Thứ sáu 17/04/2026 11:50Thứ sáu 17/04/2026 11:50 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Việt Nam phù hợp cho nhiều loài nhuyễn thể, rong biển sinh sản và phát triển

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Việt Nam có 3200km bờ biển, 112 cửa sông, 660.000 ha bãi triều, vùng đặc quyền kinh tế trên 1 triệu km2 cùng nhiều eo vịnh, đầm phá với nền đáy đa dạng. Nước ta nằm trong khu vực nhiệt đới với các yếu tố môi trường như nhiệt độ, độ mặn của vùng ven biển Việt Nam phù hợp cho nhiều loài nhuyễn thể, rong biển sinh sản và phát triển.
Ảnh: Hồng Thắm.
Vùng ven biển Việt Nam phù hợp cho nhiều loài nhuyễn thể, rong biển sinh sản và phát triển - Ảnh: Hồng Thắm.

Chiến lược phát triển thủy sản đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2045, Thủ tướng Chính phủ đặt ra mục tiêu tăng sản lượng nuôi trồng thủy sản, đa dạng hóa các đối tượng tiềm năng của Việt Nam. Trong đó, sản phẩm nhuyễn thể và rong biển là một trong đối tượng nuôi có tiềm năng, còn dư địa để phát triển. Bên cạnh đó, thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Nghị quyết 36- NQ/TW), Quyết định 1664/QĐ-TTg ngày 04/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, nhuyễn thể đã và đang là sản phẩm chính trong cơ cấu sản lượng nuôi biển tại Việt Nam còn rong biển cũng là đối tượng có nhiều tiềm năng phát triển. Năm 2024, diện tích nuôi nhuyễn thể là 57 nghìn ha (tăng 5,5% so với năm 2022, chiếm khoảng 90% tỷ trọng diện tích nuôi biển), sản lượng nhuyễn thể là 432 nghìn tấn (chiếm 56% tổng sản lượng nuôi biển); diện tích trồng rong biển là 16,5 nghìn ha, sản lượng rong biển là 155 nghìn tấn.

Bên cạnh việc đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm và tạo sinh kế cho ngư dân ven biển nói chung, nuôi nhuyễn thể và trồng rong biển còn đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu áp lực khai thác nguồn lợi thủy sản, phục hồi sinh nguồn lợi và giảm xung đột trong quá trình bảo vệ nguồn lợi thủy sản, góp phần vào thực hiện chiến lược phát triển thủy sản Việt Nam, góp phần giải quyết vấn đề khai thác hải sản bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định của ngành thủy sản. Tuy nhiên, ngành nuôi nhuyễn thể và trồng rong vẫn chưa thực sự “chuyển mình” do phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức như chất lượng giống, tiêu thụ sản phẩm, chất lượng môi trường nuôi, dịch bệnh.

Xu hướng ăn lành mạnh (tập trung vào sức khỏe và dinh dưỡng của món ăn), xu hướng sử dụng “thực phẩm toàn phần” (thực phẩm giàu dinh dưỡng và không chứa thành phần nhân tạo và hóa chất, cung cấp các chất dinh dưỡng thiết yếu mà cơ thể chúng ta cần để hoạt động tối ưu) và chế độ ăn thực vật của người dân cũng là lý do thúc đẩy sự tăng trưởng của ngành nhuyễn thể và rong biển. Bên cạnh đó, nhu cầu ngày càng tăng đối với các chất phụ gia thực phẩm lành mạnh, có thể thay thế dầu và chất béo giàu calo trong thực phẩm chế biến cũng sẽ thúc đẩy nhu cầu hydrocolloid (agar, alginate và carrageenan). Tại thị trường Mỹ, mức tăng trưởng của Hydrocolloid dự kiến là 10,7% từ năm 2020 đến năm 2028.

Phát biểu tại hội nghị "Phát triển sản xuất nhuyễn thể và rong biển" diễn ra sáng 26/12/2024, tại Nam Định, Ông Nguyễn Văn Hữu, Phó Trưởng phòng Nuôi trồng Thủy sản, Cục Thủy sản (Bộ NN-PTNT), thông tin, năm 2024, diện tích nuôi nhuyễn thể cả nước là 57.000ha, sản lượng nuôi đạt 477.878 tấn, tăng 8,4% so với cùng kỳ.

Các đối tượng nhuyễn thể được nuôi phổ biến hiện nay bao gồm các loài: ngao/nghêu, ngao dầu, ngao vân, vẹm xanh, ốc hương, sò huyết, sò lông, tu hài, hàu cửa sông, hàu Thái Bình Dương, điệp, ốc nhảy...

Việt Nam đã xuất khẩu nhuyễn thể sang nhiều thị trường trên thế giới. Trong 11 tháng của năm 2024, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này đạt 195,3 triệu USD, tăng 67% so với cùng kỳ năm ngoái. Các đối tượng xuất khẩu chủ yếu là ngao/nghêu, hàu, sò, vẹm.

Với rong biển, theo nhiều nghiên cứu, diện tích có tiềm năng cho trồng rong ở Việt Nam vào khoảng 900.000ha (tương đương với sản lượng 600.000-700.000 tấn khô/năm) nhưng việc trồng rong ở Việt Nam vẫn dừng lại ở quy mô nhỏ; nhiều năm qua, diện tích trồng rong không có đột phá. Diện tích trồng rong giai đoạn 2005-2024 chỉ tăng từ 8.265ha lên 16.500ha. Sản lượng thu hoạch năm 2024 khoảng 155.000 tấn tươi.

Sìn Hồ đẩy mạnh phát triển nuôi trồng thủy sản, nâng cao thu nhập cho người dân Sìn Hồ đẩy mạnh phát triển nuôi trồng thủy sản, nâng cao thu nhập cho người dân

Huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đang đẩy mạnh nuôi trồng thủy sản, tận dụng lợi thế mặt nước, giúp người dân nâng cao thu ...

Nuôi theo chuẩn hữu cơ: Ngành thủy sản duyên hải miền Trung gặp khó Nuôi theo chuẩn hữu cơ: Ngành thủy sản duyên hải miền Trung gặp khó

Theo số liệu báo cáo tổng kết thực hiện kế hoạch phát triển ngành nông nghiệp, nông thôn năm 2023 và triển khai kế hoạch ...

Cao Bằng: Phát triển nuôi trồng thủy sản hiệu quả Cao Bằng: Phát triển nuôi trồng thủy sản hiệu quả

Cao Bằng đang tập trung phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng bền vững, ứng dụng công nghệ cao, góp phần nâng cao hiệu ...

Theo báo cáo từ Cục Thủy sản (Bộ NN&PTNT), thị trường nhuyễn thể dự kiến sẽ có tốc độ tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) vừa phải là 4,5% trong giai đoạn dự báo từ năm 2022 đến năm 2032. Theo FMI, thị trường động vật thân mềm dự kiến sẽ tăng trưởng từ 60,72 tỷ đô la Mỹ vào năm 2021 lên 98,54 tỷ đô la Mỹ vào năm 2032. Trong khi đó, quy mô thị trường rong biển thương mại toàn cầu được định giá 16,6 tỷ USD vào năm 2020 và dự kiến sẽ mở rộng với tốc độ tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) là 10,8% từ năm 2021 đến năm 2028. Nhu cầu thị trường được dự đoán sẽ được thúc đẩy bởi sự phát triển công nghệ ngày càng tăng trong nuôi trồng rong biển cùng với đầu 10 tư ngày càng tăng vào các phân khúc ứng dụng, bao gồm thức ăn chăn nuôi và nông nghiệp.

Nghề trồng rong biển hiện đang nhận được sự quan tâm ngày càng tăng từ các quốc gia có thu nhập cao như một giải pháp dựa vào thiên nhiên để phát triển kinh tế, đóng góp to lớn vào các Mục tiêu Phát triển Bền vững của Liên hợp quốc (SDGs), SDG 14 (sinh vật thuỷ sinh), SDG13 (hành động khí hậu), SDG6 (tăng trưởng kinh tế và việc làm), SDG5 (bình đẳng giới) và Thập kỷ Khoa học Đại dương vì Phát triển Bền vững của Liên hợp quốc (2021 - 2030). Việc phát triển các công nghệ mới, dựa trên sinh thái, nuôi cấy bền vững sẽ đảm bảo việc làm trong tương lai cho các cộng đồng ven biển, các hệ sinh thái ven biển khỏe mạnh hơn và bảo vệ các quần thể hoang dã quan trọng.

Người dân có kinh nghiệm, kỹ thuật nuôi nhuyễn thể và trồng rong biển đơn giản, chi phí thấp. Sự phát triển của công nghệ như tự động hóa, máy học và trí tuệ nhân tạo có khả năng thúc đẩy thị trường phát triển, hỗ trợ phương pháp chọn lọc giống, cũng như các hệ thống giám sát và quản lý hoặc giám sát canh tác được tối ưu hóa.

Nếu sản lượng rong biển toàn cầu sẽ đạt 500 triệu tấn vào năm 2050 theo dự báo của Ngân hàng thế giới, thì diện tích mặt nước biển canh tác chỉ là 0,5 triệu km2 (bằng 0,03% diện tích bề mặt đại dương), tiết kiệm 1 triệu km2 đất trồng trọt (bằng 6% diện tích đất trồng trọt toàn cầu), tiết kiệm 500 km3 nước ngọt (bằng 14% lượng nước ngọt mất đi trên toàn thế giới hàng năm); lượng protein sẽ cung cấp cho người và động vật là 50.000.000 tấn, ước tích giá trị 28 tỷ USD và có thể thay thế hoàn toàn dầu cá trong thức ăn chăn nuôi.

Cũng 500 triệu tấn này sẽ hấp thụ 10 triệu tấn nitơ (tương đương 30% lượng nitơ trong nước biển), 15 triệu tấn phốt pho (tương đương 33% tổng lượng phốt pho trong nước biển) và cố định 135 triệu tấn carbon (bằng khoảng 6% lượng carbon được thêm vào đại dương mỗi năm do phát thải khí nhà kính); đồng thời với sản lượng này sẽ sản xuất được lượng năng lượng tương đương với 23 tỷ gallon xăng, tiềm năng năng lượng sinh học cung cấp là 1,25 triệu MWh (bằng 1% lượng năng lượng sử dụng hàng năm toàn cầu).

Ủy ban Châu Âu cũng đã công nhận rằng tảo (tảo biển và vi tảo) là một lựa chọn đầy hứa hẹn cho an ninh lương thực, đến năm 2054 việc canh tác tảo tập thể có thể đạt sản lượng 56 triệu tấn protein, chiếm 18% thị trường protein thay thế toàn cầu. Việc trồng rong biển cũng góp phần tăng số lượng tín chỉ carbon cho Việt Nam và nhiều nước trên thế giới bởi rong biển hấp thu CO2 nhanh gấp 5 lần cây cối trên cạn, thời gian luân chuyển bể chứa cacbon của hệ sinh thái biển chỉ là 10 năm trong khi thời gian này đối với rừng trồng là 50 năm.

Bài liên quan

Quảng Ninh: Các địa phương đồng loạt phát động thả giống thủy sản

Quảng Ninh: Các địa phương đồng loạt phát động thả giống thủy sản

Sáng 1/4, nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đã tổ chức thả con giống thủy sản về môi trường biển, góp phần tái tạo nguồn lợi thủy sản và nâng cao ý thức bảo vệ hệ sinh thái biển.
Quảng Ninh: Thiết lập các điểm kiểm tra, kiểm soát tàu cá trên địa bàn

Quảng Ninh: Thiết lập các điểm kiểm tra, kiểm soát tàu cá trên địa bàn

Nhằm tăng cường quản lý hoạt động khai thác thủy sản và thực hiện các nhiệm vụ chống khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU), UBND tỉnh Quảng Ninh vừa ban hành Quyết định 749/QĐ-UBND ngày 06/03/2026 về việc thiết lập tạm thời các điểm kiểm tra, kiểm soát tàu cá tại các bến, cảng và khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá trên địa bàn tỉnh.
Nguyên liệu đạm thay thế bột cá trong thức ăn chăn nuôi và thủy sản

Nguyên liệu đạm thay thế bột cá trong thức ăn chăn nuôi và thủy sản

Ngành thức ăn chăn nuôi và NTTS ngày một tăng trưởng làm gia tăng sử dụng nguyên liệu đạm, đặc biệt các loài nuôi thủy sản lợ, mặn như tôm và cá biển sử dụng hàm lượng cao đạm bột cá trong công thức. Tuy nhiên, nguồn cung này đang dần khan hiếm, đòi hỏi cấp bách một sự thay thế.
Quảng Ninh: Lãnh đạo tỉnh thăm và chúc tết doanh nghiệp chế biến thủy sản

Quảng Ninh: Lãnh đạo tỉnh thăm và chúc tết doanh nghiệp chế biến thủy sản

Sáng 20/2/2026 (tức mùng 4 Tết), Phó Chủ tịch tỉnh Quảng Ninh đã đến thăm, chúc Tết và làm việc với Công ty Cổ phần Thủy hải sản Tất Thành – cơ sở chế biến hầu tại phường Liên Hòa.
Xu hướng công nghệ thủy sản 2026

Xu hướng công nghệ thủy sản 2026

Biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và dịch bệnh đang đặt ra những thách thức ngày càng lớn đối với ngành thủy sản. Trong bối cảnh đó, việc ứng dụng công nghệ không chỉ nhằm nâng cao năng suất, mà còn là chìa khóa để bảo đảm hiệu quả, bền vững và an toàn. Dưới đây là các công nghệ được kỳ vọng sẽ định hình xu hướng phát triển của ngành thủy sản trong năm 2026.
Singapore khởi động dự án nuôi cá hồi vân công nghệ cao ngay tại vùng nhiệt đới

Singapore khởi động dự án nuôi cá hồi vân công nghệ cao ngay tại vùng nhiệt đới

Với công suất thiết kế lên tới 3.000 tấn mỗi năm, dự án nuôi trồng thủy sản trong nhà tại Singapore đang hiện thực hóa việc nuôi loài cá nước lạnh ngay giữa lòng thành phố nhiệt đới nhờ ứng dụng công nghệ tuần hoàn tiên tiến.

CÁC TIN BÀI KHÁC

Nghiên cứu xây dựng công thức ủ thân chuối thải loại sau thu hoạch thành phân bón hữu cơ chất lượng cao

Nghiên cứu xây dựng công thức ủ thân chuối thải loại sau thu hoạch thành phân bón hữu cơ chất lượng cao

Nghiên cứu tập trung vào việc tận dụng thân chuối thải loại để sản xuất phân bón hữu cơ, góp phần giảm chất thải nông nghiệp tại Việt Nam. Nguyên liệu sử dụng trong nghiên cứu là thân chuối sau thu hoạch được lấy từ vườn chuối ogarnic của hộ gia đình chị Lê Tuyết Mai tại xã Xuyên Mộc, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ẩm thực chay: Lựa chọn xanh hướng tới lối sống bền vững

Ẩm thực chay: Lựa chọn xanh hướng tới lối sống bền vững

Sự quan tâm đến sức khỏe đang thúc đẩy xu hướng ăn chay trở nên phổ biến rộng rãi trong xã hội hiện đại. Tại các thành phố lớn, nhiều người tìm đến chế độ thuần ăn thực vật với kỳ vọng cải thiện sức khỏe và góp phần điều trị một số bệnh lý. Tuy nhiên, hành trình này thường đối mặt với những thách thức đáng kể, xuất phát từ sự thiếu hụt kiến thức và kinh nghiệm.
Công nghệ xanh và sinh học - Động lực cho tương lai phát triển

Công nghệ xanh và sinh học - Động lực cho tương lai phát triển

Trong bối cảnh thế giới đang đối mặt với hàng loạt thách thức như biến đổi khí hậu, cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường và dịch bệnh toàn cầu, hai lĩnh vực Công nghệ xanh và Công nghệ sinh học đang nổi lên như những trụ cột chiến lược, định hình tương lai phát triển dài hạn của nhân loại. Không chỉ mang lại giải pháp cho các vấn đề cấp bách, hai lĩnh vực này còn mở ra một mô hình phát triển mới - hài hòa giữa kinh tế, môi trường và con người.
Công nghệ truy xuất nguồn gốc: “Tấm hộ chiếu” minh bạch cho nông sản du lịch

Công nghệ truy xuất nguồn gốc: “Tấm hộ chiếu” minh bạch cho nông sản du lịch

Trong kỷ nguyên số, khi người tiêu dùng không chỉ ăn bằng vị giác mà còn bằng niềm tin, do vậy việc ứng dụng công nghệ truy xuất nguồn gốc (TXNG) như QR Code hay Blockchain không còn là một lựa chọn cộng thêm, mà đã trở thành xu hướng tất yếu - một “tấm hộ chiếu” quyền lực giúp nông sản tự tin bước vào thị trường du lịch cao cấp.
Triển khai thực hiện Chiến lược Sở hữu trí tuệ đến năm 2030: Động lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển

Triển khai thực hiện Chiến lược Sở hữu trí tuệ đến năm 2030: Động lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển

Trong bối cảnh kinh tế tri thức và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang phát triển mạnh mẽ, sở hữu trí tuệ (SHTT) ngày càng trở thành nguồn lực quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Giải pháp tạo nguồn thực phẩm sạch cho phát triển du lịch

Giải pháp tạo nguồn thực phẩm sạch cho phát triển du lịch

Hiện nay, ẩm thực ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên bản sắc của du lịch Việt Nam. Không chỉ dừng lại ở việc thưởng thức món ăn, du khách ngày nay quan tâm nhiều hơn đến nguồn gốc nguyên liệu, quy trình sản xuất và mức độ an toàn của thực phẩm. Do đó cần nhìn nhận rõ vai trò, đánh giá đúng thực trạng nguồn cung thực phẩm sạch để có những giải pháp phát triển phù hợp.
Thuyết di truyền Mendel - Nền tảng của di truyền học hiện đại

Thuyết di truyền Mendel - Nền tảng của di truyền học hiện đại

Thuyết di truyền của Gregor Mendel được xem là nền tảng của di truyền học hiện đại, mở ra một cách hiểu hoàn toàn mới về cách các đặc điểm sinh học được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Dù được công bố từ giữa thế kỷ XIX, những phát hiện của Mendel vẫn giữ nguyên giá trị khoa học và được ứng dụng rộng rãi trong nông nghiệp, y học và công nghệ sinh học ngày nay.
Du lịch xanh cần “chuẩn hóa” thực phẩm sạch

Du lịch xanh cần “chuẩn hóa” thực phẩm sạch

Du lịch xanh không thể chỉ được đo bằng cảnh quan trong lành, vật liệu thân thiện với môi trường hay những khẩu hiệu giảm phát thải. Với du khách, “màu xanh” của một điểm đến còn nằm ngay trong bữa ăn hằng ngày - thực phẩm có an toàn hay không, có minh bạch nguồn gốc hay không, có được kiểm soát xuyên suốt từ vùng nguyên liệu đến bàn ăn hay không. Khi khái niệm “thực phẩm sạch” vẫn còn được hiểu theo nhiều cách khác nhau, việc chuẩn hóa từ tiêu chuẩn, chứng nhận đến truy xuất và hậu kiểm đang trở thành yêu cầu cấp thiết để du lịch xanh phát triển đúng nghĩa và bền vững.
Đảm bảo an toàn thực phẩm mùa lễ hội: Đồng bộ nhiều giải pháp

Đảm bảo an toàn thực phẩm mùa lễ hội: Đồng bộ nhiều giải pháp

Mùa lễ hội đầu năm luôn là thời điểm sôi động của đời sống văn hóa - xã hội tại Việt Nam. Từ các lễ hội truyền thống ở làng quê đến những sự kiện văn hóa, du lịch quy mô lớn, hàng triệu người dân và du khách cùng tham gia, kéo theo nhu cầu tiêu dùng thực phẩm tăng mạnh. Tuy nhiên, bên cạnh không khí vui tươi và giá trị văn hóa đặc sắc, vấn đề an toàn thực phẩm trong mùa lễ hội luôn là mối lo thường trực của xã hội. Trong bối cảnh lượng thực phẩm tiêu thụ lớn, hoạt động kinh doanh mang tính thời vụ và điều kiện kiểm soát còn nhiều hạn chế, nguy cơ mất an toàn thực phẩm có thể gia tăng nếu không có những giải pháp quản lý và nâng cao nhận thức kịp thời.
Lúa mì (tiểu mạch) - Nền tảng của văn minh nông nghiệp nhân loại

Lúa mì (tiểu mạch) - Nền tảng của văn minh nông nghiệp nhân loại

Lúa mì, hay còn gọi là tiểu mạch, có tên khoa học là Triticum spp., là một trong những cây lương thực quan trọng nhất của nhân loại. Cùng với lúa gạo và ngô, lúa mì tạo thành “bộ ba” cây trồng nuôi sống phần lớn dân số thế giới. Không chỉ là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu, lúa mì còn gắn liền với lịch sử phát triển của các nền văn minh cổ đại và hiện đại.
Chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi, hướng tới phát triển nông nghiệp bền vững

Chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi, hướng tới phát triển nông nghiệp bền vững

Sáng 07/4, UBND xã Yên Phú, tỉnh Tuyên Quang tổ chức Hội nghị tọa đàm định hướng chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi, hướng tới phát triển nông nghiệp bền vững năm 2026. Tọa đàm không chỉ là dịp để địa phương xác định hướng đi mới cho sản xuất nông nghiệp, mà còn làm rõ thực trạng sản xuất nông, lâm nghiệp, chăn nuôi, thủy sản, chỉ ra những khó khăn, hạn chế và gợi mở các giải pháp phát huy tiềm năng, lợi thế địa phương trong giai đoạn tới.
Ngô, khoai, sắn - “bệ đỡ” thầm lặng của an ninh lương thực Việt Nam

Ngô, khoai, sắn - “bệ đỡ” thầm lặng của an ninh lương thực Việt Nam

Ngô, khoai và sắn là ba loại cây trồng quen thuộc, gắn bó lâu đời với sản xuất nông nghiệp và đời sống người dân Việt Nam. Không chỉ đóng vai trò là nguồn lương thực bổ sung, chúng còn góp phần quan trọng vào đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu, gia tăng dân số và những biến động khó lường của thị trường toàn cầu.
XEM THÊM
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2025 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính