành cùng vận mệnh dân tộc với cốt cách bền bỉ và khát vọng vươn tới những chân trời tự do.
XEM THÊM
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2025 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính