ki-niem-15-voaa
Thứ hai 26/10/2026 01:53Thứ hai 26/10/2026 01:53 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Việt Nam phù hợp cho nhiều loài nhuyễn thể, rong biển sinh sản và phát triển

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Việt Nam có 3200km bờ biển, 112 cửa sông, 660.000 ha bãi triều, vùng đặc quyền kinh tế trên 1 triệu km2 cùng nhiều eo vịnh, đầm phá với nền đáy đa dạng. Nước ta nằm trong khu vực nhiệt đới với các yếu tố môi trường như nhiệt độ, độ mặn của vùng ven biển Việt Nam phù hợp cho nhiều loài nhuyễn thể, rong biển sinh sản và phát triển.
Ảnh: Hồng Thắm.
Vùng ven biển Việt Nam phù hợp cho nhiều loài nhuyễn thể, rong biển sinh sản và phát triển - Ảnh: Hồng Thắm.

Chiến lược phát triển thủy sản đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2045, Thủ tướng Chính phủ đặt ra mục tiêu tăng sản lượng nuôi trồng thủy sản, đa dạng hóa các đối tượng tiềm năng của Việt Nam. Trong đó, sản phẩm nhuyễn thể và rong biển là một trong đối tượng nuôi có tiềm năng, còn dư địa để phát triển. Bên cạnh đó, thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Nghị quyết 36- NQ/TW), Quyết định 1664/QĐ-TTg ngày 04/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, nhuyễn thể đã và đang là sản phẩm chính trong cơ cấu sản lượng nuôi biển tại Việt Nam còn rong biển cũng là đối tượng có nhiều tiềm năng phát triển. Năm 2024, diện tích nuôi nhuyễn thể là 57 nghìn ha (tăng 5,5% so với năm 2022, chiếm khoảng 90% tỷ trọng diện tích nuôi biển), sản lượng nhuyễn thể là 432 nghìn tấn (chiếm 56% tổng sản lượng nuôi biển); diện tích trồng rong biển là 16,5 nghìn ha, sản lượng rong biển là 155 nghìn tấn.

Bên cạnh việc đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm và tạo sinh kế cho ngư dân ven biển nói chung, nuôi nhuyễn thể và trồng rong biển còn đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu áp lực khai thác nguồn lợi thủy sản, phục hồi sinh nguồn lợi và giảm xung đột trong quá trình bảo vệ nguồn lợi thủy sản, góp phần vào thực hiện chiến lược phát triển thủy sản Việt Nam, góp phần giải quyết vấn đề khai thác hải sản bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định của ngành thủy sản. Tuy nhiên, ngành nuôi nhuyễn thể và trồng rong vẫn chưa thực sự “chuyển mình” do phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức như chất lượng giống, tiêu thụ sản phẩm, chất lượng môi trường nuôi, dịch bệnh.

Xu hướng ăn lành mạnh (tập trung vào sức khỏe và dinh dưỡng của món ăn), xu hướng sử dụng “thực phẩm toàn phần” (thực phẩm giàu dinh dưỡng và không chứa thành phần nhân tạo và hóa chất, cung cấp các chất dinh dưỡng thiết yếu mà cơ thể chúng ta cần để hoạt động tối ưu) và chế độ ăn thực vật của người dân cũng là lý do thúc đẩy sự tăng trưởng của ngành nhuyễn thể và rong biển. Bên cạnh đó, nhu cầu ngày càng tăng đối với các chất phụ gia thực phẩm lành mạnh, có thể thay thế dầu và chất béo giàu calo trong thực phẩm chế biến cũng sẽ thúc đẩy nhu cầu hydrocolloid (agar, alginate và carrageenan). Tại thị trường Mỹ, mức tăng trưởng của Hydrocolloid dự kiến là 10,7% từ năm 2020 đến năm 2028.

Phát biểu tại hội nghị "Phát triển sản xuất nhuyễn thể và rong biển" diễn ra sáng 26/12/2024, tại Nam Định, Ông Nguyễn Văn Hữu, Phó Trưởng phòng Nuôi trồng Thủy sản, Cục Thủy sản (Bộ NN-PTNT), thông tin, năm 2024, diện tích nuôi nhuyễn thể cả nước là 57.000ha, sản lượng nuôi đạt 477.878 tấn, tăng 8,4% so với cùng kỳ.

Các đối tượng nhuyễn thể được nuôi phổ biến hiện nay bao gồm các loài: ngao/nghêu, ngao dầu, ngao vân, vẹm xanh, ốc hương, sò huyết, sò lông, tu hài, hàu cửa sông, hàu Thái Bình Dương, điệp, ốc nhảy...

Việt Nam đã xuất khẩu nhuyễn thể sang nhiều thị trường trên thế giới. Trong 11 tháng của năm 2024, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này đạt 195,3 triệu USD, tăng 67% so với cùng kỳ năm ngoái. Các đối tượng xuất khẩu chủ yếu là ngao/nghêu, hàu, sò, vẹm.

Với rong biển, theo nhiều nghiên cứu, diện tích có tiềm năng cho trồng rong ở Việt Nam vào khoảng 900.000ha (tương đương với sản lượng 600.000-700.000 tấn khô/năm) nhưng việc trồng rong ở Việt Nam vẫn dừng lại ở quy mô nhỏ; nhiều năm qua, diện tích trồng rong không có đột phá. Diện tích trồng rong giai đoạn 2005-2024 chỉ tăng từ 8.265ha lên 16.500ha. Sản lượng thu hoạch năm 2024 khoảng 155.000 tấn tươi.

Sìn Hồ đẩy mạnh phát triển nuôi trồng thủy sản, nâng cao thu nhập cho người dân Sìn Hồ đẩy mạnh phát triển nuôi trồng thủy sản, nâng cao thu nhập cho người dân

Huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đang đẩy mạnh nuôi trồng thủy sản, tận dụng lợi thế mặt nước, giúp người dân nâng cao thu ...

Nuôi theo chuẩn hữu cơ: Ngành thủy sản duyên hải miền Trung gặp khó Nuôi theo chuẩn hữu cơ: Ngành thủy sản duyên hải miền Trung gặp khó

Theo số liệu báo cáo tổng kết thực hiện kế hoạch phát triển ngành nông nghiệp, nông thôn năm 2023 và triển khai kế hoạch ...

Cao Bằng: Phát triển nuôi trồng thủy sản hiệu quả Cao Bằng: Phát triển nuôi trồng thủy sản hiệu quả

Cao Bằng đang tập trung phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng bền vững, ứng dụng công nghệ cao, góp phần nâng cao hiệu ...

Theo báo cáo từ Cục Thủy sản (Bộ NN&PTNT), thị trường nhuyễn thể dự kiến sẽ có tốc độ tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) vừa phải là 4,5% trong giai đoạn dự báo từ năm 2022 đến năm 2032. Theo FMI, thị trường động vật thân mềm dự kiến sẽ tăng trưởng từ 60,72 tỷ đô la Mỹ vào năm 2021 lên 98,54 tỷ đô la Mỹ vào năm 2032. Trong khi đó, quy mô thị trường rong biển thương mại toàn cầu được định giá 16,6 tỷ USD vào năm 2020 và dự kiến sẽ mở rộng với tốc độ tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) là 10,8% từ năm 2021 đến năm 2028. Nhu cầu thị trường được dự đoán sẽ được thúc đẩy bởi sự phát triển công nghệ ngày càng tăng trong nuôi trồng rong biển cùng với đầu 10 tư ngày càng tăng vào các phân khúc ứng dụng, bao gồm thức ăn chăn nuôi và nông nghiệp.

Nghề trồng rong biển hiện đang nhận được sự quan tâm ngày càng tăng từ các quốc gia có thu nhập cao như một giải pháp dựa vào thiên nhiên để phát triển kinh tế, đóng góp to lớn vào các Mục tiêu Phát triển Bền vững của Liên hợp quốc (SDGs), SDG 14 (sinh vật thuỷ sinh), SDG13 (hành động khí hậu), SDG6 (tăng trưởng kinh tế và việc làm), SDG5 (bình đẳng giới) và Thập kỷ Khoa học Đại dương vì Phát triển Bền vững của Liên hợp quốc (2021 - 2030). Việc phát triển các công nghệ mới, dựa trên sinh thái, nuôi cấy bền vững sẽ đảm bảo việc làm trong tương lai cho các cộng đồng ven biển, các hệ sinh thái ven biển khỏe mạnh hơn và bảo vệ các quần thể hoang dã quan trọng.

Người dân có kinh nghiệm, kỹ thuật nuôi nhuyễn thể và trồng rong biển đơn giản, chi phí thấp. Sự phát triển của công nghệ như tự động hóa, máy học và trí tuệ nhân tạo có khả năng thúc đẩy thị trường phát triển, hỗ trợ phương pháp chọn lọc giống, cũng như các hệ thống giám sát và quản lý hoặc giám sát canh tác được tối ưu hóa.

Nếu sản lượng rong biển toàn cầu sẽ đạt 500 triệu tấn vào năm 2050 theo dự báo của Ngân hàng thế giới, thì diện tích mặt nước biển canh tác chỉ là 0,5 triệu km2 (bằng 0,03% diện tích bề mặt đại dương), tiết kiệm 1 triệu km2 đất trồng trọt (bằng 6% diện tích đất trồng trọt toàn cầu), tiết kiệm 500 km3 nước ngọt (bằng 14% lượng nước ngọt mất đi trên toàn thế giới hàng năm); lượng protein sẽ cung cấp cho người và động vật là 50.000.000 tấn, ước tích giá trị 28 tỷ USD và có thể thay thế hoàn toàn dầu cá trong thức ăn chăn nuôi.

Cũng 500 triệu tấn này sẽ hấp thụ 10 triệu tấn nitơ (tương đương 30% lượng nitơ trong nước biển), 15 triệu tấn phốt pho (tương đương 33% tổng lượng phốt pho trong nước biển) và cố định 135 triệu tấn carbon (bằng khoảng 6% lượng carbon được thêm vào đại dương mỗi năm do phát thải khí nhà kính); đồng thời với sản lượng này sẽ sản xuất được lượng năng lượng tương đương với 23 tỷ gallon xăng, tiềm năng năng lượng sinh học cung cấp là 1,25 triệu MWh (bằng 1% lượng năng lượng sử dụng hàng năm toàn cầu).

Ủy ban Châu Âu cũng đã công nhận rằng tảo (tảo biển và vi tảo) là một lựa chọn đầy hứa hẹn cho an ninh lương thực, đến năm 2054 việc canh tác tảo tập thể có thể đạt sản lượng 56 triệu tấn protein, chiếm 18% thị trường protein thay thế toàn cầu. Việc trồng rong biển cũng góp phần tăng số lượng tín chỉ carbon cho Việt Nam và nhiều nước trên thế giới bởi rong biển hấp thu CO2 nhanh gấp 5 lần cây cối trên cạn, thời gian luân chuyển bể chứa cacbon của hệ sinh thái biển chỉ là 10 năm trong khi thời gian này đối với rừng trồng là 50 năm.

Bài liên quan

58 thông báo SPS liên quan đến an toàn thực phẩm và kiểm dịch

58 thông báo SPS liên quan đến an toàn thực phẩm và kiểm dịch

Trong thời gian từ ngày 1 đến 15/10/2026, các thành viên Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) có 58 thông báo về các biện pháp an toàn thực phẩm và kiểm dịch động, thực vật. Trong đó, 28 thông báo dự thảo được đưa ra lấy ý kiến và 30 thông báo về các biện pháp đã có hiệu lực.
Quảng Ninh: Xử lý bè nuôi thủy sản trái phép

Quảng Ninh: Xử lý bè nuôi thủy sản trái phép

Phường Tuần Châu phối hợp với Ban Quản lý Khu kinh tế thành phố, Đội Cảnh sát đường thủy - Phòng Cảnh sát giao thông, Công an thành phố và Trạm Biên phòng Tuần Châu tổ chức xử lý bè nuoi trái phép trên địa bàn.
Tp. Huế: Phường Thuận An xây dựng chuỗi giá trị thủy sản gắn với kinh tế biển xanh

Tp. Huế: Phường Thuận An xây dựng chuỗi giá trị thủy sản gắn với kinh tế biển xanh

Sự ra đời của HTX Chế biến Thủy sản Thuận An mở thêm một hướng liên kết để nguồn nguyên liệu thủy sản được khai thác, chế biến và tiêu thụ hiệu quả hơn...
Đồng Tháp phát hiện 2 trường hợp dùng kích điện đánh bắt thủy sản

Đồng Tháp phát hiện 2 trường hợp dùng kích điện đánh bắt thủy sản

Công an các xã Đồng Sơn và Mỹ Đức Tây, tỉnh Đồng Tháp vừa phát hiện 2 trường hợp sử dụng kích điện để khai thác thủy sản trái phép, tạm giữ các phương tiện, dụng cụ liên quan để xử lý theo quy định.
Nuôi trồng thủy sản Quảng Ninh tăng 33,6%

Nuôi trồng thủy sản Quảng Ninh tăng 33,6%

Sản xuất thủy sản tiếp tục là một trong những điểm sáng của ngành nông nghiệp Quảng Ninh trong năm 2026. Theo số liệu cập nhật mới, tổng sản lượng thủy sản của địa phương đạt gần 141.600 tấn, trong đó sản lượng khai thác đạt trên 52.410 tấn, còn nuôi trồng đạt 89.189,63 tấn.
TP.HCM đẩy mạnh truy xuất nguồn gốc, kết nối dữ liệu nông sản

TP.HCM đẩy mạnh truy xuất nguồn gốc, kết nối dữ liệu nông sản

TP.HCM triển khai Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trong đó ưu tiên các sản phẩm chủ lực, OCOP, sản phẩm xuất khẩu và những chuỗi sản xuất trọng điểm; đồng thời từng bước kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống đang vận hành.

CÁC TIN BÀI KHÁC

Làm sạch thị trường phân bón Việt Nam - Kỳ 3: Phân bón giả và cái giá phải trả của người nông dân

Làm sạch thị trường phân bón Việt Nam - Kỳ 3: Phân bón giả và cái giá phải trả của người nông dân

Thị trường phân bón liên tiếp phát hiện các vụ sản xuất, kinh doanh hàng giả với quy mô lớn, cho thấy công tác kiểm soát chất lượng vật tư nông nghiệp cần được siết chặt. Tình trạng này không chỉ ảnh hưởng đến chi phí, năng suất và hiệu quả mùa vụ của người nông dân mà còn tác động đến uy tín của doanh nghiệp chân chính và tính minh bạch của thị trường.
Phụ nữ Bằng Lăng - Tự tin, sáng tạo, chung sức xây dựng nông nghiệp hữu cơ

Phụ nữ Bằng Lăng - Tự tin, sáng tạo, chung sức xây dựng nông nghiệp hữu cơ

Từ những nương cà phê không thuốc cỏ, những luống rau xanh nói không với hóa chất đến vai trò giữ bình yên thôn bản, phụ nữ thôn Bằng Lăng đang khẳng định hình ảnh người phụ nữ Tây Nguyên thời đại mới - tự chủ kinh tế và giữ màu xanh cho đất.
Làm sạch thị trường phân bón Việt Nam - Kỳ 2: Cần giải pháp đồng bộ

Làm sạch thị trường phân bón Việt Nam - Kỳ 2: Cần giải pháp đồng bộ

Muốn ngăn chặn hiệu quả phân bón giả, phân bón kém chất lượng, không thể chỉ dừng ở việc phát hiện và xử phạt những vụ vi phạm riêng lẻ. Yêu cầu đặt ra là phải kiểm soát từ nguồn sản xuất, minh bạch chuỗi phân phối, nâng cao năng lực kiểm nghiệm và xác lập trách nhiệm phối hợp giữa Nhà nước, hiệp hội, doanh nghiệp trong bảo vệ quyền lợi người nông dân.
Áp lực cạnh tranh và giảm giá nông sản: Đâu là cốt lõi?

Áp lực cạnh tranh và giảm giá nông sản: Đâu là cốt lõi?

Trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, nông sản Việt Nam đứng trước cơ hội mở rộng thị trường nhưng cũng phải đối mặt với áp lực cạnh tranh gay gắt về giá cả, chất lượng và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn. Tình trạng được mùa mất giá, giá bán bấp bênh, chi phí đầu vào tăng cao vẫn là nỗi lo thường trực của người sản xuất. Vậy đâu là nguyên nhân cốt lõi và giải pháp nào giúp nông sản Việt thoát khỏi vòng luẩn quẩn cạnh tranh bằng giá rẻ?
Thúc đẩy giáo dục STEAM, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Thúc đẩy giáo dục STEAM, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Đại học Huế thúc đẩy giáo dục STEAM, tăng hợp tác doanh nghiệp, mở rộng thực tập và phát triển nhân lực chất lượng cao, hướng đến phát triển bền vững...
Làm sạch thị trường phân bón Việt Nam - Kỳ 1: Phân bón giả và những “lỗ hổng” trong quản lý

Làm sạch thị trường phân bón Việt Nam - Kỳ 1: Phân bón giả và những “lỗ hổng” trong quản lý

Phân bón giả, phân bón kém chất lượng không chỉ gây thiệt hại cho người nông dân, làm tổn hại uy tín doanh nghiệp mà còn đặt ra những thách thức đối với công tác quản lý vật tư nông nghiệp. Những vụ việc được phát hiện gần đây cho thấy, bên cạnh thủ đoạn gian lận ngày càng tinh vi, vẫn còn những bất cập cần được nhận diện và khắc phục từ khâu sản xuất đến lưu thông, phân phối.
Tháo gỡ điểm nghẽn vật tư đầu vào cho nông nghiệp hữu cơ

Tháo gỡ điểm nghẽn vật tư đầu vào cho nông nghiệp hữu cơ

Vật tư đầu vào đạt chuẩn có vai trò quan trọng đối với chất lượng nông sản hữu cơ, song nguồn cung, giá thành và khả năng kiểm soát chất lượng vẫn là những thách thức đối với người sản xuất. Tháo gỡ các điểm nghẽn này đòi hỏi sự phối hợp giữa doanh nghiệp, hiệp hội và nông dân nhằm xây dựng chuỗi cung ứng vật tư minh bạch, ổn định và đáp ứng yêu cầu sản xuất hữu cơ.
Tăng cường phối hợp, ngăn chặn phân bón giả, làm sạch thị trường phân bón Việt Nam

Tăng cường phối hợp, ngăn chặn phân bón giả, làm sạch thị trường phân bón Việt Nam

Ngày 16/10/2026, tại Hà Nội, Hiệp hội Phân bón Việt Nam tổ chức Hội thảo “Phân bón giả – Nhận diện, ngăn chặn và xử lý”, với chủ đề “Tăng cường phối hợp Nhà nước - Hiệp hội - Doanh nghiệp trong việc làm sạch thị trường phân bón Việt Nam”. Hội thảo tập trung đánh giá thực trạng, nhận diện những bất cập và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả phòng, chống phân bón giả, phân bón kém chất lượng.
Thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển hệ thống thực phẩm bền vững

Thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển hệ thống thực phẩm bền vững

Food Innovation Day 2026 tại Huế là sự kiện thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, giảm lãng phí thực phẩm và kết nối nguồn lực vì nông nghiệp bền vững...
Phát huy vai trò nông dân trong xây dựng nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại

Phát huy vai trò nông dân trong xây dựng nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại

Tại Lễ tôn vinh và trao danh hiệu Nông dân Việt Nam xuất sắc 40 năm Đổi mới năm 2026, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đề nghị đổi mới tư duy kinh tế nông nghiệp, dành nguồn lực hỗ trợ sản xuất và nâng cao chất lượng sống ở nông thôn. Bốn nhóm nhiệm vụ được đặt ra nhằm phát huy vai trò của nông dân trong giai đoạn phát triển mới.
Quy trình chứng nhận hữu cơ - Bài 2: Từ đăng ký đến duy trì chứng nhận

Quy trình chứng nhận hữu cơ - Bài 2: Từ đăng ký đến duy trì chứng nhận

Để được chứng nhận hữu cơ, doanh nghiệp phải chuẩn bị hồ sơ, chứng minh điều kiện sản xuất và trải qua quá trình chuyển đổi và được đánh giá toàn bộ hệ thống sản xuất theo tiêu chuẩn áp dụng. Việc hiểu rõ từng bước sẽ giúp cơ sở sản xuất chủ động về thời gian, chi phí và kế hoạch khắc phục những điểm chưa phù hợp.
Hợp tác nghiên cứu giảm phát thải mê-tan trong sản xuất lúa.

Hợp tác nghiên cứu giảm phát thải mê-tan trong sản xuất lúa.

ĐH Huế hợp tác với doanh nghiệp nghiên cứu giảm phát thải mê-tan trong sản xuất lúa, thúc đẩy nông nghiệp xanh và mở hướng phát triển dự án carbon bền vững...
XEM THÊM
dam-ca-mau-chi-vi-hoa
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2026 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính