Thứ sáu 29/05/2026 22:40Thứ sáu 29/05/2026 22:40 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Nghiên cứu xây dựng công thức ủ thân chuối thải loại sau thu hoạch thành phân bón hữu cơ chất lượng cao

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Nghiên cứu tập trung vào việc tận dụng thân chuối thải loại để sản xuất phân bón hữu cơ, góp phần giảm chất thải nông nghiệp tại Việt Nam. Nguyên liệu sử dụng trong nghiên cứu là thân chuối sau thu hoạch được lấy từ vườn chuối ogarnic của hộ gia đình chị Lê Tuyết Mai tại xã Xuyên Mộc, Thành phố Hồ Chí Minh.
Nghiên cứu xây dựng công thức ủ thân chuối thải loại sau thu hoạch thành phân bón hữu cơ chất lượng cao

Tóm tắt

Nghiên cứu tập trung vào việc tận dụng thân chuối thải loại để sản xuất phân bón hữu cơ, góp phần giảm chất thải nông nghiệp tại Việt Nam. Nguyên liệu sử dụng trong nghiên cứu là thân chuối sau thu hoạch được lấy từ vườn chuối ogarnic của hộ gia đình chị Lê Tuyết Mai tại xã Xuyên Mộc, Thành phố Hồ Chí Minh. Cụ thể, nguyên liệu chuối có ẩm độ ban đầu (hàm lượng nước ban đầu) 90.91%; và bằng phương pháp thực nghiệm, nghiên cứu đã xác định quy trình ủ tạo phân hữu cơ từ thân chuối tối ưu như sau: Băm nhỏ và làm khô thân chuối về ẩm độ mục tiêu 30-40%, phối trộn với 20% phân bò + 5% than sinh học + 0,25 lít chế phẩm vi sinh vật/m³, ủ hiếm khí.

Kết quả sau 7 tuần ủ, phân đạt pH 7.23 – 7.49; N tổng 2.62 – 2.66%; P₂O₅ 6.14 – 6.21%; K₂O 8.57-8.65%; axit humic 1.54-1.22%; tỷ lệ C/N 10.03 – 10.44; không phát hiện Escherichia coliSalmonella spp, phù hợp thông tư 09/2019/TT-BNNPTNT “Quy chuẩn quốc gia về chất lượng phân bón”. Phương pháp này giúp gia tăng giá trị chất thải nông nghiệp, hỗ trợ sản xuất phân bón hữu cơ chất lượng cao.

Từ khóa: phân bón hữu cơ, thân chuối thải, than sinh học, ủ phân, nông nghiệp bền vững

1. Đặt vấn đề

Thân chuối thải loại chiếm 88% trọng lượng cây sau thu hoạch, với diện tích trồng 163.000 ha, sản lượng hơn 1,75 triệu tấn quả; mỗi năm các farm chuối của Việt Nam đã tạo ra khoảng hơn 2 triệu tấn thân thải loại. Bản thân cây chuối chứa rất nhiều nước (90 – 93%), với nhiều chất xơ (cellulose, lignin và hemicellulose) và khá giàu kali, canxi, magiê, cùng một số nguyên tố vi lượng khác; đặc biệt, thân chuối chứa một số hợp chất hữu cơ quan trọng tanin (5–10 mg/g chất khô), polyphenol (15–30 mg GAE/g chất khô) và một số enzym tự nhiên (hợp chất PPO, POD: 50–150 U/mg protein). Đây là nguồn dinh dưỡng lý tưởng cho nấm bệnh hại phát triển và cũng là điều gây áp lực môi trường lớn về bệnh dịch nếu không có giải pháp xử lý phù hợp và kịp thời. Mặc dù các cơ sở gia công sợi chuối đã có mặt ở Việt Nam để giải quyết phần nào vấn nạn của tình trạng này; tuy nhiên, lượng chuối thải loại vẫn đang trong tình trạng quá tải; nhất là tại các vườn hộ quy mô vừa và nhỏ, và vườn ở khu vực giao thông đi lại khó khăn. Vì vậy, để vườn hộ được an toàn, việc nghiên cứu biến vấn nạn này thành phân hữu cơ giúp cải thiện đất và giảm sử dụng phân hóa học là điều cấp thiết. Các nghiên cứu trước đây của tác giả đã sử dụng than sinh học (biochar) như nguồn chất mang giúp cải thiện độ pH đất (vùng đất chua), giữ ẩm và lưu trữ chất dinh dưỡng (Ca, Mg, K, P), là nơi ở lý tưởng cho vi sinh vật thúc đẩy phân hủy. Ở nghiên cứu này tác giả tập trung vào thành phần công thức phối trộn để kỳ vọng rút ngắn thời gian ủ chín của nguyên liệu. Giống chuối được sử dụng cho đề tài là chuối Nam Mỹ (Musa paradisiaca L.), thu từ vườn chuối tại Xuyên Mộc, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

2.1 Đối tượng và vật liệu

Đối tượng: Thân chuối tươi sau thu hoạch, độ ẩm ban đầu 90,91%. Thân chuối sau đó được băm nhỏ thành từng khúc 2 - 4cm và trải ra phơi nắng để làm khô về các mức ẩm độ mục tiêu sử dụng cho nghiên cứu.

Vật liệu: Phân bò, than sinh học từ củi cây keo lai (pH 8,8; N 1,4%; Ca 23,6%; K 17,8%), chế phẩm trichoderma 109 CFU (được cung cấp bởi Phòng nghiên cứu của Khoa Công nghệ ứng dụng, Trường Đại học Văn Lang).

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp xác định độ ẩm ban đầu và độ ẩm mục tiêu của thân chuối

Để xác định độ ẩm ban đầu, thân chuối được chặt vào sáng sớm; lấy 3 mẫu ở 3 vị trí: gốc, giữa thân, ngọn. Sau đó bảo quản trong túi nilong kín miệng và đưa về phòng thí nghiệm để xác định độ ẩm ban đầu của thân chuối theo phương pháp của Kirsten và Sigrit (2000): Cốc đựng mẫu đã được sấy và làm nguội trong bình hút ẩm, cân chuối và cốc đã được sấy đạt khối lượng 100g vào cho vào tủ sấy nhiệt độ 1050±20C. Sấy mẫu trong 24h, sau đó làm nguội trong bình hút ẩm 1 giờ và đem cân. Sấy đến khi khối lượng không đổi.

Độ ẩm tính (MC%) theo phần trăm khối lượng công thức: Mc(%)=(M1-M2)/(M1-Mo)x100

Trong đó:

Mo: trọng lượng cốc đựng mẫu (g);

M1: trọng lượng cốc và mẫu trước khi sấy (g).

M2: trọng lượng cốc và mẫu sau khi sấy (g).

Xác định độ ẩm muc tiêu: Thân chuối được băm nhỏ và làm khô đến các mức ẩm độ 10% - 20% - 30% - 40% - 50% bằng cách phơi nắng hay dùng quạt công nghiệp (gọi là nguyên liệu). Độ ẩm nguyên liệu thấp nhất phải đạt là 20%.

2.2.2 Bố trí thí nghiệm ủ phân chuối

Nguyên liệu ở các mức ẩm độ khác nhau (kí hiệu là M, bao gồm: Mo=Ẩm độ ban đầu; M1=50%; M2 = 40%; M3=30%; M4=20%; M5=20%).

Thí nghiệm một nhân tố (Nhân tố thí nghiệm là ẩm độ nguyên liệu), gồm 6 nghiệm thức (mỗi nghiệm thức tương ứng với 10kg nguyên liệu), mỗi nghiệm thức 3 lần lặp lại, đơn vị thí nghiệm được tính là kilogam nguyên liệu. Tổng số đơn vị thí nghiệm là 180kg.

Các nghiệm thức cụ thể như sau:

NT1= 100 kg Mo +20kg phân bò +5 kg than sinh học + 0,25 lít chế phẩm vi sinh

NT2= 100 kg M1 +20kg phân bò +5 kg than sinh học + 0,25 lít chế phẩm vi sinh

NT3= 100 kg M2 +20kg phân bò +5 kg than sinh học + 0,25 lít chế phẩm vi sinh

NT4= 100 kg M3 +20kg phân bò +5 kg than sinh học + 0,25 lít chế phẩm vi sinh

NT5= 100 kg M4 +20kg phân bò +5 kg than sinh học + 0,25 lít chế phẩm vi sinh

NT6= 100 kg M5 +20kg phân bò +5 kg than sinh học + 0,25 lít chế phẩm vi sinh

Hỗn hợp trên được trộn đều với nhau và được thêm nước đến ẩm độ 50%. Ẩm độ này được duy trì trong suốt thời gian ủ. Nguyên liệu sau đó được đưa vào thùng ủ và đóng chặt nắp. Định kỳ 3 ngày mở ra kiểm tra ẩm độ và nhiệt độ khối ủ một lần; đồng thời, đảo đều khối ủ để tăng độ thoáng khí, tạo điều kiện thuận lợi tăng sinh mật số vi sinh vật. Thực hiện đo nhanh độ pH cho đống ủ từ tuần thứ 2 trở đi.

2.2.3 Phương pháp phân tích sản phẩm sau ủ

Phân sau khi ủ hoai, tiến hành thu hồi sản phẩm đã hoai mục đi phân tích các chỉ tiêu quy định của một loại phân bón hữu dựa trên Thông tư 09/2019/TT-BNNPTNT. Chỉ tiêu pHKCl theo TCVN 9297 : 2012; OM (%) theo TCVN 9294 : 2012; Nts (%) theo TCVN 8557 : 2010; P2O5 tổng số theo TCVN 8563 : 2010; K2O tổng số theo TCVN 8562 : 2010; Acid fulvic theo TCVN 8561 : 2010; Acid humic theo TCVN 8561 : 2010; E.Coli giả định và Salmonella spp theo Ref: TCVN 6846 : 2007 (ISO 7251 : 2005); Vi khuẩn Bacillus subtilistheo TCVN 4884-2 : 2015; Xạ khuẩn Streptomyces spp theo TCVN 4884-2 : 2015.

3. Kết quả và thảo luận

3.1 Kết quả xác định ẩm độ ban đầu và làm khô nguyên liệu về các ẩm độ mục tiêu

Thân chuối được chặt vào lúc sáng sớm (mặt trời chưa mọc); lấy 3 mẫu ở 3 vị trí: gốc, giữa thân, ngọn. Sau đó bảo quản trong túi nilong kín miệng và đưa về phòng thi nghiệm để xác định độ ẩm ban đầu của thân chuối. Ẩm độ tự nhiên của thân chuối tại các vị trí khác nhau (gốc – giữa thân và ngọn) đã có sự khác nhau: phần gốc có ẩm độ tự nhiên bình quân thấp hơn so với phần giữa thân và ngọn. Tuy nhiên, sự khác biệt này chưa có ý nghĩa về mặt thống kê (bảng 1). Kết quả ở bảng 1 chỉ ra: Ẩm độ tự nhiên bình quân của thân chuối là 90,91%; trong đó: phần thân gốc có ẩm độ tự nhiên 89,1%, phần thân giữa 90.94%, và phần thân ngọn 92,6%. Hệ số biến động rất nhỏ (<1.0%), chứng tỏ độ ẩm tự nhiên của thân chuối ở giai đoạn thu hoạch là ổn định. Kết quả này cũng tương đồng với nghiên cứu của Perveen và cộng sự (2010) về độ ẩm của thân chuối (khoảng 91%); Vũ Thị Quyền và cộng sự (2021) xác định ẩm độ tự nhiên của thân chuối là 91,09%.

Bảng 1. Kết quả ẩm độ tự nhiên (ÂĐTN, %) của thân cây chuối sau thu hoạch

Bộ phận của cây

Lặp 1 (%)

Lặp 2 (%)

Lặp 3 (%)

Giá trị trung bình (%)

CV (%)

Ngọn

91.91

93.04

92.86

92.60

0.6

Giữa thân

91.36

90.73

90.74

90.94

0.4

Gốc

89.68

88.73

88.89

89.10

0.6

BQ

91.08

90.83

90.83

90.91

0.2

(Ghi chú: Cv- hệ số biến động)

Kết quả ở bảng 2 ghi nhận thời gian làm khô thân chuối về các ẩm độ mục tiêu.Vì ẩm độ mục tiêu đặt ra là các trị số làm tròn cách nhau 10%, mức ẩm độ mục tiêu đầu tiên được chọn là 50% gần với ẩm độ tự nhiên, còn mức ẩm độ mục tiêu thấp nhất là 10% và cũng là giới hạn cuối cùng của thí nghiệm. Theo đó, có 6 mức ẩm độ mục tiêu đã được xác định: 90% (Ẩm độ ban đầu) – 50% - 40% - 30% - 20% và 10%.

Do thân chuối mọng nước nên việc làm khô tốn khá nhiều thời gian. Để làm khô đến độ ẩm mục tiêu cuối cùng (M = 10%) phải mất 9 ngày. Theo số liệu hiện diện (bảng 2), ẩm độ mục tiêu của chuối cần đạt được càng thấp thì thời gian rút khô càng lâu (ở đây, ẩm độ đạt được là con số chủ động, còn ngày rút khô là con số phụ thuộc). Số lượng ngày rút khô để đạt tới ẩm độ mục tiêu không hoàn toàn là một tỷ lệ tuyến tính với ẩm độ, mặc dù mức ẩm độ đã xác định trước là cách nhau đều đặn với biên độ 10%. Cụ thể, để giảm ẩm độ từ 90% xuống 50% phải mất 2,3 ngày, và mức sau đó cũng mất khoảng 2 ngày; nhưng từ mốc 30% xuống 20% và xuống 10% thì chỉ mất khoảng1 ngày cho mỗi mức. Tóm lại là, càng đến gần ẩm độ 10% thì tốc độ (thời gian) đạt được càng nhanh hơn (hình 1).

Bảng 3.2 Kết quả theo dõi làm khô nguyên liệu

Ẩm độ mục tiêu

Lặp 1

Lặp 2

Lặp 3

Thời gian làm khô BQ (ngày)

CV (%)

Mo = 90%

1

0.5

0.5

0.67

43.3

M1 = 50%

2

2.5

2.5

2.33

12.5

M2 = 40%

5

4.5

4.5

4.67

6.2

M3 = 30%

7

6.6

6.5

6.7

3.9

M4 = 20%

8

7.5

7.5

7.67

3.8

M5 = 10%

9

8.5

8.5

8.67

3.3

Nghiên cứu xây dựng công thức ủ thân chuối thải loại sau thu hoạch thành phân bón hữu cơ chất lượng cao
Hình 1. Kết quả khả năng rút khô của thân chuối cắt lát

3.2 Kết quả ủ phân chuối

Ở tuần thứ 3, khi quá trình lên men xảy ra, các enzyme của vi sinh vật, nấm đã tiêu thụ các chất hợp chất hữu cơ và thải ra các acid hữu cơ, trong giai đoạn đầu (15 ngày đầu) của quá trình ủ, các acid này bị tích tụ và kết quả làm giảm pH. Quá trình phân giải trải qua nhiều bước hình thành ra các sản phẩm trung gian nhiều loại acid hữu cơ khác nhau (hình 2). Đến ngày thứ 25, độ pH trong đống ủ ở các nghiệm thức có sự thay đổi đột ngột (theo chiều hướng tăng); điều này được giải thích là do các chất hữu cơ trong thân chuối được phân hủy bởi enzyme và bởi ảnh hưởng của than sinh học. Từ ngày thứ 35, độ pH ở các nghiệm thức đều duy trì ở mức 7,0 – 7.49 (đến khi đống ủ hoai hoàn toàn). Không có sự khác biệt về độ pH ở các nghiệm thức thí nghiệm.Điều này khẳng định thêm vai trò cải thiện độ pH (Nơi có pH thấp) của than sinh học đúng như ghi nhận trong nghiên cứu của các tác giả: Gaskin và cộng sự (2010); Vũ Thị Quyền và cộng sự (2017).

Nghiên cứu xây dựng công thức ủ thân chuối thải loại sau thu hoạch thành phân bón hữu cơ chất lượng cao
Hình 2.Thay đổi pH của hỗn hợp ủ theo thời gian

Về mặt cảm quan có thể thấy, sau 50 ngày ủ, tất cả các nghiệm thức đều có dấu hiệu hoai mục; trong đó, nghiệm thức M2 (40%) và M3 (30%) cho phân ủ tơi, mịn và có mùi hăng nhẹ hơn so với các nghiệm thức còn lại. Điều này có thể lý giải ẩm độ của nguyên liệu khi đưa vào ủ đã có những ảnh hưởng đến chất lượng phân ủ cũng như thời gian nguyên liệu hoai mục. hai nghiệm thức M3 (ẩm độ nguyên liệu 30%) và M2 (ẩm độ nguyên liệu 40%) được đánh giá là tốt nhất ở thí nghiệm này. Nói cách khác, khi làm khô thân chuối về ẩm độ 30-40% sẽ cho kết quả phân ủ tốt hơn.

3.3 Kết quả phân tích các chỉ tiêu chất lượng phân chuối sau ủ

Kết quả ở bảng 3 ghi nhận: Thành phần chất hữu cơ có trong thân chuối, phân bò và than sinh học nhanh chóng bị phân hủy bởi enzyme của vi sinh vật. Sau thời gian phân hủy, khối ủ nhanh chóng chuyển sang trạng thái ổn định. Có thể lý giải thêm bởi các lỗ rỗng trong than sinh học, bề mặt của than sinh học, sự thấm hút các chất dinh dưỡng vô cơ cũng như chất hữu cơ và các loại khí mang lại một môi trường lý tưởng cho vi sinh vật như kết luận của Vũ Thị Quyền và cộng sự (2017). Ở thí nghiệm này, hàm lượng chất hữu cơ đạt cao nhất là ở NT3 và NT4 với giá trị tương ứng 34,74% và 34,82%.

Bảng 3. Kết quả phân tích thành phần chất hữu cơ và các chỉ tiêu khác theo Thông tư 09/2019/TT-BNN-PTNT

Tên chỉ tiêu

Kết quả

Đơn vị

Nghiệm thức

NT1

NT2

NT3

NT4

NT5

NT6

Nts

%

1.62

1.77

2.62

2.66

2.01

1.71

P2O5

%

4.35

3.23

6.14

6.21

4.23

3.12

K2O

%

6.61

2.46

8.65

8.57

6.47

4.41

Acid humic

%

-

-

1.54

-

-

-

Acid fulvic

%

-

-

0.45

-

-

-

C/N

-

8.68

10.32

10.44

11.03

11.89

11.07

E.coli

MPN/g

Không phát hiện

Không phát hiện

Không phát hiện

Không phát hiện

Không phát hiện

Không phát hiện

Samonella spp

/25g

Không phát hiện

Không phát hiện

Không phát hiện

Không phát hiện

Không phát hiện

Không phát hiện

CHC

%

29.27

31.65

34.74

34.82

22.84

22.56

Tỉ lệ C/N biểu thị mức độ phân hủy các chất hữu cơ và mức cân bằng dinh dưỡng có trong khối ủ, báo hiệu thời điểm kết thúc của quá trình ủ. Tỉ lệ C/N từ 8.68 – 11.89. Đối chiếu với tiêu chuẩn quy định tại Nghị định số 84/2019/NĐ-CP và Thông tư số 09/2019/TT-BNNPTNT ngày 27/8/2019 của Bộ trưởng Bộ NN-PTNT ban hành “Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng phân bón QCVN 01-189: 2019/BNNPTNT” thì phân hữu cơ có C/N <12 là đạt yêu cầu. Ở thí nghiệm này, tất cả các nghiệm thức NT1, NT2 và NT3 đều đạt yêu cầu của tiêu chuẩn phân bón hữu cơ theo TCVN.

Tất cả các nghiệm thức đều không phát hiện vi sinh vật gây hại.

Về mặt cảm quan, phân hữu cơ ở nghiệm thức NT3 và NT4 có màu sắc và độ mịn sản phẩm khá nổi trội. Xem xét một cách tổng thể thì nghiệm thức NT3 và NT4 được đánh giá tốt hơn cả về tất cả các chỉ tiêu nghiên cứu. NT3 và NT4 đạt chuẩn (C/N <12, pH 7,0, giàu NPK, humic), nhờ than sinh học tăng pH và giữ dinh dưỡng, vi sinh thúc phân hủy hữu cơ (34.74-34.82%), quy trình nghiên cứu rút ngắn thời gian ủ từ 60 ngày xuống còn 50 ngày so với nghiên cứu năm 2021 của Vũ Thị Quyền và cộng sự.

4. Kết luận

- Xác định được ẩm độ ban đầu của thân chuối thải loại sau thu hoạch là 90.91%. Để đưa vào ủ, thân chuối được băm nhỏ (2-4 cm) và được làm khô về ẩm độ 30 – 40%. Thời gian làm khô nguyên liệu 4 – 6 ngày.

- Nghiệm thức phối trộn: 100 kg nguyên liệu +20kg phân bò +5 kg than sinh học + 0,25 lít chế phẩm vi sinh. Sau 50 ngày ủ, phân chuối hoai mục hoàn toàn, mùi hăng nhẹ, tơi, màu nâu đen; đạt pH 7.23 – 7.49, N tổng 2.62 – 2.66%, P₂O₅ 6.14 – 6.21%, K₂O 8.57-8.65%, axit humic 1.54-1.22%, tỷ lệ C/N 10.03 – 10.44; không phát hiện Escherichia coliSalmonella spp, phù hợp thông tư 09/2019/TT-BNNPTNT “Quy chuẩn quốc gia về chất lượng phân bón”.


Tài liệu tham khảo

  1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông nghiệp. (2025). Báo cáo ngành trồng trọt tại Việt Nam.
  2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông nghiệp. (2019). Thông tư số 09/2019/TT-BNNPTNT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng phân bón (QCVN 01-189:2019/BNNPTNT).
  3. Chính phủ. (2019). Nghị định số 84/2019/NĐ-CP: Quy định về quản lý phân bón.
  4. Chính phủ. (2022). Nghị định số 130/2022/NĐ-CP: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 84/2019/NĐ-CP quy định về quản lý phân bón và Nghị định số 94/2019/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Trồng trọt.
  5. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông nghiệp. (2023). Văn bản hợp nhất số 04/VBHN-BNNPTNT: Quy định về quản lý phân bón.
  6. Perveen, B., & Khan, M. R. (2010). Transformation of agricultural wastes into sugar by Trichoderma viride. Journal of Pure and Applied Microbiology, 4(1), 103-108.
  7. Vũ Thị Quyền, Nguyễn Đăng Nghĩa, & Mai Thành Phụng. (2017). Than sinh học (biochar) – phân bón thế hệ mới cho nông nghiệp xanh – bền vững. Trong Kỷ yếu khoa học: Quản lý dịch hại tổng hợp cây trồng theo hướng hữu cơ sinh học trong phát triển nông nghiệp xanh bền vững (ISBN 978-604-60-2664-8). Nhà xuất bản Nông nghiệp chi nhánh TP.HCM.
  8. Vũ Thị Quyền, & Lê Quốc Bảo. (2021). Ảnh hưởng của phân bón hữu cơ tạo từ thân chuối đến sinh trưởng và năng suất cây ngải cứu Artemisia vulgaris. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông nghiệp, (16), 62-67.
  9. Vũ Thị Quyền, Phạm Thế Kiên, Nguyễn Vũ Ngọc Anh, & Huỳnh Anh Bảo. (2021). Đánh giá ảnh hưởng của giá thể dinh dưỡng đến sinh trưởng của cây trồng vườn đứng. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông nghiệp, (20), 78-82.

Bài liên quan

"Quả ngọt" từ tư duy liên kết và đổi mới giống

"Quả ngọt" từ tư duy liên kết và đổi mới giống

Vụ lúa xuân 2026, Hà Tĩnh giành thắng lợi với năng suất lúa đạt cao, sản xuất từng bước chuyển đổi theo hướng canh tác bền vững, liên kết theo chuỗi giá trị. Kết quả này góp phần quan trọng vào mục tiêu tăng trưởng GRDP ngành nông, lâm, thủy sản đạt trên 3% trong năm 2026.
TP.HCM phát triển vùng rau an toàn, truy xuất nguồn gốc đến năm 2030

TP.HCM phát triển vùng rau an toàn, truy xuất nguồn gốc đến năm 2030

UBND TP.HCM vừa ban hành Kế hoạch triển khai Đề án phát triển các vùng sản xuất rau an toàn, tập trung, bảo đảm truy xuất nguồn gốc gắn với chế biến và thị trường tiêu thụ đến năm 2030 trên địa bàn Thành phố. Kế hoạch hướng đến phát triển nông nghiệp đô thị hiện đại, ứng dụng công nghệ cao, nâng cao chất lượng nông sản và hiệu quả sản xuất.
Phát triển chè hữu cơ, nâng tầm thương hiệu “Đệ nhất danh trà” Thái Nguyên

Phát triển chè hữu cơ, nâng tầm thương hiệu “Đệ nhất danh trà” Thái Nguyên

Ngày 16/5/2026, Chi hội Nông nghiệp Hữu cơ Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên phối hợp với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thái Nguyên tổ chức lớp tập huấn “Kỹ thuật sản xuất chè hữu cơ”. Chương trình nhằm cập nhật kiến thức về nông nghiệp hữu cơ, tiêu chuẩn chứng nhận, kỹ thuật canh tác chè hữu cơ và cơ chế chính sách, góp phần nâng cao chất lượng, giá trị và phát triển bền vững thương hiệu chè Thái Nguyên.
Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản vượt 23 tỷ USD: Áp lực chuyển từ sản lượng sang giá trị

Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản vượt 23 tỷ USD: Áp lực chuyển từ sản lượng sang giá trị

4 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng, đạt 23,04 tỷ USD, tăng 5,4% so với cùng kỳ. Kết quả này cho thấy vai trò quan trọng của khu vực nông nghiệp trong ổn định kinh tế, song cũng đặt ra yêu cầu ngày càng rõ về chất lượng, tiêu chuẩn, truy xuất nguồn gốc và phát triển chuỗi giá trị bền vững.
Công nghệ sinh học nông nghiệp bước vào giai đoạn phát triển đa tính trạng

Công nghệ sinh học nông nghiệp bước vào giai đoạn phát triển đa tính trạng

Sau gần 30 năm thương mại hóa, cây trồng công nghệ sinh học tiếp tục tăng trưởng mạnh, với diện tích canh tác toàn cầu đạt mức kỷ lục 218,7 triệu ha trong năm 2024.
Chất thải chăn nuôi lan vi khuẩn kháng kháng sinh vào nông sản, gia tăng rủi ro an toàn thực phẩm

Chất thải chăn nuôi lan vi khuẩn kháng kháng sinh vào nông sản, gia tăng rủi ro an toàn thực phẩm

Nghiên cứu mới cho thấy vi khuẩn kháng kháng sinh từ chất thải gia cầm có thể lan sang rau trồng trên đất bón phân chuồng, đặt ra thách thức lớn cho sản xuất nông nghiệp bền vững. Nếu quản lý chất thải không được cải thiện, nguy cơ mất an toàn thực phẩm và giảm giá trị nông sản có thể gia tăng trong những năm tới.

CÁC TIN BÀI KHÁC

Nâng cao nhận thức về nông nghiệp hữu cơ cho đoàn viên thanh niên tại Cao Bằng

Nâng cao nhận thức về nông nghiệp hữu cơ cho đoàn viên thanh niên tại Cao Bằng

Từ ngày 25 đến 26/5/2026, tại Hội trường UBND xã Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng, Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam (VOAA) phối hợp với Trung tâm Phát triển Khoa học, Công nghệ và Tài năng trẻ thuộc Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tổ chức lớp tập huấn “Nâng cao nhận thức về nông nghiệp hữu cơ” cho cán bộ Đoàn, đoàn viên tiêu biểu các xã Trùng Khánh, Đình Phong.
Tìm lời giải cho phát triển kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp Việt Nam

Tìm lời giải cho phát triển kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp Việt Nam

Ngày 26/5/2026, tại Hà Nội, Viện Chính sách Kinh tế môi trường phối hợp với UNDP Việt Nam và Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường tổ chức Tọa đàm "Thực trạng và triển vọng áp dụng kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp". Sự kiện góp phần nhận diện rõ hơn tiềm năng, điểm nghẽn và các giải pháp để đưa kinh tế tuần hoàn từ định hướng chính sách vào mô hình sản xuất nông nghiệp cụ thể, hiệu quả và bền vững.
Triển khai nhiều giải pháp phát triển thanh long bền vững

Triển khai nhiều giải pháp phát triển thanh long bền vững

Trước yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường xuất khẩu và những khó khăn trong sản xuất nông nghiệp hiện nay, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lâm Đồng đang triển khai nhiều giải pháp nhằm thúc đẩy sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu thanh long theo hướng bền vững, nâng cao giá trị sản phẩm và mở rộng thị trường tiêu thụ.
Đề án 885 về phát triển nông nghiệp hữu cơ: Cơ sở lý luận, thực tiễn triển khai và định hướng giải pháp

Đề án 885 về phát triển nông nghiệp hữu cơ: Cơ sở lý luận, thực tiễn triển khai và định hướng giải pháp

Tóm tắt: Phát triển nông nghiệp hữu cơ là xu hướng tất yếu trong bối cảnh biến đổi khí hậu, suy thoái tài nguyên và yêu cầu ngày càng cao về an toàn thực phẩm trên phạm vi toàn cầu. Tại Việt Nam, Đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2020–2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 885/QĐ-TTg (gọi tắt là Đề án 885) đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong định hướng phát triển nền nông nghiệp xanh, bền vững và hội nhập.
Giải bài toán mã số vùng trồng sầu riêng Tây Nguyên: Từ thực trạng xen canh cà phê đến yêu cầu luật hóa

Giải bài toán mã số vùng trồng sầu riêng Tây Nguyên: Từ thực trạng xen canh cà phê đến yêu cầu luật hóa

Ngành hàng xuất khẩu sầu riêng Việt Nam đang bước vào một kỷ nguyên mới đầy nghiêm ngặt. Theo Lệnh số 280 của Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC) chính thức có hiệu lực từ ngày 01/06/2026 (thay thế Lệnh 248 cũ), hệ thống quản lý đã chuyển dịch mạnh mẽ sang cơ chế đánh giá rủi ro toàn diện. Quy định này thắt chặt kiểm soát từ quy trình sản xuất, lịch sử tuân thủ an toàn thực phẩm cho đến mã số vùng trồng (MSVT) và cơ sở đóng gói. Tại "thủ phủ" Tây Nguyên, nơi sầu riêng mang lại giá trị kinh tế "khổng lồ" nhưng phần lớn lại được canh tác dưới hình thức xen canh trong vườn cà phê, việc chuẩn hóa MSVT theo mô hình hữu cơ an toàn đang trở thành bài toán sinh tử của cả ngành hàng.
Ngành hàng hữu cơ Việt Nam trước “làn sóng” tiêu chuẩn mới toàn cầu

Ngành hàng hữu cơ Việt Nam trước “làn sóng” tiêu chuẩn mới toàn cầu

Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, nhu cầu tiêu dùng thực phẩm xanh, an toàn và bền vững tại châu Âu và Hoa Kỳ vẫn tiếp tục tăng, mở ra cơ hội lớn cho nông sản hữu cơ Việt Nam mở rộng thị trường xuất khẩu. Nhưng cùng với đó, các tiêu chuẩn về truy xuất nguồn gốc, trách nhiệm môi trường và tính minh bạch trong chuỗi cung ứng cũng đang siết chặt hơn bao giờ hết.
Xâm nhập mặn và những tác động nghiêm trọng đối với an ninh lương thực và nông nghiệp

Xâm nhập mặn và những tác động nghiêm trọng đối với an ninh lương thực và nông nghiệp

Xâm nhập mặn (hay ngập mặn) là một trong những thách thức nghiêm trọng nhất đối với ngành nông nghiệp, đặc biệt là tại các vùng đồng bằng hạ lưu sông như Đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam.
ĐH Nông Lâm - ĐH Huế tăng cường hợp tác phát triển nông nghiệp hiện đại, bền vững

ĐH Nông Lâm - ĐH Huế tăng cường hợp tác phát triển nông nghiệp hiện đại, bền vững

Sự đồng hành giữa Nhà trường và doanh nghiệp được kỳ vọng sẽ mở ra nhiều cơ hội học tập, thực tập, việc làm cho sinh viên, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo
Liên kết "3 nhà" trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành nông nghiệp

Liên kết "3 nhà" trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành nông nghiệp

Không thể phát triển theo cách riêng lẻ, Nhà nước, trường đại học và doanh nghiệp cần hình thành hệ sinh thái liên kết thực chất để đào tạo nhân lực, nghiên cứu khoa học và thương mại hóa công nghệ phục vụ phát triển nông nghiệp hiện đại, bền vững.
6 đặc điểm cốt lõi cấu thành nên diện mạo của nền kinh tế xanh hiện đại

6 đặc điểm cốt lõi cấu thành nên diện mạo của nền kinh tế xanh hiện đại

Trong điều kiện biến đổi khí hậu đang trở thành thách thức sống còn của nhân loại, khái niệm "Nền kinh tế xanh" (Green Economy) không còn là một lựa chọn mang tính lý thuyết mà đã trở thành mệnh lệnh cấp bách.
Phân hữu cơ từ thân chuối giúp cây khỏe, giảm sâu bệnh, tiết kiệm chi phí

Phân hữu cơ từ thân chuối giúp cây khỏe, giảm sâu bệnh, tiết kiệm chi phí

Tận dụng phụ phẩm từ quá trình sản xuất sợi chuối, mô hình sản xuất phân hữu cơ dạng lỏng tại An Giang bước đầu cho kết quả tích cực khi giúp nông dân giảm tới 90% chi phí phân bón, cải thiện chất lượng đất và thúc đẩy phát triển nông nghiệp tuần hoàn.
Nghiên cứu khoa học của WASI cần gắn chặt với nhu cầu thị trường

Nghiên cứu khoa học của WASI cần gắn chặt với nhu cầu thị trường

Trong chuyến công tác tại tỉnh Đắk Lắk, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng cùng đoàn công tác đã có buổi làm việc với Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên (WASI), nhằm đánh giá kết quả hoạt động và định hướng phát triển trong thời gian tới.
XEM THÊM
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2025 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính