Chủ nhật 17/05/2026 03:54Chủ nhật 17/05/2026 03:54 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Nghiên cứu xây dựng công thức ủ thân chuối thải loại sau thu hoạch thành phân bón hữu cơ chất lượng cao

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Nghiên cứu tập trung vào việc tận dụng thân chuối thải loại để sản xuất phân bón hữu cơ, góp phần giảm chất thải nông nghiệp tại Việt Nam. Nguyên liệu sử dụng trong nghiên cứu là thân chuối sau thu hoạch được lấy từ vườn chuối ogarnic của hộ gia đình chị Lê Tuyết Mai tại xã Xuyên Mộc, Thành phố Hồ Chí Minh.
Nghiên cứu xây dựng công thức ủ thân chuối thải loại sau thu hoạch thành phân bón hữu cơ chất lượng cao

Tóm tắt

Nghiên cứu tập trung vào việc tận dụng thân chuối thải loại để sản xuất phân bón hữu cơ, góp phần giảm chất thải nông nghiệp tại Việt Nam. Nguyên liệu sử dụng trong nghiên cứu là thân chuối sau thu hoạch được lấy từ vườn chuối ogarnic của hộ gia đình chị Lê Tuyết Mai tại xã Xuyên Mộc, Thành phố Hồ Chí Minh. Cụ thể, nguyên liệu chuối có ẩm độ ban đầu (hàm lượng nước ban đầu) 90.91%; và bằng phương pháp thực nghiệm, nghiên cứu đã xác định quy trình ủ tạo phân hữu cơ từ thân chuối tối ưu như sau: Băm nhỏ và làm khô thân chuối về ẩm độ mục tiêu 30-40%, phối trộn với 20% phân bò + 5% than sinh học + 0,25 lít chế phẩm vi sinh vật/m³, ủ hiếm khí.

Kết quả sau 7 tuần ủ, phân đạt pH 7.23 – 7.49; N tổng 2.62 – 2.66%; P₂O₅ 6.14 – 6.21%; K₂O 8.57-8.65%; axit humic 1.54-1.22%; tỷ lệ C/N 10.03 – 10.44; không phát hiện Escherichia coliSalmonella spp, phù hợp thông tư 09/2019/TT-BNNPTNT “Quy chuẩn quốc gia về chất lượng phân bón”. Phương pháp này giúp gia tăng giá trị chất thải nông nghiệp, hỗ trợ sản xuất phân bón hữu cơ chất lượng cao.

Từ khóa: phân bón hữu cơ, thân chuối thải, than sinh học, ủ phân, nông nghiệp bền vững

1. Đặt vấn đề

Thân chuối thải loại chiếm 88% trọng lượng cây sau thu hoạch, với diện tích trồng 163.000 ha, sản lượng hơn 1,75 triệu tấn quả; mỗi năm các farm chuối của Việt Nam đã tạo ra khoảng hơn 2 triệu tấn thân thải loại. Bản thân cây chuối chứa rất nhiều nước (90 – 93%), với nhiều chất xơ (cellulose, lignin và hemicellulose) và khá giàu kali, canxi, magiê, cùng một số nguyên tố vi lượng khác; đặc biệt, thân chuối chứa một số hợp chất hữu cơ quan trọng tanin (5–10 mg/g chất khô), polyphenol (15–30 mg GAE/g chất khô) và một số enzym tự nhiên (hợp chất PPO, POD: 50–150 U/mg protein). Đây là nguồn dinh dưỡng lý tưởng cho nấm bệnh hại phát triển và cũng là điều gây áp lực môi trường lớn về bệnh dịch nếu không có giải pháp xử lý phù hợp và kịp thời. Mặc dù các cơ sở gia công sợi chuối đã có mặt ở Việt Nam để giải quyết phần nào vấn nạn của tình trạng này; tuy nhiên, lượng chuối thải loại vẫn đang trong tình trạng quá tải; nhất là tại các vườn hộ quy mô vừa và nhỏ, và vườn ở khu vực giao thông đi lại khó khăn. Vì vậy, để vườn hộ được an toàn, việc nghiên cứu biến vấn nạn này thành phân hữu cơ giúp cải thiện đất và giảm sử dụng phân hóa học là điều cấp thiết. Các nghiên cứu trước đây của tác giả đã sử dụng than sinh học (biochar) như nguồn chất mang giúp cải thiện độ pH đất (vùng đất chua), giữ ẩm và lưu trữ chất dinh dưỡng (Ca, Mg, K, P), là nơi ở lý tưởng cho vi sinh vật thúc đẩy phân hủy. Ở nghiên cứu này tác giả tập trung vào thành phần công thức phối trộn để kỳ vọng rút ngắn thời gian ủ chín của nguyên liệu. Giống chuối được sử dụng cho đề tài là chuối Nam Mỹ (Musa paradisiaca L.), thu từ vườn chuối tại Xuyên Mộc, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

2.1 Đối tượng và vật liệu

Đối tượng: Thân chuối tươi sau thu hoạch, độ ẩm ban đầu 90,91%. Thân chuối sau đó được băm nhỏ thành từng khúc 2 - 4cm và trải ra phơi nắng để làm khô về các mức ẩm độ mục tiêu sử dụng cho nghiên cứu.

Vật liệu: Phân bò, than sinh học từ củi cây keo lai (pH 8,8; N 1,4%; Ca 23,6%; K 17,8%), chế phẩm trichoderma 109 CFU (được cung cấp bởi Phòng nghiên cứu của Khoa Công nghệ ứng dụng, Trường Đại học Văn Lang).

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp xác định độ ẩm ban đầu và độ ẩm mục tiêu của thân chuối

Để xác định độ ẩm ban đầu, thân chuối được chặt vào sáng sớm; lấy 3 mẫu ở 3 vị trí: gốc, giữa thân, ngọn. Sau đó bảo quản trong túi nilong kín miệng và đưa về phòng thí nghiệm để xác định độ ẩm ban đầu của thân chuối theo phương pháp của Kirsten và Sigrit (2000): Cốc đựng mẫu đã được sấy và làm nguội trong bình hút ẩm, cân chuối và cốc đã được sấy đạt khối lượng 100g vào cho vào tủ sấy nhiệt độ 1050±20C. Sấy mẫu trong 24h, sau đó làm nguội trong bình hút ẩm 1 giờ và đem cân. Sấy đến khi khối lượng không đổi.

Độ ẩm tính (MC%) theo phần trăm khối lượng công thức: Mc(%)=(M1-M2)/(M1-Mo)x100

Trong đó:

Mo: trọng lượng cốc đựng mẫu (g);

M1: trọng lượng cốc và mẫu trước khi sấy (g).

M2: trọng lượng cốc và mẫu sau khi sấy (g).

Xác định độ ẩm muc tiêu: Thân chuối được băm nhỏ và làm khô đến các mức ẩm độ 10% - 20% - 30% - 40% - 50% bằng cách phơi nắng hay dùng quạt công nghiệp (gọi là nguyên liệu). Độ ẩm nguyên liệu thấp nhất phải đạt là 20%.

2.2.2 Bố trí thí nghiệm ủ phân chuối

Nguyên liệu ở các mức ẩm độ khác nhau (kí hiệu là M, bao gồm: Mo=Ẩm độ ban đầu; M1=50%; M2 = 40%; M3=30%; M4=20%; M5=20%).

Thí nghiệm một nhân tố (Nhân tố thí nghiệm là ẩm độ nguyên liệu), gồm 6 nghiệm thức (mỗi nghiệm thức tương ứng với 10kg nguyên liệu), mỗi nghiệm thức 3 lần lặp lại, đơn vị thí nghiệm được tính là kilogam nguyên liệu. Tổng số đơn vị thí nghiệm là 180kg.

Các nghiệm thức cụ thể như sau:

NT1= 100 kg Mo +20kg phân bò +5 kg than sinh học + 0,25 lít chế phẩm vi sinh

NT2= 100 kg M1 +20kg phân bò +5 kg than sinh học + 0,25 lít chế phẩm vi sinh

NT3= 100 kg M2 +20kg phân bò +5 kg than sinh học + 0,25 lít chế phẩm vi sinh

NT4= 100 kg M3 +20kg phân bò +5 kg than sinh học + 0,25 lít chế phẩm vi sinh

NT5= 100 kg M4 +20kg phân bò +5 kg than sinh học + 0,25 lít chế phẩm vi sinh

NT6= 100 kg M5 +20kg phân bò +5 kg than sinh học + 0,25 lít chế phẩm vi sinh

Hỗn hợp trên được trộn đều với nhau và được thêm nước đến ẩm độ 50%. Ẩm độ này được duy trì trong suốt thời gian ủ. Nguyên liệu sau đó được đưa vào thùng ủ và đóng chặt nắp. Định kỳ 3 ngày mở ra kiểm tra ẩm độ và nhiệt độ khối ủ một lần; đồng thời, đảo đều khối ủ để tăng độ thoáng khí, tạo điều kiện thuận lợi tăng sinh mật số vi sinh vật. Thực hiện đo nhanh độ pH cho đống ủ từ tuần thứ 2 trở đi.

2.2.3 Phương pháp phân tích sản phẩm sau ủ

Phân sau khi ủ hoai, tiến hành thu hồi sản phẩm đã hoai mục đi phân tích các chỉ tiêu quy định của một loại phân bón hữu dựa trên Thông tư 09/2019/TT-BNNPTNT. Chỉ tiêu pHKCl theo TCVN 9297 : 2012; OM (%) theo TCVN 9294 : 2012; Nts (%) theo TCVN 8557 : 2010; P2O5 tổng số theo TCVN 8563 : 2010; K2O tổng số theo TCVN 8562 : 2010; Acid fulvic theo TCVN 8561 : 2010; Acid humic theo TCVN 8561 : 2010; E.Coli giả định và Salmonella spp theo Ref: TCVN 6846 : 2007 (ISO 7251 : 2005); Vi khuẩn Bacillus subtilistheo TCVN 4884-2 : 2015; Xạ khuẩn Streptomyces spp theo TCVN 4884-2 : 2015.

3. Kết quả và thảo luận

3.1 Kết quả xác định ẩm độ ban đầu và làm khô nguyên liệu về các ẩm độ mục tiêu

Thân chuối được chặt vào lúc sáng sớm (mặt trời chưa mọc); lấy 3 mẫu ở 3 vị trí: gốc, giữa thân, ngọn. Sau đó bảo quản trong túi nilong kín miệng và đưa về phòng thi nghiệm để xác định độ ẩm ban đầu của thân chuối. Ẩm độ tự nhiên của thân chuối tại các vị trí khác nhau (gốc – giữa thân và ngọn) đã có sự khác nhau: phần gốc có ẩm độ tự nhiên bình quân thấp hơn so với phần giữa thân và ngọn. Tuy nhiên, sự khác biệt này chưa có ý nghĩa về mặt thống kê (bảng 1). Kết quả ở bảng 1 chỉ ra: Ẩm độ tự nhiên bình quân của thân chuối là 90,91%; trong đó: phần thân gốc có ẩm độ tự nhiên 89,1%, phần thân giữa 90.94%, và phần thân ngọn 92,6%. Hệ số biến động rất nhỏ (<1.0%), chứng tỏ độ ẩm tự nhiên của thân chuối ở giai đoạn thu hoạch là ổn định. Kết quả này cũng tương đồng với nghiên cứu của Perveen và cộng sự (2010) về độ ẩm của thân chuối (khoảng 91%); Vũ Thị Quyền và cộng sự (2021) xác định ẩm độ tự nhiên của thân chuối là 91,09%.

Bảng 1. Kết quả ẩm độ tự nhiên (ÂĐTN, %) của thân cây chuối sau thu hoạch

Bộ phận của cây

Lặp 1 (%)

Lặp 2 (%)

Lặp 3 (%)

Giá trị trung bình (%)

CV (%)

Ngọn

91.91

93.04

92.86

92.60

0.6

Giữa thân

91.36

90.73

90.74

90.94

0.4

Gốc

89.68

88.73

88.89

89.10

0.6

BQ

91.08

90.83

90.83

90.91

0.2

(Ghi chú: Cv- hệ số biến động)

Kết quả ở bảng 2 ghi nhận thời gian làm khô thân chuối về các ẩm độ mục tiêu.Vì ẩm độ mục tiêu đặt ra là các trị số làm tròn cách nhau 10%, mức ẩm độ mục tiêu đầu tiên được chọn là 50% gần với ẩm độ tự nhiên, còn mức ẩm độ mục tiêu thấp nhất là 10% và cũng là giới hạn cuối cùng của thí nghiệm. Theo đó, có 6 mức ẩm độ mục tiêu đã được xác định: 90% (Ẩm độ ban đầu) – 50% - 40% - 30% - 20% và 10%.

Do thân chuối mọng nước nên việc làm khô tốn khá nhiều thời gian. Để làm khô đến độ ẩm mục tiêu cuối cùng (M = 10%) phải mất 9 ngày. Theo số liệu hiện diện (bảng 2), ẩm độ mục tiêu của chuối cần đạt được càng thấp thì thời gian rút khô càng lâu (ở đây, ẩm độ đạt được là con số chủ động, còn ngày rút khô là con số phụ thuộc). Số lượng ngày rút khô để đạt tới ẩm độ mục tiêu không hoàn toàn là một tỷ lệ tuyến tính với ẩm độ, mặc dù mức ẩm độ đã xác định trước là cách nhau đều đặn với biên độ 10%. Cụ thể, để giảm ẩm độ từ 90% xuống 50% phải mất 2,3 ngày, và mức sau đó cũng mất khoảng 2 ngày; nhưng từ mốc 30% xuống 20% và xuống 10% thì chỉ mất khoảng1 ngày cho mỗi mức. Tóm lại là, càng đến gần ẩm độ 10% thì tốc độ (thời gian) đạt được càng nhanh hơn (hình 1).

Bảng 3.2 Kết quả theo dõi làm khô nguyên liệu

Ẩm độ mục tiêu

Lặp 1

Lặp 2

Lặp 3

Thời gian làm khô BQ (ngày)

CV (%)

Mo = 90%

1

0.5

0.5

0.67

43.3

M1 = 50%

2

2.5

2.5

2.33

12.5

M2 = 40%

5

4.5

4.5

4.67

6.2

M3 = 30%

7

6.6

6.5

6.7

3.9

M4 = 20%

8

7.5

7.5

7.67

3.8

M5 = 10%

9

8.5

8.5

8.67

3.3

Nghiên cứu xây dựng công thức ủ thân chuối thải loại sau thu hoạch thành phân bón hữu cơ chất lượng cao
Hình 1. Kết quả khả năng rút khô của thân chuối cắt lát

3.2 Kết quả ủ phân chuối

Ở tuần thứ 3, khi quá trình lên men xảy ra, các enzyme của vi sinh vật, nấm đã tiêu thụ các chất hợp chất hữu cơ và thải ra các acid hữu cơ, trong giai đoạn đầu (15 ngày đầu) của quá trình ủ, các acid này bị tích tụ và kết quả làm giảm pH. Quá trình phân giải trải qua nhiều bước hình thành ra các sản phẩm trung gian nhiều loại acid hữu cơ khác nhau (hình 2). Đến ngày thứ 25, độ pH trong đống ủ ở các nghiệm thức có sự thay đổi đột ngột (theo chiều hướng tăng); điều này được giải thích là do các chất hữu cơ trong thân chuối được phân hủy bởi enzyme và bởi ảnh hưởng của than sinh học. Từ ngày thứ 35, độ pH ở các nghiệm thức đều duy trì ở mức 7,0 – 7.49 (đến khi đống ủ hoai hoàn toàn). Không có sự khác biệt về độ pH ở các nghiệm thức thí nghiệm.Điều này khẳng định thêm vai trò cải thiện độ pH (Nơi có pH thấp) của than sinh học đúng như ghi nhận trong nghiên cứu của các tác giả: Gaskin và cộng sự (2010); Vũ Thị Quyền và cộng sự (2017).

Nghiên cứu xây dựng công thức ủ thân chuối thải loại sau thu hoạch thành phân bón hữu cơ chất lượng cao
Hình 2.Thay đổi pH của hỗn hợp ủ theo thời gian

Về mặt cảm quan có thể thấy, sau 50 ngày ủ, tất cả các nghiệm thức đều có dấu hiệu hoai mục; trong đó, nghiệm thức M2 (40%) và M3 (30%) cho phân ủ tơi, mịn và có mùi hăng nhẹ hơn so với các nghiệm thức còn lại. Điều này có thể lý giải ẩm độ của nguyên liệu khi đưa vào ủ đã có những ảnh hưởng đến chất lượng phân ủ cũng như thời gian nguyên liệu hoai mục. hai nghiệm thức M3 (ẩm độ nguyên liệu 30%) và M2 (ẩm độ nguyên liệu 40%) được đánh giá là tốt nhất ở thí nghiệm này. Nói cách khác, khi làm khô thân chuối về ẩm độ 30-40% sẽ cho kết quả phân ủ tốt hơn.

3.3 Kết quả phân tích các chỉ tiêu chất lượng phân chuối sau ủ

Kết quả ở bảng 3 ghi nhận: Thành phần chất hữu cơ có trong thân chuối, phân bò và than sinh học nhanh chóng bị phân hủy bởi enzyme của vi sinh vật. Sau thời gian phân hủy, khối ủ nhanh chóng chuyển sang trạng thái ổn định. Có thể lý giải thêm bởi các lỗ rỗng trong than sinh học, bề mặt của than sinh học, sự thấm hút các chất dinh dưỡng vô cơ cũng như chất hữu cơ và các loại khí mang lại một môi trường lý tưởng cho vi sinh vật như kết luận của Vũ Thị Quyền và cộng sự (2017). Ở thí nghiệm này, hàm lượng chất hữu cơ đạt cao nhất là ở NT3 và NT4 với giá trị tương ứng 34,74% và 34,82%.

Bảng 3. Kết quả phân tích thành phần chất hữu cơ và các chỉ tiêu khác theo Thông tư 09/2019/TT-BNN-PTNT

Tên chỉ tiêu

Kết quả

Đơn vị

Nghiệm thức

NT1

NT2

NT3

NT4

NT5

NT6

Nts

%

1.62

1.77

2.62

2.66

2.01

1.71

P2O5

%

4.35

3.23

6.14

6.21

4.23

3.12

K2O

%

6.61

2.46

8.65

8.57

6.47

4.41

Acid humic

%

-

-

1.54

-

-

-

Acid fulvic

%

-

-

0.45

-

-

-

C/N

-

8.68

10.32

10.44

11.03

11.89

11.07

E.coli

MPN/g

Không phát hiện

Không phát hiện

Không phát hiện

Không phát hiện

Không phát hiện

Không phát hiện

Samonella spp

/25g

Không phát hiện

Không phát hiện

Không phát hiện

Không phát hiện

Không phát hiện

Không phát hiện

CHC

%

29.27

31.65

34.74

34.82

22.84

22.56

Tỉ lệ C/N biểu thị mức độ phân hủy các chất hữu cơ và mức cân bằng dinh dưỡng có trong khối ủ, báo hiệu thời điểm kết thúc của quá trình ủ. Tỉ lệ C/N từ 8.68 – 11.89. Đối chiếu với tiêu chuẩn quy định tại Nghị định số 84/2019/NĐ-CP và Thông tư số 09/2019/TT-BNNPTNT ngày 27/8/2019 của Bộ trưởng Bộ NN-PTNT ban hành “Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng phân bón QCVN 01-189: 2019/BNNPTNT” thì phân hữu cơ có C/N <12 là đạt yêu cầu. Ở thí nghiệm này, tất cả các nghiệm thức NT1, NT2 và NT3 đều đạt yêu cầu của tiêu chuẩn phân bón hữu cơ theo TCVN.

Tất cả các nghiệm thức đều không phát hiện vi sinh vật gây hại.

Về mặt cảm quan, phân hữu cơ ở nghiệm thức NT3 và NT4 có màu sắc và độ mịn sản phẩm khá nổi trội. Xem xét một cách tổng thể thì nghiệm thức NT3 và NT4 được đánh giá tốt hơn cả về tất cả các chỉ tiêu nghiên cứu. NT3 và NT4 đạt chuẩn (C/N <12, pH 7,0, giàu NPK, humic), nhờ than sinh học tăng pH và giữ dinh dưỡng, vi sinh thúc phân hủy hữu cơ (34.74-34.82%), quy trình nghiên cứu rút ngắn thời gian ủ từ 60 ngày xuống còn 50 ngày so với nghiên cứu năm 2021 của Vũ Thị Quyền và cộng sự.

4. Kết luận

- Xác định được ẩm độ ban đầu của thân chuối thải loại sau thu hoạch là 90.91%. Để đưa vào ủ, thân chuối được băm nhỏ (2-4 cm) và được làm khô về ẩm độ 30 – 40%. Thời gian làm khô nguyên liệu 4 – 6 ngày.

- Nghiệm thức phối trộn: 100 kg nguyên liệu +20kg phân bò +5 kg than sinh học + 0,25 lít chế phẩm vi sinh. Sau 50 ngày ủ, phân chuối hoai mục hoàn toàn, mùi hăng nhẹ, tơi, màu nâu đen; đạt pH 7.23 – 7.49, N tổng 2.62 – 2.66%, P₂O₅ 6.14 – 6.21%, K₂O 8.57-8.65%, axit humic 1.54-1.22%, tỷ lệ C/N 10.03 – 10.44; không phát hiện Escherichia coliSalmonella spp, phù hợp thông tư 09/2019/TT-BNNPTNT “Quy chuẩn quốc gia về chất lượng phân bón”.


Tài liệu tham khảo

  1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông nghiệp. (2025). Báo cáo ngành trồng trọt tại Việt Nam.
  2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông nghiệp. (2019). Thông tư số 09/2019/TT-BNNPTNT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng phân bón (QCVN 01-189:2019/BNNPTNT).
  3. Chính phủ. (2019). Nghị định số 84/2019/NĐ-CP: Quy định về quản lý phân bón.
  4. Chính phủ. (2022). Nghị định số 130/2022/NĐ-CP: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 84/2019/NĐ-CP quy định về quản lý phân bón và Nghị định số 94/2019/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Trồng trọt.
  5. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông nghiệp. (2023). Văn bản hợp nhất số 04/VBHN-BNNPTNT: Quy định về quản lý phân bón.
  6. Perveen, B., & Khan, M. R. (2010). Transformation of agricultural wastes into sugar by Trichoderma viride. Journal of Pure and Applied Microbiology, 4(1), 103-108.
  7. Vũ Thị Quyền, Nguyễn Đăng Nghĩa, & Mai Thành Phụng. (2017). Than sinh học (biochar) – phân bón thế hệ mới cho nông nghiệp xanh – bền vững. Trong Kỷ yếu khoa học: Quản lý dịch hại tổng hợp cây trồng theo hướng hữu cơ sinh học trong phát triển nông nghiệp xanh bền vững (ISBN 978-604-60-2664-8). Nhà xuất bản Nông nghiệp chi nhánh TP.HCM.
  8. Vũ Thị Quyền, & Lê Quốc Bảo. (2021). Ảnh hưởng của phân bón hữu cơ tạo từ thân chuối đến sinh trưởng và năng suất cây ngải cứu Artemisia vulgaris. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông nghiệp, (16), 62-67.
  9. Vũ Thị Quyền, Phạm Thế Kiên, Nguyễn Vũ Ngọc Anh, & Huỳnh Anh Bảo. (2021). Đánh giá ảnh hưởng của giá thể dinh dưỡng đến sinh trưởng của cây trồng vườn đứng. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông nghiệp, (20), 78-82.

Bài liên quan

Phát triển chè hữu cơ, nâng tầm thương hiệu “Đệ nhất danh trà” Thái Nguyên

Phát triển chè hữu cơ, nâng tầm thương hiệu “Đệ nhất danh trà” Thái Nguyên

Ngày 16/5/2026, Chi hội Nông nghiệp Hữu cơ Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên phối hợp với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thái Nguyên tổ chức lớp tập huấn “Kỹ thuật sản xuất chè hữu cơ”. Chương trình nhằm cập nhật kiến thức về nông nghiệp hữu cơ, tiêu chuẩn chứng nhận, kỹ thuật canh tác chè hữu cơ và cơ chế chính sách, góp phần nâng cao chất lượng, giá trị và phát triển bền vững thương hiệu chè Thái Nguyên.
Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản vượt 23 tỷ USD: Áp lực chuyển từ sản lượng sang giá trị

Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản vượt 23 tỷ USD: Áp lực chuyển từ sản lượng sang giá trị

4 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng, đạt 23,04 tỷ USD, tăng 5,4% so với cùng kỳ. Kết quả này cho thấy vai trò quan trọng của khu vực nông nghiệp trong ổn định kinh tế, song cũng đặt ra yêu cầu ngày càng rõ về chất lượng, tiêu chuẩn, truy xuất nguồn gốc và phát triển chuỗi giá trị bền vững.
Công nghệ sinh học nông nghiệp bước vào giai đoạn phát triển đa tính trạng

Công nghệ sinh học nông nghiệp bước vào giai đoạn phát triển đa tính trạng

Sau gần 30 năm thương mại hóa, cây trồng công nghệ sinh học tiếp tục tăng trưởng mạnh, với diện tích canh tác toàn cầu đạt mức kỷ lục 218,7 triệu ha trong năm 2024.
Chất thải chăn nuôi lan vi khuẩn kháng kháng sinh vào nông sản, gia tăng rủi ro an toàn thực phẩm

Chất thải chăn nuôi lan vi khuẩn kháng kháng sinh vào nông sản, gia tăng rủi ro an toàn thực phẩm

Nghiên cứu mới cho thấy vi khuẩn kháng kháng sinh từ chất thải gia cầm có thể lan sang rau trồng trên đất bón phân chuồng, đặt ra thách thức lớn cho sản xuất nông nghiệp bền vững. Nếu quản lý chất thải không được cải thiện, nguy cơ mất an toàn thực phẩm và giảm giá trị nông sản có thể gia tăng trong những năm tới.
Gạo tím than “Lò gạch cũ” ở Đà Nẵng: Nâng tầm giá trị nông sản

Gạo tím than “Lò gạch cũ” ở Đà Nẵng: Nâng tầm giá trị nông sản

Gạo tím than “Lò gạch cũ” tại Đà Nẵng phát triển theo hướng chuyển đổi hữu cơ, nâng cao giá trị nông sản, tăng thu nhập và mở rộng thị trường tiêu thụ.
Gắn nghiên cứu với thực tiễn: Nâng tầm nông nghiệp công nghệ cao

Gắn nghiên cứu với thực tiễn: Nâng tầm nông nghiệp công nghệ cao

Từ nghiên cứu khảo nghiệm đến sản xuất đại trà và chế biến sâu, mô hình hợp tác giữa Trường Đại học Nông - Lâm Bắc Giang và đối tác Trung Quốc đang góp phần gắn kết đào tạo, khoa học công nghệ với thực tiễn sản xuất nông nghiệp.

CÁC TIN BÀI KHÁC

"Đòn bẩy" hiện đại hóa ngành chăn nuôi Việt Nam

"Đòn bẩy" hiện đại hóa ngành chăn nuôi Việt Nam

Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (khóa XIII) về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia được ban hành trong khi ngành chăn nuôi Việt Nam đang đứng trước những yêu cầu cấp thiết về đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất và hội nhập quốc tế. Đây không chỉ là một văn bản định hướng chính sách mà còn là “kim chỉ nam” thúc đẩy quá trình hiện đại hóa toàn diện ngành chăn nuôi - từ phương thức sản xuất, quản trị chuỗi giá trị đến ứng dụng khoa học công nghệ và phát triển bền vững.
Tầm nhìn chiến lược khơi nguồn lực nâng tầm nông nghiệp Ninh Bình

Tầm nhìn chiến lược khơi nguồn lực nâng tầm nông nghiệp Ninh Bình

Ngày 29 tháng 4 năm 2026, HĐND tỉnh Ninh Bình khóa XVI đã thông qua Nghị quyết số 04/2026/NQ-HĐND quy định nội dung chi, mức hỗ trợ cho hoạt động khuyến nông địa phương. Đây là quyết sách đặc biệt quan trọng, thể hiện sự nhạy bén, kịp thời và tâm thế đồng hành sát sao của chính quyền tỉnh đối với sự nghiệp phát triển nông thôn, tạo ra hành lang pháp lý vững chắc để tiếp sức cho người nông dân trong kỷ nguyên số.
Nông nghiệp hữu cơ không chỉ là kỹ thuật, mà là niềm tin và kỷ luật cộng đồng

Nông nghiệp hữu cơ không chỉ là kỹ thuật, mà là niềm tin và kỷ luật cộng đồng

Sáng 10/5, trong khuôn khổ Khóa tập huấn Lãnh đạo Nông nghiệp Sinh thái và Hữu cơ (AOLC 2026), các học viên đã tham quan thực địa mô hình sản xuất rau hữu cơ của Liên nhóm hữu cơ Thanh Xuân tại xã Nội Bài, Hà Nội. Sau gần hai thập kỷ bền bỉ, mô hình này tiếp tục cho thấy vai trò quan trọng của cộng đồng, kỷ luật sản xuất và hệ thống bảo đảm có sự tham gia trong phát triển nông nghiệp hữu cơ.
Phục hồi rừng bản địa - những kết quả ban đầu và triển vọng phát triển

Phục hồi rừng bản địa - những kết quả ban đầu và triển vọng phát triển

Tại hội thảo, nhiều đại biểu khẳng định phục hồi rừng bản địa có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên và khả năng hấp thụ carbon...
Cao Bằng có đưa di sản văn hóa “múa rồng – kỳ lân” thành tài nguyên du lịch đặc sắc?

Cao Bằng có đưa di sản văn hóa “múa rồng – kỳ lân” thành tài nguyên du lịch đặc sắc?

Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống mở ra nhiều cơ hội cho phát triển kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực du lịch văn hoá. Tại Cao Bằng, múa rồng – kỳ lân là một loại hình nghệ thuật dân gian đặc sắc có lịch sử truyền thống văn hoá tồn tại qua nhiều thế hệ và gắn bó mật thiết với đời sống tinh thần của cộng đồng các dân tộc. Trong xu hướng phát triển du lịch văn hoá hiện nay, việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống, trong đó có nghệ thuật múa rồng – kỳ lân, để trở thành sản phẩm du lịch đặc trưng được xem là hướng đi quan trọng. Điều này không chỉ góp phần gìn giữ và lan toả những giá trị văn hoá truyền thống mà còn quảng bá hình ảnh, con người và bản sắc văn hoá Cao Bằng đến với du khách trong nước và quốc tế.
Công nghiệp văn hóa: Động cơ mới cho sự phát triển và quyền lực mềm

Công nghiệp văn hóa: Động cơ mới cho sự phát triển và quyền lực mềm

Trong thế kỷ XXI, khái niệm về sự giàu có của một quốc gia không còn chỉ đo lường bằng trữ lượng dầu mỏ, quặng sắt hay số lượng nhà máy sản xuất thép. Một loại hình kinh tế mới, dựa trên sức mạnh của sự sáng tạo, trí tuệ và bản sắc dân tộc, đang trỗi dậy mạnh mẽ: Công nghiệp văn hóa (Cultural Industries).
Khi người cao tuổi ‘thắp lửa’ kinh tế xanh

Khi người cao tuổi ‘thắp lửa’ kinh tế xanh

Nông nghiệp hữu cơ tuần hoàn đang trở thành hướng đi tất yếu để bảo vệ hành tinh và sức khỏe cộng đồng. Tại Phú Thọ, hình ảnh những người cao tuổi tiên phong khởi nghiệp xanh đã minh chứng cho sức mạnh của kinh nghiệm kết nối cùng khát vọng bền vững.
Đan Mạch chia sẻ kinh nghiệm về truyền thông nhãn hữu cơ qua những ví dụ thực tiễn điển hình

Đan Mạch chia sẻ kinh nghiệm về truyền thông nhãn hữu cơ qua những ví dụ thực tiễn điển hình

Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường phối hợp với Đại sứ quán Đan Mạch tại Việt Nam tổ chức Hội thảo về “Truyền thông và nâng cao nhận thức đối với nông nghiệp hữu cơ” từ ngày 6 -7/5 tại Hà Nội.
Xây dựng mạng lưới lãnh đạo tiên phong cho nông nghiệp sinh thái và hữu cơ Việt Nam

Xây dựng mạng lưới lãnh đạo tiên phong cho nông nghiệp sinh thái và hữu cơ Việt Nam

Ngày 7/5, tại Hà Nội, Khóa tập huấn Lãnh đạo Nông nghiệp Sinh thái và Hữu cơ (AOLC) chính thức khai mạc với sự phối hợp tổ chức của Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam, IFOAM Organics International và Naturland. Chương trình quy tụ 27 học viên được tuyển chọn từ gần 70 hồ sơ trên cả nước, hướng tới xây dựng mạng lưới những nhân tố tiên phong thúc đẩy nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp hữu cơ và hệ thống thực phẩm bền vững tại Việt Nam.
Hiện trạng phát triển nông nghiệp hữu cơ tại Việt Nam

Hiện trạng phát triển nông nghiệp hữu cơ tại Việt Nam

Với lịch sử canh tác hữu cơ đã hình thành từ lâu, nông nghiệp Việt Nam là ngành có lợi thế so sánh bởi tính đa dạng và quy mô sản lượng, chất lượng hàng đầu thế giới. Cùng với đó, các nông sản có nhiều tiềm năng nhưng chưa được khai thác hợp lý, đặc biệt là thủy sản, rau quả và dược liệu, song do cơ chế chính sách và đầu tư quảng bá xúc tiến thương mại, khả năng ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất hữu cơ còn hạn chế, diện tích nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam còn chưa khai thác hết tiềm năng.
Thực hành tiết kiệm là để phát triển

Thực hành tiết kiệm là để phát triển

Tiết kiệm là một trong những đức tính quan trọng của con người, đặc biệt trong xã hội hiện đại với nhiều biến động về kinh tế và môi trường. Không chỉ đơn thuần là việc giảm chi tiêu hay cất giữ tiền bạc, tiết kiệm còn là một lối sống, một tư duy giúp cá nhân và xã hội phát triển bền vững.
Chấm phá xu hướng phát triển nông nghiệp hữu cơ trên thế giới

Chấm phá xu hướng phát triển nông nghiệp hữu cơ trên thế giới

Các nguyên tắc sản xuất nông nghiệp hữu cơ được quy định trong tiêu chuẩn của IFOAM, với mục tiêu đảm bảo hệ sinh thái cây trồng, vật nuôi, tạo ra những sản phẩm có chất lượng an toàn với người sử dụng, đem lại hiệu quả kinh tế, duy trì và nâng cao độ màu mỡ của đất.
XEM THÊM
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2025 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính