Thứ ba 14/04/2026 17:57Thứ ba 14/04/2026 17:57 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Nghiên cứu xây dựng công thức ủ thân chuối thải loại sau thu hoạch thành phân bón hữu cơ chất lượng cao

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Nghiên cứu tập trung vào việc tận dụng thân chuối thải loại để sản xuất phân bón hữu cơ, góp phần giảm chất thải nông nghiệp tại Việt Nam. Nguyên liệu sử dụng trong nghiên cứu là thân chuối sau thu hoạch được lấy từ vườn chuối ogarnic của hộ gia đình chị Lê Tuyết Mai tại xã Xuyên Mộc, Thành phố Hồ Chí Minh.
Nghiên cứu xây dựng công thức ủ thân chuối thải loại sau thu hoạch thành phân bón hữu cơ chất lượng cao

Tóm tắt

Nghiên cứu tập trung vào việc tận dụng thân chuối thải loại để sản xuất phân bón hữu cơ, góp phần giảm chất thải nông nghiệp tại Việt Nam. Nguyên liệu sử dụng trong nghiên cứu là thân chuối sau thu hoạch được lấy từ vườn chuối ogarnic của hộ gia đình chị Lê Tuyết Mai tại xã Xuyên Mộc, Thành phố Hồ Chí Minh. Cụ thể, nguyên liệu chuối có ẩm độ ban đầu (hàm lượng nước ban đầu) 90.91%; và bằng phương pháp thực nghiệm, nghiên cứu đã xác định quy trình ủ tạo phân hữu cơ từ thân chuối tối ưu như sau: Băm nhỏ và làm khô thân chuối về ẩm độ mục tiêu 30-40%, phối trộn với 20% phân bò + 5% than sinh học + 0,25 lít chế phẩm vi sinh vật/m³, ủ hiếm khí.

Kết quả sau 7 tuần ủ, phân đạt pH 7.23 – 7.49; N tổng 2.62 – 2.66%; P₂O₅ 6.14 – 6.21%; K₂O 8.57-8.65%; axit humic 1.54-1.22%; tỷ lệ C/N 10.03 – 10.44; không phát hiện Escherichia coliSalmonella spp, phù hợp thông tư 09/2019/TT-BNNPTNT “Quy chuẩn quốc gia về chất lượng phân bón”. Phương pháp này giúp gia tăng giá trị chất thải nông nghiệp, hỗ trợ sản xuất phân bón hữu cơ chất lượng cao.

Từ khóa: phân bón hữu cơ, thân chuối thải, than sinh học, ủ phân, nông nghiệp bền vững

1. Đặt vấn đề

Thân chuối thải loại chiếm 88% trọng lượng cây sau thu hoạch, với diện tích trồng 163.000 ha, sản lượng hơn 1,75 triệu tấn quả; mỗi năm các farm chuối của Việt Nam đã tạo ra khoảng hơn 2 triệu tấn thân thải loại. Bản thân cây chuối chứa rất nhiều nước (90 – 93%), với nhiều chất xơ (cellulose, lignin và hemicellulose) và khá giàu kali, canxi, magiê, cùng một số nguyên tố vi lượng khác; đặc biệt, thân chuối chứa một số hợp chất hữu cơ quan trọng tanin (5–10 mg/g chất khô), polyphenol (15–30 mg GAE/g chất khô) và một số enzym tự nhiên (hợp chất PPO, POD: 50–150 U/mg protein). Đây là nguồn dinh dưỡng lý tưởng cho nấm bệnh hại phát triển và cũng là điều gây áp lực môi trường lớn về bệnh dịch nếu không có giải pháp xử lý phù hợp và kịp thời. Mặc dù các cơ sở gia công sợi chuối đã có mặt ở Việt Nam để giải quyết phần nào vấn nạn của tình trạng này; tuy nhiên, lượng chuối thải loại vẫn đang trong tình trạng quá tải; nhất là tại các vườn hộ quy mô vừa và nhỏ, và vườn ở khu vực giao thông đi lại khó khăn. Vì vậy, để vườn hộ được an toàn, việc nghiên cứu biến vấn nạn này thành phân hữu cơ giúp cải thiện đất và giảm sử dụng phân hóa học là điều cấp thiết. Các nghiên cứu trước đây của tác giả đã sử dụng than sinh học (biochar) như nguồn chất mang giúp cải thiện độ pH đất (vùng đất chua), giữ ẩm và lưu trữ chất dinh dưỡng (Ca, Mg, K, P), là nơi ở lý tưởng cho vi sinh vật thúc đẩy phân hủy. Ở nghiên cứu này tác giả tập trung vào thành phần công thức phối trộn để kỳ vọng rút ngắn thời gian ủ chín của nguyên liệu. Giống chuối được sử dụng cho đề tài là chuối Nam Mỹ (Musa paradisiaca L.), thu từ vườn chuối tại Xuyên Mộc, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

2.1 Đối tượng và vật liệu

Đối tượng: Thân chuối tươi sau thu hoạch, độ ẩm ban đầu 90,91%. Thân chuối sau đó được băm nhỏ thành từng khúc 2 - 4cm và trải ra phơi nắng để làm khô về các mức ẩm độ mục tiêu sử dụng cho nghiên cứu.

Vật liệu: Phân bò, than sinh học từ củi cây keo lai (pH 8,8; N 1,4%; Ca 23,6%; K 17,8%), chế phẩm trichoderma 109 CFU (được cung cấp bởi Phòng nghiên cứu của Khoa Công nghệ ứng dụng, Trường Đại học Văn Lang).

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp xác định độ ẩm ban đầu và độ ẩm mục tiêu của thân chuối

Để xác định độ ẩm ban đầu, thân chuối được chặt vào sáng sớm; lấy 3 mẫu ở 3 vị trí: gốc, giữa thân, ngọn. Sau đó bảo quản trong túi nilong kín miệng và đưa về phòng thí nghiệm để xác định độ ẩm ban đầu của thân chuối theo phương pháp của Kirsten và Sigrit (2000): Cốc đựng mẫu đã được sấy và làm nguội trong bình hút ẩm, cân chuối và cốc đã được sấy đạt khối lượng 100g vào cho vào tủ sấy nhiệt độ 1050±20C. Sấy mẫu trong 24h, sau đó làm nguội trong bình hút ẩm 1 giờ và đem cân. Sấy đến khi khối lượng không đổi.

Độ ẩm tính (MC%) theo phần trăm khối lượng công thức: Mc(%)=(M1-M2)/(M1-Mo)x100

Trong đó:

Mo: trọng lượng cốc đựng mẫu (g);

M1: trọng lượng cốc và mẫu trước khi sấy (g).

M2: trọng lượng cốc và mẫu sau khi sấy (g).

Xác định độ ẩm muc tiêu: Thân chuối được băm nhỏ và làm khô đến các mức ẩm độ 10% - 20% - 30% - 40% - 50% bằng cách phơi nắng hay dùng quạt công nghiệp (gọi là nguyên liệu). Độ ẩm nguyên liệu thấp nhất phải đạt là 20%.

2.2.2 Bố trí thí nghiệm ủ phân chuối

Nguyên liệu ở các mức ẩm độ khác nhau (kí hiệu là M, bao gồm: Mo=Ẩm độ ban đầu; M1=50%; M2 = 40%; M3=30%; M4=20%; M5=20%).

Thí nghiệm một nhân tố (Nhân tố thí nghiệm là ẩm độ nguyên liệu), gồm 6 nghiệm thức (mỗi nghiệm thức tương ứng với 10kg nguyên liệu), mỗi nghiệm thức 3 lần lặp lại, đơn vị thí nghiệm được tính là kilogam nguyên liệu. Tổng số đơn vị thí nghiệm là 180kg.

Các nghiệm thức cụ thể như sau:

NT1= 100 kg Mo +20kg phân bò +5 kg than sinh học + 0,25 lít chế phẩm vi sinh

NT2= 100 kg M1 +20kg phân bò +5 kg than sinh học + 0,25 lít chế phẩm vi sinh

NT3= 100 kg M2 +20kg phân bò +5 kg than sinh học + 0,25 lít chế phẩm vi sinh

NT4= 100 kg M3 +20kg phân bò +5 kg than sinh học + 0,25 lít chế phẩm vi sinh

NT5= 100 kg M4 +20kg phân bò +5 kg than sinh học + 0,25 lít chế phẩm vi sinh

NT6= 100 kg M5 +20kg phân bò +5 kg than sinh học + 0,25 lít chế phẩm vi sinh

Hỗn hợp trên được trộn đều với nhau và được thêm nước đến ẩm độ 50%. Ẩm độ này được duy trì trong suốt thời gian ủ. Nguyên liệu sau đó được đưa vào thùng ủ và đóng chặt nắp. Định kỳ 3 ngày mở ra kiểm tra ẩm độ và nhiệt độ khối ủ một lần; đồng thời, đảo đều khối ủ để tăng độ thoáng khí, tạo điều kiện thuận lợi tăng sinh mật số vi sinh vật. Thực hiện đo nhanh độ pH cho đống ủ từ tuần thứ 2 trở đi.

2.2.3 Phương pháp phân tích sản phẩm sau ủ

Phân sau khi ủ hoai, tiến hành thu hồi sản phẩm đã hoai mục đi phân tích các chỉ tiêu quy định của một loại phân bón hữu dựa trên Thông tư 09/2019/TT-BNNPTNT. Chỉ tiêu pHKCl theo TCVN 9297 : 2012; OM (%) theo TCVN 9294 : 2012; Nts (%) theo TCVN 8557 : 2010; P2O5 tổng số theo TCVN 8563 : 2010; K2O tổng số theo TCVN 8562 : 2010; Acid fulvic theo TCVN 8561 : 2010; Acid humic theo TCVN 8561 : 2010; E.Coli giả định và Salmonella spp theo Ref: TCVN 6846 : 2007 (ISO 7251 : 2005); Vi khuẩn Bacillus subtilistheo TCVN 4884-2 : 2015; Xạ khuẩn Streptomyces spp theo TCVN 4884-2 : 2015.

3. Kết quả và thảo luận

3.1 Kết quả xác định ẩm độ ban đầu và làm khô nguyên liệu về các ẩm độ mục tiêu

Thân chuối được chặt vào lúc sáng sớm (mặt trời chưa mọc); lấy 3 mẫu ở 3 vị trí: gốc, giữa thân, ngọn. Sau đó bảo quản trong túi nilong kín miệng và đưa về phòng thi nghiệm để xác định độ ẩm ban đầu của thân chuối. Ẩm độ tự nhiên của thân chuối tại các vị trí khác nhau (gốc – giữa thân và ngọn) đã có sự khác nhau: phần gốc có ẩm độ tự nhiên bình quân thấp hơn so với phần giữa thân và ngọn. Tuy nhiên, sự khác biệt này chưa có ý nghĩa về mặt thống kê (bảng 1). Kết quả ở bảng 1 chỉ ra: Ẩm độ tự nhiên bình quân của thân chuối là 90,91%; trong đó: phần thân gốc có ẩm độ tự nhiên 89,1%, phần thân giữa 90.94%, và phần thân ngọn 92,6%. Hệ số biến động rất nhỏ (<1.0%), chứng tỏ độ ẩm tự nhiên của thân chuối ở giai đoạn thu hoạch là ổn định. Kết quả này cũng tương đồng với nghiên cứu của Perveen và cộng sự (2010) về độ ẩm của thân chuối (khoảng 91%); Vũ Thị Quyền và cộng sự (2021) xác định ẩm độ tự nhiên của thân chuối là 91,09%.

Bảng 1. Kết quả ẩm độ tự nhiên (ÂĐTN, %) của thân cây chuối sau thu hoạch

Bộ phận của cây

Lặp 1 (%)

Lặp 2 (%)

Lặp 3 (%)

Giá trị trung bình (%)

CV (%)

Ngọn

91.91

93.04

92.86

92.60

0.6

Giữa thân

91.36

90.73

90.74

90.94

0.4

Gốc

89.68

88.73

88.89

89.10

0.6

BQ

91.08

90.83

90.83

90.91

0.2

(Ghi chú: Cv- hệ số biến động)

Kết quả ở bảng 2 ghi nhận thời gian làm khô thân chuối về các ẩm độ mục tiêu.Vì ẩm độ mục tiêu đặt ra là các trị số làm tròn cách nhau 10%, mức ẩm độ mục tiêu đầu tiên được chọn là 50% gần với ẩm độ tự nhiên, còn mức ẩm độ mục tiêu thấp nhất là 10% và cũng là giới hạn cuối cùng của thí nghiệm. Theo đó, có 6 mức ẩm độ mục tiêu đã được xác định: 90% (Ẩm độ ban đầu) – 50% - 40% - 30% - 20% và 10%.

Do thân chuối mọng nước nên việc làm khô tốn khá nhiều thời gian. Để làm khô đến độ ẩm mục tiêu cuối cùng (M = 10%) phải mất 9 ngày. Theo số liệu hiện diện (bảng 2), ẩm độ mục tiêu của chuối cần đạt được càng thấp thì thời gian rút khô càng lâu (ở đây, ẩm độ đạt được là con số chủ động, còn ngày rút khô là con số phụ thuộc). Số lượng ngày rút khô để đạt tới ẩm độ mục tiêu không hoàn toàn là một tỷ lệ tuyến tính với ẩm độ, mặc dù mức ẩm độ đã xác định trước là cách nhau đều đặn với biên độ 10%. Cụ thể, để giảm ẩm độ từ 90% xuống 50% phải mất 2,3 ngày, và mức sau đó cũng mất khoảng 2 ngày; nhưng từ mốc 30% xuống 20% và xuống 10% thì chỉ mất khoảng1 ngày cho mỗi mức. Tóm lại là, càng đến gần ẩm độ 10% thì tốc độ (thời gian) đạt được càng nhanh hơn (hình 1).

Bảng 3.2 Kết quả theo dõi làm khô nguyên liệu

Ẩm độ mục tiêu

Lặp 1

Lặp 2

Lặp 3

Thời gian làm khô BQ (ngày)

CV (%)

Mo = 90%

1

0.5

0.5

0.67

43.3

M1 = 50%

2

2.5

2.5

2.33

12.5

M2 = 40%

5

4.5

4.5

4.67

6.2

M3 = 30%

7

6.6

6.5

6.7

3.9

M4 = 20%

8

7.5

7.5

7.67

3.8

M5 = 10%

9

8.5

8.5

8.67

3.3

Nghiên cứu xây dựng công thức ủ thân chuối thải loại sau thu hoạch thành phân bón hữu cơ chất lượng cao
Hình 1. Kết quả khả năng rút khô của thân chuối cắt lát

3.2 Kết quả ủ phân chuối

Ở tuần thứ 3, khi quá trình lên men xảy ra, các enzyme của vi sinh vật, nấm đã tiêu thụ các chất hợp chất hữu cơ và thải ra các acid hữu cơ, trong giai đoạn đầu (15 ngày đầu) của quá trình ủ, các acid này bị tích tụ và kết quả làm giảm pH. Quá trình phân giải trải qua nhiều bước hình thành ra các sản phẩm trung gian nhiều loại acid hữu cơ khác nhau (hình 2). Đến ngày thứ 25, độ pH trong đống ủ ở các nghiệm thức có sự thay đổi đột ngột (theo chiều hướng tăng); điều này được giải thích là do các chất hữu cơ trong thân chuối được phân hủy bởi enzyme và bởi ảnh hưởng của than sinh học. Từ ngày thứ 35, độ pH ở các nghiệm thức đều duy trì ở mức 7,0 – 7.49 (đến khi đống ủ hoai hoàn toàn). Không có sự khác biệt về độ pH ở các nghiệm thức thí nghiệm.Điều này khẳng định thêm vai trò cải thiện độ pH (Nơi có pH thấp) của than sinh học đúng như ghi nhận trong nghiên cứu của các tác giả: Gaskin và cộng sự (2010); Vũ Thị Quyền và cộng sự (2017).

Nghiên cứu xây dựng công thức ủ thân chuối thải loại sau thu hoạch thành phân bón hữu cơ chất lượng cao
Hình 2.Thay đổi pH của hỗn hợp ủ theo thời gian

Về mặt cảm quan có thể thấy, sau 50 ngày ủ, tất cả các nghiệm thức đều có dấu hiệu hoai mục; trong đó, nghiệm thức M2 (40%) và M3 (30%) cho phân ủ tơi, mịn và có mùi hăng nhẹ hơn so với các nghiệm thức còn lại. Điều này có thể lý giải ẩm độ của nguyên liệu khi đưa vào ủ đã có những ảnh hưởng đến chất lượng phân ủ cũng như thời gian nguyên liệu hoai mục. hai nghiệm thức M3 (ẩm độ nguyên liệu 30%) và M2 (ẩm độ nguyên liệu 40%) được đánh giá là tốt nhất ở thí nghiệm này. Nói cách khác, khi làm khô thân chuối về ẩm độ 30-40% sẽ cho kết quả phân ủ tốt hơn.

3.3 Kết quả phân tích các chỉ tiêu chất lượng phân chuối sau ủ

Kết quả ở bảng 3 ghi nhận: Thành phần chất hữu cơ có trong thân chuối, phân bò và than sinh học nhanh chóng bị phân hủy bởi enzyme của vi sinh vật. Sau thời gian phân hủy, khối ủ nhanh chóng chuyển sang trạng thái ổn định. Có thể lý giải thêm bởi các lỗ rỗng trong than sinh học, bề mặt của than sinh học, sự thấm hút các chất dinh dưỡng vô cơ cũng như chất hữu cơ và các loại khí mang lại một môi trường lý tưởng cho vi sinh vật như kết luận của Vũ Thị Quyền và cộng sự (2017). Ở thí nghiệm này, hàm lượng chất hữu cơ đạt cao nhất là ở NT3 và NT4 với giá trị tương ứng 34,74% và 34,82%.

Bảng 3. Kết quả phân tích thành phần chất hữu cơ và các chỉ tiêu khác theo Thông tư 09/2019/TT-BNN-PTNT

Tên chỉ tiêu

Kết quả

Đơn vị

Nghiệm thức

NT1

NT2

NT3

NT4

NT5

NT6

Nts

%

1.62

1.77

2.62

2.66

2.01

1.71

P2O5

%

4.35

3.23

6.14

6.21

4.23

3.12

K2O

%

6.61

2.46

8.65

8.57

6.47

4.41

Acid humic

%

-

-

1.54

-

-

-

Acid fulvic

%

-

-

0.45

-

-

-

C/N

-

8.68

10.32

10.44

11.03

11.89

11.07

E.coli

MPN/g

Không phát hiện

Không phát hiện

Không phát hiện

Không phát hiện

Không phát hiện

Không phát hiện

Samonella spp

/25g

Không phát hiện

Không phát hiện

Không phát hiện

Không phát hiện

Không phát hiện

Không phát hiện

CHC

%

29.27

31.65

34.74

34.82

22.84

22.56

Tỉ lệ C/N biểu thị mức độ phân hủy các chất hữu cơ và mức cân bằng dinh dưỡng có trong khối ủ, báo hiệu thời điểm kết thúc của quá trình ủ. Tỉ lệ C/N từ 8.68 – 11.89. Đối chiếu với tiêu chuẩn quy định tại Nghị định số 84/2019/NĐ-CP và Thông tư số 09/2019/TT-BNNPTNT ngày 27/8/2019 của Bộ trưởng Bộ NN-PTNT ban hành “Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng phân bón QCVN 01-189: 2019/BNNPTNT” thì phân hữu cơ có C/N <12 là đạt yêu cầu. Ở thí nghiệm này, tất cả các nghiệm thức NT1, NT2 và NT3 đều đạt yêu cầu của tiêu chuẩn phân bón hữu cơ theo TCVN.

Tất cả các nghiệm thức đều không phát hiện vi sinh vật gây hại.

Về mặt cảm quan, phân hữu cơ ở nghiệm thức NT3 và NT4 có màu sắc và độ mịn sản phẩm khá nổi trội. Xem xét một cách tổng thể thì nghiệm thức NT3 và NT4 được đánh giá tốt hơn cả về tất cả các chỉ tiêu nghiên cứu. NT3 và NT4 đạt chuẩn (C/N <12, pH 7,0, giàu NPK, humic), nhờ than sinh học tăng pH và giữ dinh dưỡng, vi sinh thúc phân hủy hữu cơ (34.74-34.82%), quy trình nghiên cứu rút ngắn thời gian ủ từ 60 ngày xuống còn 50 ngày so với nghiên cứu năm 2021 của Vũ Thị Quyền và cộng sự.

4. Kết luận

- Xác định được ẩm độ ban đầu của thân chuối thải loại sau thu hoạch là 90.91%. Để đưa vào ủ, thân chuối được băm nhỏ (2-4 cm) và được làm khô về ẩm độ 30 – 40%. Thời gian làm khô nguyên liệu 4 – 6 ngày.

- Nghiệm thức phối trộn: 100 kg nguyên liệu +20kg phân bò +5 kg than sinh học + 0,25 lít chế phẩm vi sinh. Sau 50 ngày ủ, phân chuối hoai mục hoàn toàn, mùi hăng nhẹ, tơi, màu nâu đen; đạt pH 7.23 – 7.49, N tổng 2.62 – 2.66%, P₂O₅ 6.14 – 6.21%, K₂O 8.57-8.65%, axit humic 1.54-1.22%, tỷ lệ C/N 10.03 – 10.44; không phát hiện Escherichia coliSalmonella spp, phù hợp thông tư 09/2019/TT-BNNPTNT “Quy chuẩn quốc gia về chất lượng phân bón”.


Tài liệu tham khảo

  1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông nghiệp. (2025). Báo cáo ngành trồng trọt tại Việt Nam.
  2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông nghiệp. (2019). Thông tư số 09/2019/TT-BNNPTNT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng phân bón (QCVN 01-189:2019/BNNPTNT).
  3. Chính phủ. (2019). Nghị định số 84/2019/NĐ-CP: Quy định về quản lý phân bón.
  4. Chính phủ. (2022). Nghị định số 130/2022/NĐ-CP: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 84/2019/NĐ-CP quy định về quản lý phân bón và Nghị định số 94/2019/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Trồng trọt.
  5. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông nghiệp. (2023). Văn bản hợp nhất số 04/VBHN-BNNPTNT: Quy định về quản lý phân bón.
  6. Perveen, B., & Khan, M. R. (2010). Transformation of agricultural wastes into sugar by Trichoderma viride. Journal of Pure and Applied Microbiology, 4(1), 103-108.
  7. Vũ Thị Quyền, Nguyễn Đăng Nghĩa, & Mai Thành Phụng. (2017). Than sinh học (biochar) – phân bón thế hệ mới cho nông nghiệp xanh – bền vững. Trong Kỷ yếu khoa học: Quản lý dịch hại tổng hợp cây trồng theo hướng hữu cơ sinh học trong phát triển nông nghiệp xanh bền vững (ISBN 978-604-60-2664-8). Nhà xuất bản Nông nghiệp chi nhánh TP.HCM.
  8. Vũ Thị Quyền, & Lê Quốc Bảo. (2021). Ảnh hưởng của phân bón hữu cơ tạo từ thân chuối đến sinh trưởng và năng suất cây ngải cứu Artemisia vulgaris. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông nghiệp, (16), 62-67.
  9. Vũ Thị Quyền, Phạm Thế Kiên, Nguyễn Vũ Ngọc Anh, & Huỳnh Anh Bảo. (2021). Đánh giá ảnh hưởng của giá thể dinh dưỡng đến sinh trưởng của cây trồng vườn đứng. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông nghiệp, (20), 78-82.

Bài liên quan

Gian nan tìm lối thương hiệu gạo sạch Vĩnh Tuy

Gian nan tìm lối thương hiệu gạo sạch Vĩnh Tuy

Thôn Vĩnh Tuy, xã Quảng Ninh, tỉnh Quảng Trị là một làng thuần nông với cánh đồng rộng mênh mông chạy thẳng tắp nằm cạnh dòng sông Nhật Lệ hiền hoà. Bà con nơi đây bao đời gắn bó với đồng ruộng với ước muốn trồng trọt, canh tác làm ra hạt gạo thơm ngon, gạo sạch để mọi người gần xa biết đến địa danh làng, tuy nhiên con đường khẳng định thương hiệu còn lắm gian nan thử thách…
Thanh tra phát hiện nhiều sai phạm tại Chi cục Kiểm lâm Tp. Huế

Thanh tra phát hiện nhiều sai phạm tại Chi cục Kiểm lâm Tp. Huế

Trên cơ sở kết quả thanh tra, cơ quan chức năng đã quyết định thu hồi hơn 579 triệu đồng do các sai phạm trong quản lý tài chính và tài sản công...
Tp. Huế: Hợp tác xã - động lực quan trọng phát triển kinh tế - xã hội địa phương

Tp. Huế: Hợp tác xã - động lực quan trọng phát triển kinh tế - xã hội địa phương

Lễ kỷ niệm và phát động Tháng hành động năm 2026 là dấu mốc quan trọng, tiếp tục khẳng định vị thế của hợp tác xã trong nền kinh tế, lan tỏa tinh thần đoàn kết
Quản lý dinh dưỡng chính xác giúp lúa ĐBSCL rẻ và sạch hơn

Quản lý dinh dưỡng chính xác giúp lúa ĐBSCL rẻ và sạch hơn

Trong khi giá vật tư tăng cao, quản lý dinh dưỡng chính xác trở thành giải pháp then chốt giúp giảm chi phí, nâng cao hiệu quả, thúc đẩy sản xuất lúa bền vững.
NIFAM góp phần thúc đẩy môi trường thực phẩm sạch tại Hà Nội

NIFAM góp phần thúc đẩy môi trường thực phẩm sạch tại Hà Nội

Không chỉ dừng ở một nghiên cứu liên ngành về dinh dưỡng, NIFAM đang từng bước đưa kiến thức về thực phẩm, dinh dưỡng và tiêu dùng có trách nhiệm đến gần hơn với cư dân đô thị Hà Nội. Thông qua các hoạt động kết nối người tiêu dùng với nông dân, với vùng sản xuất và với những chuyên gia trong lĩnh vực thực phẩm, chương trình góp phần cải thiện môi trường thực phẩm theo hướng minh bạch, an toàn và bền vững.
Chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi, hướng tới phát triển nông nghiệp bền vững

Chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi, hướng tới phát triển nông nghiệp bền vững

Sáng 07/4, UBND xã Yên Phú, tỉnh Tuyên Quang tổ chức Hội nghị tọa đàm định hướng chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi, hướng tới phát triển nông nghiệp bền vững năm 2026. Tọa đàm không chỉ là dịp để địa phương xác định hướng đi mới cho sản xuất nông nghiệp, mà còn làm rõ thực trạng sản xuất nông, lâm nghiệp, chăn nuôi, thủy sản, chỉ ra những khó khăn, hạn chế và gợi mở các giải pháp phát huy tiềm năng, lợi thế địa phương trong giai đoạn tới.

CÁC TIN BÀI KHÁC

Ẩm thực chay: Lựa chọn xanh hướng tới lối sống bền vững

Ẩm thực chay: Lựa chọn xanh hướng tới lối sống bền vững

Sự quan tâm đến sức khỏe đang thúc đẩy xu hướng ăn chay trở nên phổ biến rộng rãi trong xã hội hiện đại. Tại các thành phố lớn, nhiều người tìm đến chế độ thuần ăn thực vật với kỳ vọng cải thiện sức khỏe và góp phần điều trị một số bệnh lý. Tuy nhiên, hành trình này thường đối mặt với những thách thức đáng kể, xuất phát từ sự thiếu hụt kiến thức và kinh nghiệm.
Công nghệ xanh và sinh học - Động lực cho tương lai phát triển

Công nghệ xanh và sinh học - Động lực cho tương lai phát triển

Trong bối cảnh thế giới đang đối mặt với hàng loạt thách thức như biến đổi khí hậu, cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường và dịch bệnh toàn cầu, hai lĩnh vực Công nghệ xanh và Công nghệ sinh học đang nổi lên như những trụ cột chiến lược, định hình tương lai phát triển dài hạn của nhân loại. Không chỉ mang lại giải pháp cho các vấn đề cấp bách, hai lĩnh vực này còn mở ra một mô hình phát triển mới - hài hòa giữa kinh tế, môi trường và con người.
Công nghệ truy xuất nguồn gốc: “Tấm hộ chiếu” minh bạch cho nông sản du lịch

Công nghệ truy xuất nguồn gốc: “Tấm hộ chiếu” minh bạch cho nông sản du lịch

Trong kỷ nguyên số, khi người tiêu dùng không chỉ ăn bằng vị giác mà còn bằng niềm tin, do vậy việc ứng dụng công nghệ truy xuất nguồn gốc (TXNG) như QR Code hay Blockchain không còn là một lựa chọn cộng thêm, mà đã trở thành xu hướng tất yếu - một “tấm hộ chiếu” quyền lực giúp nông sản tự tin bước vào thị trường du lịch cao cấp.
Triển khai thực hiện Chiến lược Sở hữu trí tuệ đến năm 2030: Động lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển

Triển khai thực hiện Chiến lược Sở hữu trí tuệ đến năm 2030: Động lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển

Trong bối cảnh kinh tế tri thức và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang phát triển mạnh mẽ, sở hữu trí tuệ (SHTT) ngày càng trở thành nguồn lực quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Giải pháp tạo nguồn thực phẩm sạch cho phát triển du lịch

Giải pháp tạo nguồn thực phẩm sạch cho phát triển du lịch

Hiện nay, ẩm thực ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên bản sắc của du lịch Việt Nam. Không chỉ dừng lại ở việc thưởng thức món ăn, du khách ngày nay quan tâm nhiều hơn đến nguồn gốc nguyên liệu, quy trình sản xuất và mức độ an toàn của thực phẩm. Do đó cần nhìn nhận rõ vai trò, đánh giá đúng thực trạng nguồn cung thực phẩm sạch để có những giải pháp phát triển phù hợp.
Thuyết di truyền Mendel - Nền tảng của di truyền học hiện đại

Thuyết di truyền Mendel - Nền tảng của di truyền học hiện đại

Thuyết di truyền của Gregor Mendel được xem là nền tảng của di truyền học hiện đại, mở ra một cách hiểu hoàn toàn mới về cách các đặc điểm sinh học được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Dù được công bố từ giữa thế kỷ XIX, những phát hiện của Mendel vẫn giữ nguyên giá trị khoa học và được ứng dụng rộng rãi trong nông nghiệp, y học và công nghệ sinh học ngày nay.
Du lịch xanh cần “chuẩn hóa” thực phẩm sạch

Du lịch xanh cần “chuẩn hóa” thực phẩm sạch

Du lịch xanh không thể chỉ được đo bằng cảnh quan trong lành, vật liệu thân thiện với môi trường hay những khẩu hiệu giảm phát thải. Với du khách, “màu xanh” của một điểm đến còn nằm ngay trong bữa ăn hằng ngày - thực phẩm có an toàn hay không, có minh bạch nguồn gốc hay không, có được kiểm soát xuyên suốt từ vùng nguyên liệu đến bàn ăn hay không. Khi khái niệm “thực phẩm sạch” vẫn còn được hiểu theo nhiều cách khác nhau, việc chuẩn hóa từ tiêu chuẩn, chứng nhận đến truy xuất và hậu kiểm đang trở thành yêu cầu cấp thiết để du lịch xanh phát triển đúng nghĩa và bền vững.
Đảm bảo an toàn thực phẩm mùa lễ hội: Đồng bộ nhiều giải pháp

Đảm bảo an toàn thực phẩm mùa lễ hội: Đồng bộ nhiều giải pháp

Mùa lễ hội đầu năm luôn là thời điểm sôi động của đời sống văn hóa - xã hội tại Việt Nam. Từ các lễ hội truyền thống ở làng quê đến những sự kiện văn hóa, du lịch quy mô lớn, hàng triệu người dân và du khách cùng tham gia, kéo theo nhu cầu tiêu dùng thực phẩm tăng mạnh. Tuy nhiên, bên cạnh không khí vui tươi và giá trị văn hóa đặc sắc, vấn đề an toàn thực phẩm trong mùa lễ hội luôn là mối lo thường trực của xã hội. Trong bối cảnh lượng thực phẩm tiêu thụ lớn, hoạt động kinh doanh mang tính thời vụ và điều kiện kiểm soát còn nhiều hạn chế, nguy cơ mất an toàn thực phẩm có thể gia tăng nếu không có những giải pháp quản lý và nâng cao nhận thức kịp thời.
Lúa mì (tiểu mạch) - Nền tảng của văn minh nông nghiệp nhân loại

Lúa mì (tiểu mạch) - Nền tảng của văn minh nông nghiệp nhân loại

Lúa mì, hay còn gọi là tiểu mạch, có tên khoa học là Triticum spp., là một trong những cây lương thực quan trọng nhất của nhân loại. Cùng với lúa gạo và ngô, lúa mì tạo thành “bộ ba” cây trồng nuôi sống phần lớn dân số thế giới. Không chỉ là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu, lúa mì còn gắn liền với lịch sử phát triển của các nền văn minh cổ đại và hiện đại.
Chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi, hướng tới phát triển nông nghiệp bền vững

Chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi, hướng tới phát triển nông nghiệp bền vững

Sáng 07/4, UBND xã Yên Phú, tỉnh Tuyên Quang tổ chức Hội nghị tọa đàm định hướng chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi, hướng tới phát triển nông nghiệp bền vững năm 2026. Tọa đàm không chỉ là dịp để địa phương xác định hướng đi mới cho sản xuất nông nghiệp, mà còn làm rõ thực trạng sản xuất nông, lâm nghiệp, chăn nuôi, thủy sản, chỉ ra những khó khăn, hạn chế và gợi mở các giải pháp phát huy tiềm năng, lợi thế địa phương trong giai đoạn tới.
Ngô, khoai, sắn - “bệ đỡ” thầm lặng của an ninh lương thực Việt Nam

Ngô, khoai, sắn - “bệ đỡ” thầm lặng của an ninh lương thực Việt Nam

Ngô, khoai và sắn là ba loại cây trồng quen thuộc, gắn bó lâu đời với sản xuất nông nghiệp và đời sống người dân Việt Nam. Không chỉ đóng vai trò là nguồn lương thực bổ sung, chúng còn góp phần quan trọng vào đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu, gia tăng dân số và những biến động khó lường của thị trường toàn cầu.
Nghị quyết mới của Chính phủ mở hướng phát triển nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn

Nghị quyết mới của Chính phủ mở hướng phát triển nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn

Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 85/NQ-CP ngày 4/4/2026 về Chương trình hành động thực hiện Kết luận số 219-KL/TW, tiếp tục triển khai Nghị quyết số 19-NQ/TW khóa XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Đáng chú ý, nghị quyết tiếp tục nhấn mạnh định hướng phát triển nông nghiệp sinh thái, khuyến khích nông nghiệp xanh, hữu cơ, tuần hoàn, gắn với nâng cao giá trị gia tăng, bảo vệ môi trường và cải thiện đời sống người dân nông thôn.
XEM THÊM
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2025 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính