ki-niem-15-voaa
Thứ tư 15/07/2026 04:53Thứ tư 15/07/2026 04:53 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Đẩy mạnh phát triển nông, lâm nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, mở rộng liên kết sản xuất

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Nghị quyết Huyện ủy Na Rì (Bắc Kạn) đã chỉ rõ mục tiêu xây dựng nền nông nghiệp huyện phát triển toàn diện, bền vững, hình thành các vùng sản xuất chuyên canh, tập trung gắn với sản xuất hàng hoá có giá trị, có khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Đẩy mạnh phát triển nông, lâm nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, mở rộng liên kết sản xuất
Với vùng nguyên liệu cây dong riềng tập trung có diện tích lớn, thích hợp cho việc người dân sản xuất ra miến dong theo quy mô công nghiệp.

Tạo cơ chế phát triển

Ngày 15/10/2021, Huyện ủy Na Rì (Bắc Kạn) ban hành Nghị quyết số 15-NQ/HU về phát triển nông, lâm nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, mở rộng liên kết sản xuất giai đoạn 2021 – 2025.

Theo đó, với mục tiêu xây dựng nền nông nghiệp huyện phát triển toàn diện, bền vững; hình thành các vùng sản xuất chuyên canh, tập trung gắn với sản xuất hàng hoá có giá trị, có khả năng cạnh tranh trên thị trường; đảm bảo duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định và bền vững trên cơ sở tiếp tục thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng phát triển cây, con có giá trị kinh tế cao; đảm bảo an ninh lương thực; gắn nông nghiệp với phát triển công nghiệp dịch vụ, ngành nghề góp phần giải quyết việc làm nâng cao thu nhập cho nhân dân, nhất là ở các vùng khó khăn. Trong giai đoạn 2015-2020 huyện Na Rì đã quan tâm và chỉ đạo thực hiện sản xuất nông, lâm nghiệp đạt được một số kết quả tích cực như sau:

Tổng diện tích gieo trồng hằng năm bình quân 9.687 ha; trong đó cây lúa bình quân thực hiện 3.951 ha/năm, lúa chất lượng là 447 ha/năm. Tổng sản lượng lương thực 33.999 tấn/năm. Bình quân lương thực đầu người đạt 807,53 kg/người/năm.

Riêng cây dong riềng diện tích thực hiện bình quân 5 năm đạt 344 ha/năm, năng suất bình quân đạt 737 tạ/ha, sản lượng 25.353 tấn. Có 06 Hợp tác xã chế biến miến gồm: HTX Tài Hoan, HTX Việt Cường, HTX Thắm Lượng, HTX Huấn Liên, HTX Côn Minh. Sản phẩm miến được cấp giấy chứng nhận OCOP là 6 đơn vị và 01 sản phẩm đã xuất khẩu sang thị trường Châu Âu.

Phát triển vùng trồng cây ăn quả được 808 ha (trong đó: Cam 324 ha; quýt 170 ha; Hồng không hạt 57 ha và các cây ăn quả khác 257 ha) tại các xã Kim Lư, Cường Lợi, Sơn Thành, Văn Minh, Liêm Thủy, thị trấn Yến Lạc, … Trong đó, diện tích đã được cấp giấy chứng nhận an toàn thực phẩm gồm các HTX trồng cây ăn quả: Khuổi Nằn 2, HTX Kim Lư. Có 4 sản phẩm được cấp giấy chứng nhận OCOP.

Diện tích dược liệu trong những năm gần đây được HTX Văn Lang HT, HTX trồng và chế biến dược liệu Bảo Châu liên kết sản xuất mở rộng diện tích trồng đến nay có 110,5 ha gồm các loại cây: Thạch đen, Cà gai leo, Xạ đen, Hà thủ ô, Giảo cổ lam tại xã Văn Vũ, Văn Lang, Văn Minh, Trần Phú,…

Công tác phát triển chăn nuôi trong những năm gần đây có nhiều chuyển biến tích cực, đóng góp không nhỏ vào phát triển kinh tế - xã hội chung của huyện, tổng đàn trâu, bò, ngựa hiện có 9.152 con; dê 2.457 con; lợn 18.113 con; gia cầm 336.657 con. Trong 5 năm tổng sản lượng thịt hơi (tính trên số con xuất bán, giết mổ) bình quân cả giai đoạn đạt 2.556,01 tấn/ năm, so với năm 2015 (805 tấn) tăng 2.888,32 tấn (tăng cao nhất năm 2019 là 3.693,7 tấn); đã góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động ở khu vực nông thôn.

Việc ban hành các cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp nông thôn, sự hỗ trợ của các chương trình, dự án dành cho phát triển chăn nuôi đã có sự chuyển biến tích cực từ chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán, tự cung, tự cấp sang chăn nuôi chuyên biệt, sản xuất hàng hóa đã thu hút một số HTX, cá nhân đầu tư vào lĩnh vực chăn nuôi như HTX Trần Phú, HTX Chi Lăng (Xuân Dương), HTX An Diệp và các nhóm hộ tại các xã Quang Phong, Đổng Xá, Sơn Thành,…Trong đó có 03 sản phẩm được cấp giấy chứng nhận OCOP (Gà thịt, lợn thịt bản địa, lạp sườn gừng đá).

Diện tích nuôi thủy sản trện địa bàn huyện là 333 ha; sản lượng trong 5 năm đạt 3.090,01 tấn (bình quân 618 tấn/năm), tăng 66,95 tấn so năm 2015; tập trung phát triển thủy sản tại các xã Kim Lư, Văn Minh, Văn Lang, Văn Vũ,… chủ yếu là các loài cá chép, rô phi đơn tính, trắm cỏ, trôi,…

Toàn huyện có 13.389,63 ha rừng trồng, trong đó diện tích trồng rừng giai đoạn 2015-2019 là 5.246,71 ha, bình quân mỗi năm trồng được 1.049,34 ha. Trong đó có khoảng 2.595,7 ha cây keo và 7.461,17 ha cây mỡ, 700 ha cây quế; hiện có 44 cơ sở (5 tổ chức, doanh nghiệp và 39 hộ kinh doanh cá thể, bao gồm cả các cơ sở hoạt động không thường xuyên) sản xuất các sản phẩm đơn giản như gỗ xẻ, ván bóc, băm dăm, đồ mộc thông thường phục vụ nhu cầu tiêu dùng tại địa phương. Nhìn chung, hiệu quả hoạt động của các cơ sở chế biến gỗ và lâm sản thấp, chưa đáp ứng nhu cầu tiêu thụ gỗ rừng trồng và lâm sản ngoài gỗ của người dân trong huyện, chưa tạo động lực cho phát triển sản xuất quy mô lớn.

Công tác phát triển kinh tế tập thể gắn với phát triển nông nghiệp nông thôn được địa phương quan tâm đầu tư hỗ trợ kịp thời, đến nay có 40 HTX (trong đó: Nông nghiệp 36 HTX; lĩnh vực khác 04 HTX) và 108 tổ hợp tác, hoạt động chủ yếu trồng dong riềng lên luống cao, trồng bí xanh thơm, trồng gừng, trồng khoai tây, chăn nuôi gà thả vườn, nuôi trâu, bò vỗ béo,... Bên cạnh đó có một số cơ sở chế biến đã gắn kết sản xuất hàng hóa với tiêu thụ sản phẩm, tạo ra sản phẩm đưa ra thị trường được người tiêu dùng biết đến như miến dong, gà thả đồi, thịt lợn đen bản địa,...

Hoàn thành chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế ngành nông, lâm nghiệp, thuỷ sản

Trên cơ sở đánh giá kết quả thực hiện giai đoạn 2015 - 2020, Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ huyện lần thứ bảy quyết nghị một số mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp về phát triển nông, lâm nghiệp giai đoạn 2021 - 2025 như sau:

Tập trung phát triển ngành nông nghiệp làm trọng tâm để thúc đẩy nền kinh tế của huyện; khai thác tốt nhất tiềm năng, lợi thế tài nguyên đất đai, khí hậu, nguồn nước sạch, đa dạng sinh học. Phát triển nông, lâm nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, đáp ứng nhu cầu thị trường và phù hợp với các tiêu chuẩn hiện hành; mở rộng liên kết sản xuất, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ cao và đổi mới quan hệ sản xuất, kinh doanh để nâng cao chuỗi giá trị, tăng thu nhập, góp phần phát triển kinh tế - xã hội.

Cây dong riềng: Hoàn thiện và phát triển chuỗi giá trị sản phẩm dong riềng một cách hiệu quả, bền vững nhằm phát triển vùng nguyên liệu ổn định 300 ha (trong đó diện tích chứng nhận hữu cơ/ATTP 200 ha), sản lượng củ 23.400 tấn, đáp ứng nguyên liệu ổn định cho các cơ sở sản xuất chế biến sản phẩm tinh bột, sản phẩm miến dong phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.

Cây ăn quả: Phấn đấu thực hiện 700 ha, trong đó: Cây cam 400 ha (diện tích cấp chứng nhận: ATTP 240 ha, VietGap/ Hữu cơ 20 ha; diện tích được cấp mã số vùng trồng 30 ha). Cây hồng không hạt 300 ha (diện tích cấp chứng nhận: ATTP 50 ha; diện tích được cấp mã số vùng trồng 20 ha).

Đẩy mạnh phát triển nông, lâm nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, mở rộng liên kết sản xuất
Các công nhân đang đóng gói sản phẩm miến dong tại Hợp tác xã Tài Hoan ở thôn Chè Cọ, xã Côn Minh, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn.

Cây dược liệu: Phấn đấu thực hiện 200 ha (bao gồm các cây: Thạch đen, cà gai leo, xạ đen, khôi nhung, hà thủ ô, giảo cổ lam,…).

Chăn nuôi: Tổng đàn đại gia súc (trâu, bò, ngựa) phấn đấu 10.000 con; sản lượng thịt hơi xuất chuồng bình quân mỗi năm 3.000 tấn và có 04 trang trại quy mô vừa và nhỏ. Tổng đàn lợn duy trì ổn định 20.000 con/năm; số con xuất chuồng bình quân 23.000 con/năm, tương đương với sản lượng thịt lợn hơi khoảng 1.450 tấn/năm và có 06 trang trại quy mô vừa và nhỏ.

Đối với sản phẩm lâm sản (gỗ): Phấn đấu diện tích rừng trồng của toàn huyện 15.000 ha, diện tích khai thác trung bình từ 300 - 400 ha/ năm với trữ lượng khoảng 30.000-40.000 m3/năm, sau khi khai thác thì tiến hành trồng lại rừng trong đó trồng khoảng 1/3 diện tích này theo hướng kinh doanh cây gỗ lớn. Các diện tích trồng rừng tập trung nguyên liệu cho chế biến phấn đấu có 100 ha được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững hoặc chứng chỉ FSC; 50% sản lượng khai thác gỗ keo, mỡ, quế được chế biến thô tại địa phương.

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền

Tại Nghị quyết này cũng chỉ rõ việc cần tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, tạo ra sản phẩm an toàn đáp ứng nhu cầu thị trường; tăng cường liên kết sản xuất và nâng cao chuỗi giá trị để tăng thu nhập cho dân cư khu vực nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 - 2025.

Kịp thời tuyên truyền, phổ biến nội dung của Nghị quyết thông qua các phương tiện truyền thông, hội nghị, họp giao ban... đến các cơ quan, đơn vị, cơ sở, doanh nghiệp, hợp tác xã và các hộ nông dân trên địa bàn để tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết.

Thường xuyên tuyên truyền, vận động người dân thay đổi phương thức sản xuất từ quy mô nhỏ lẻ, hộ gia đình sang hình thức tổ hợp tác, hợp tác xã, liên kết sản xuất hình thành vùng sản xuất hàng hóa.

Củng cố, đổi mới và nâng cao hiệu quả các hình thức tổ chức sản xuất, quản lý trong phát triển nông lâm nghiệp: Tiếp tục hướng dẫn các cở sở, HTX, doanh nghiệp sản xuất theo chuỗi giá trị, mở rộng sản xuất liên kết, củng cố các mối liên kết theo chuỗi để đảm bảo sản xuất bền vững như xây dựng kế hoạch, phương án mở rộng các ngành nghề dịch vụ, hoạt động sản xuất kinh doanh theo hướng liên kết sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm, đặc biệt chú trọng đối với các loại sản phẩm có tiềm năng, thế mạnh của địa phương theo định hướng phát triển kinh tế - xã hội.

Khuyến khích và thu hút đầu tư tư nhân, huy động mọi nguồn lực xã hội vào phát triển nông lâm thủy sản; lồng ghép các nguồn vốn hỗ trợ người sản xuất và liên kết với các HTX, doanh nghiệp trên địa bàn phát triển vùng nguyên liệu gắn với bảo quản, chế biến và tiêu thụ hàng hóa nông, lâm, thủy sản theo chuỗi giá trị. Tăng cường sự liên kết, tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội (Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên,…).

Về xúc tiến thương mại và tiêu thụ sản phẩm: Thực hiện tốt công tác quảng bá, xúc tiến thương mại để thúc đẩy việc tiêu thụ các sản phẩm nông, lâm nghiệp của huyện như: Tham gia các hội chợ, tuần lễ giới thiệu sản phẩm nông nghiệp do tỉnh và các địa phương trong và ngoài tỉnh tổ chức; tổ chức hội thi, lễ hội về các loại nông sản, tôn vinh tổ chức, cá nhân có nhiều thành tích trong sản xuất các loại nông sản có năng suất, giá trị kinh tế cao trên địa bàn huyện.

Phối hợp với các cơ quan truyền thông để tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu sản phẩm nông lâm sản của huyện; tăng cường thông tin quảng bá, giới thiệu sản phẩm nông lâm sản của địa phương tới thị trường trong nước và ngoài nước; tích họp truy xuất nguồn gốc nông, lâm sản của địa phương để nâng tầm của sản phẩm nông sản của địa phương.

Về cơ chế chính sách, thu hút đầu tư: Thu hút, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trên địa bàn để thực hiện các mục tiêu của Nghị quyết này. Rà soát các cơ chế, chính sách quản lý, ưu đãi, hỗ trợ phát triển nông nghiệp đã ban hành để đề xuất sửa đổi, bổ sung kịp thời các chính sách thu hút đầu tư, khuyến khích phát triển sản xuất hàng hóa tập trung bảo đảm đồng bộ, thiết thực, phù hợp với quy định của pháp luật và điều kiện thực tế của địa phương.

Bài liên quan

Bắc Kạn nỗ lực đẩy nhanh tiến độ xoá nhà tạm, nhà dột nát

Bắc Kạn nỗ lực đẩy nhanh tiến độ xoá nhà tạm, nhà dột nát

Tính đến cuối tháng 4/2025, tỉnh Bắc Kạn đã đạt được những kết quả tích cực trong công tác xóa nhà tạm, nhà dột nát với tổng số 1.970 căn nhà đã khởi công và hoàn thành, đạt 41,77% so với kế hoạch đề ra.
Bắc Kạn: Tiếp tục sắp xếp, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp

Bắc Kạn: Tiếp tục sắp xếp, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp

Ngày 02/12/2024, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 103-KL/TW về việc tiếp tục sắp xếp đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty nông, lâm nghiệp.
Bắc Kạn: Tiềm năng phát triển du lịch sinh thái hồ Nặm Cắt

Bắc Kạn: Tiềm năng phát triển du lịch sinh thái hồ Nặm Cắt

Với diện tích mặt nước lên tới 87,68 ha, hồ Nặm Cắt, xã Dương Quang, thành phố Bắc Kạn nằm gọn giữa vùng địa hình đồi núi uốn lượn, nơi đây không chỉ mang vẻ đẹp mát lành, hoang sơ mà còn được ví như “lá phổi xanh” điều hòa sinh khí cho cả vùng.
Phát huy cây trồng chủ lực, mở rộng liên kết nâng cao giá trị nông nghiệp

Phát huy cây trồng chủ lực, mở rộng liên kết nâng cao giá trị nông nghiệp

Từ lợi thế cây chè đến các mô hình lúa chất lượng cao và lạc đỏ, Khuôn Lùng đẩy mạnh liên kết sản xuất, tạo đầu ra ổn định và tăng thu nhập cho người dân.
Nhà nước hỗ trợ tối đa 100% kinh phí thông tin, truyền thông khuyến nông

Nhà nước hỗ trợ tối đa 100% kinh phí thông tin, truyền thông khuyến nông

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 268/2026/NĐ-CP về khuyến nông, quy định nhiều chính sách hỗ trợ xã hội hóa, chuyển giao công nghệ, đào tạo và nhân rộng mô hình sản xuất nông nghiệp.
Hải Phòng bám sát khung thời vụ, đẩy nhanh tiến độ gieo cấy vụ Mùa

Hải Phòng bám sát khung thời vụ, đẩy nhanh tiến độ gieo cấy vụ Mùa

Những ngày cuối tháng 6, trên khắp các cánh đồng của thành phố Hải Phòng, không khí lao động sản xuất đang diễn ra khẩn trương, nhộn nhịp khi bà con nông dân bước vào cao điểm gieo cấy lúa vụ Mùa năm 2026.
Tp. Huế: Nhiều đối tượng gây hại có xu hướng gia tăng trên cây lúa

Tp. Huế: Nhiều đối tượng gây hại có xu hướng gia tăng trên cây lúa

Ngành nông nghiệp Tp. Huế khuyến cáo nông dân thường xuyên theo dõi diễn biến sâu bệnh để có biện pháp quản lý và phòng trừ kịp thời, hạn chế ảnh hưởng...
Namibia thử nghiệm trồng tỏi, hướng tới đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp

Namibia thử nghiệm trồng tỏi, hướng tới đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp

Dự án Sikondo Green Scheme tại vùng Kavango West của Namibia đang triển khai thử nghiệm trồng tỏi trên diện tích 1ha nhằm mở rộng cơ cấu cây trồng, giảm phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu và khai thác tiềm năng kinh tế của loại nông sản có giá trị cao này.
Gần 7.800 nông dân được trang bị kỹ năng quản lý rủi ro khí hậu

Gần 7.800 nông dân được trang bị kỹ năng quản lý rủi ro khí hậu

Sau hai năm triển khai, Dự án Sáng kiến tài trợ rủi ro do khí hậu cho ngành nông nghiệp tại Việt Nam (AgriCRF-VN) đã giúp hàng nghìn nông dân nâng cao năng lực quản lý tài chính trước các tác động của biến đổi khí hậu, đồng thời mở rộng khả năng tiếp cận bảo hiểm nông nghiệp và tín dụng xanh, góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp bền vững.

CÁC TIN BÀI KHÁC

Giảm phát thải và loại bỏ khí nhà kính - Đột phá chiến lược để đạt được mục tiêu Net Zero

Giảm phát thải và loại bỏ khí nhà kính - Đột phá chiến lược để đạt được mục tiêu Net Zero

Biến đổi khí hậu ngày càng nghiêm trọng, giảm phát thải khí nhà kính đã trở thành nhiệm vụ cấp bách của toàn cầu. Nhiều quốc gia đã đưa ra cam kết đạt mức phát thải ròng bằng “0” (Net Zero) vào giữa thế kỷ XXI nhằm hạn chế mức tăng nhiệt độ trái đất.
Đánh giá hiệu quả kinh tế và môi trường của mô hình sản xuất rau hữu cơ tại tỉnh Tuyên Quang

Đánh giá hiệu quả kinh tế và môi trường của mô hình sản xuất rau hữu cơ tại tỉnh Tuyên Quang

Nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế và môi trường của mô hình sản xuất rau hữu cơ tại tỉnh Tuyên Quang cho thấy, dù chi phí lao động cao hơn sản xuất truyền thống, mô hình vẫn mang lại lợi nhuận vượt trội, đồng thời giảm ô nhiễm môi trường, cải thiện độ phì nhiêu đất và góp phần thúc đẩy nền nông nghiệp phát triển bền vững.
Phát động bình chọn các điển hình tiên tiến phát triển nông nghiệp hữu cơ Việt Nam năm 2026

Phát động bình chọn các điển hình tiên tiến phát triển nông nghiệp hữu cơ Việt Nam năm 2026

Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam (VOAA) vừa có Công văn đề nghị Ủy ban nhân dân, Sở Nông nghiệp và Môi trường các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phối hợp giới thiệu, đề cử các tập thể, cá nhân tiêu biểu tham gia Chương trình “Lễ tôn vinh điển hình tiên tiến phát triển nông nghiệp hữu cơ Việt Nam lần thứ III – 2026”.
Nuôi trùn quế dưới điện mặt trời: Lợi ích “kép” trên một diện tích

Nuôi trùn quế dưới điện mặt trời: Lợi ích “kép” trên một diện tích

Tận dụng phần diện tích bên dưới các tấm pin để nuôi trùn quế đang mở ra hướng kết hợp giữa sản xuất năng lượng tái tạo và nông nghiệp hữu cơ tuần hoàn. Tuy nhiên, để mô hình phát huy hiệu quả, chủ đầu tư phải giải quyết đồng thời các yêu cầu về kỹ thuật nuôi, an toàn điện, môi trường, đất đai và đầu ra sản phẩm.
Lợi ích của thị trường carbon đối với Việt Nam

Lợi ích của thị trường carbon đối với Việt Nam

Biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp, việc cắt giảm phát thải khí nhà kính đã trở thành ưu tiên hàng đầu của nhiều quốc gia. Tuy nhiên, giảm phát thải không chỉ là vấn đề môi trường mà còn liên quan mật thiết đến tăng trưởng kinh tế, năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững.
Một số vấn đề về phát triển nông nghiệp xanh ở Việt Nam

Một số vấn đề về phát triển nông nghiệp xanh ở Việt Nam

Phát triển nông nghiệp xanh đang trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm hướng tới tăng trưởng bền vững ở Việt Nam. Tuy nhiên, quá trình này vẫn đối mặt với nhiều khó khăn như quy mô sản xuất nhỏ lẻ, hạn chế về công nghệ, nguồn vốn và thị trường. Việc tháo gỡ các rào cản sẽ tạo động lực cho nông nghiệp xanh phát triển hiệu quả.
Bảo tồn và phát huy giá trị vườn quốc gia Cát Bà - di sản thiên nhiên thế giới thực trạng và giải pháp

Bảo tồn và phát huy giá trị vườn quốc gia Cát Bà - di sản thiên nhiên thế giới thực trạng và giải pháp

Vườn quốc gia Cát Bà, thành phần của Di sản Thiên nhiên Thế giới Vịnh Hạ Long - Quần đảo Cát Bà, đang đối mặt với áp lực từ du lịch và biến đổi môi trường. Bài viết phân tích thực trạng bảo tồn, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm phát huy giá trị di sản theo hướng bền vững.
Ứng dụng phân hữu cơ vi sinh trong canh tác lúa để giảm sử dụng phân hóa học

Ứng dụng phân hữu cơ vi sinh trong canh tác lúa để giảm sử dụng phân hóa học

Nghiên cứu đánh giá hiệu quả ứng dụng phân hữu cơ vi sinh trong canh tác lúa nhằm giảm sử dụng phân hóa học. Kết quả cho thấy có thể giảm 20–30% lượng phân hóa học mà vẫn duy trì hoặc tăng năng suất, đồng thời cải thiện độ phì đất, bảo vệ môi trường và nâng cao hiệu quả kinh tế cho nông dân.
Cấu trúc quản trị rừng và tác động đến hiệu quả môi trường - bằng chứng từ dữ liệu cấp tỉnh tại Việt Nam

Cấu trúc quản trị rừng và tác động đến hiệu quả môi trường - bằng chứng từ dữ liệu cấp tỉnh tại Việt Nam

Nghiên cứu này phân tích mối quan hệ giữa cấu trúc quản trị rừng và hiệu quả môi trường tại Việt Nam, dựa trên dữ liệu tổng hợp từ 12 tỉnh theo báo cáo của các địa phương năm 2025. Kết quả cho thấy, hiệu quả môi trường (được phản ánh thông qua số vụ vi phạm lâm nghiệp và tiềm năng hấp thụ carbon) không phụ thuộc đơn thuần vào quy mô tài nguyên rừng, mà chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi cấu trúc quản trị, đặc biệt là mức độ phân cấp và xác lập quyền sở hữu rừng
Xây dựng thương hiệu quốc gia giúp nông sản Việt gia tăng giá trị bền vững

Xây dựng thương hiệu quốc gia giúp nông sản Việt gia tăng giá trị bền vững

Việc xây dựng thương hiệu quốc gia không chỉ nhằm giúp nông sản Việt bán được nhiều sản phẩm hơn, mà là để bán được giá cao hơn, đem về nhiều giá trị hơn cho đất nước, cho doanh nghiệp và đặc biệt là mang lại giá trị bền vững cho người nông dân.
Hiện trạng và giải pháp phát triển bền vững cây mắc ca tại tỉnh Đắk Lắk

Hiện trạng và giải pháp phát triển bền vững cây mắc ca tại tỉnh Đắk Lắk

Tỉnh Đắk Lắk có điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển cây mắc ca, các nghiên cứu trồng khảo nghiệm mắc ca được thực hiện từ đầu những năm 2000 (năm 2002, 2004), kết quả cho thấy cây mắc ca có sự thích nghi tốt và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người trồng.
Tác động của nông nghiệp hữu cơ đối với sức khỏe đất và đa dạng sinh học

Tác động của nông nghiệp hữu cơ đối với sức khỏe đất và đa dạng sinh học

Đất là nền tảng quan trọng của nông nghiệp hữu cơ. Canh tác hữu cơ chú trọng bảo vệ độ phì nhiêu của đất bằng phân hữu cơ, phân xanh và các biện pháp sinh học. Đất khỏe giúp cây trồng phát triển bền vững, nâng cao chất lượng nông sản, bảo vệ môi trường và hệ sinh thái.
XEM THÊM
dam-ca-mau-chi-vi-hoa
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2025 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính