ki-niem-15-voaa
Thứ năm 15/10/2026 19:07Thứ năm 15/10/2026 19:07 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Nông nghiệp hữu cơ: Phát triển canh tác bền vững và bảo vệ môi trường

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Nghiên cứu cho thấy nông nghiệp hữu cơ là một nền tảng khả thi để phát triển hệ thống canh tác bền vững, cân bằng giữa sản xuất thực phẩm và bảo vệ môi trường.
Nông nghiệp hữu cơ: Phát triển canh tác bền vững và bảo vệ môi trường
Nông nghiệp hữu cơ là một nền tảng khả thi để phát triển hệ thống canh tác bền vững, cân bằng giữa sản xuất thực phẩm và bảo vệ môi trường. Ảnh minh họa.

Một nghiên cứu chung của Viện Nghiên cứu Nông nghiệp Hữu cơ FiBL và Agroscope đã xác nhận điều này, dựa trên dữ liệu từ 40 năm thử nghiệm DOK – một nghiên cứu thực địa dài hạn trên toàn cầu.

Nghiên cứu này dựa trên dữ liệu từ một thử nghiệm thực địa có một không hai trên thế giới, gọi là thử nghiệm DOK, so sánh ba hệ thống canh tác: Biodynamic/sinh học năng động - (D), hữu cơ (O) và thông thường (K) tại Thụy Sĩ. Các hệ thống canh tác này đã được so sánh một cách khoa học trên cùng một cánh đồng tại Therwil, thuộc bang Basel-Landschaft từ năm 1978.

Nông nghiệp hữu cơ có những đặc điểm giúp sản xuất hiệu quả và thân thiện với môi trường. Điều này được chứng minh qua một nghiên cứu chung giữa FiBL Thụy Sĩ và Agroscope, phối hợp với ETH Zurich, mới được công bố trên tạp chí khoa học Scientific Reports.

ông Hans Martin Krause từ FiBL, đồng tác giả chính của nghiên cứu và là đồng trưởng nhóm thử nghiệm DOK từ năm 2024, cho biết: “Hơn 40 năm thu thập dữ liệu một cách tỉ mỉ đã chứng minh rằng canh tác hữu cơ thúc đẩy đa dạng sinh học và độ phì nhiêu của đất, đồng thời giảm nguy cơ tác động tiêu cực đến môi trường do thuốc bảo vệ thực vật hoặc dư thừa nitơ".

Đất canh tác hữu cơ có hàm lượng mùn cao hơn 16% và hoạt động vi sinh vật cao hơn tới 83%, cả hai yếu tố này đều có tác động tích cực đến cấu trúc đất. Một cấu trúc đất khỏe mạnh giúp giữ nước tốt hơn và giảm thiểu xói mòn đất. Trong tất cả các hệ thống, phân chuồng từ chăn nuôi đóng vai trò quan trọng đối với độ phì nhiêu của đất. Nếu phân chuồng được bón với lượng đầy đủ, tốt nhất là dưới dạng phân compost, hàm lượng mùn sẽ ổn định hoặc tăng lên trong mọi hệ thống. Tuy nhiên, nếu chỉ sử dụng phân bón khoáng tổng hợp như trong một số hệ thống canh tác thông thường, hàm lượng mùn sẽ giảm.

Mặt khác, đất canh tác hữu cơ có hàm lượng phốt pho ít hơn nhiều so với đất canh tác thông thường do lượng phân bón đầu vào thấp hơn. Điều này cho thấy cần cung cấp phốt pho từ nguồn phân bón tái chế để tránh tình trạng thiếu hụt phốt phát trong nông nghiệp hữu cơ về lâu dài.

“Theo kết quả nghiên cứu, hệ thống canh tác Biodynamic có hiệu suất tốt nhất về độ phì nhiêu của đất, hình thành mùn và tác động đến khí hậu. Điểm đặc biệt của hệ thống này là quá trình ủ phân chuồng và sử dụng các chế phẩm từ thực vật.” - ông Paul Mäder - đồng tác giả chính của nghiên cứu và là người lãnh đạo lâu năm của thử nghiệm DOK, cho biết.

Sau những trận mưa lớn, có thể thấy được cấu trúc khác nhau của đất hoàn toàn được bón bằng khoáng chất (bên trái) và đất sinh học được bón bằng phân chuồng ủ (bên phải). (Ảnh: FiBL)
Sau những trận mưa lớn, có thể thấy được cấu trúc khác nhau của đất hoàn toàn được bón bằng khoáng chất (bên trái) và đất sinh học được bón bằng phân chuồng ủ (bên phải). (Ảnh: FiBL)

Dữ liệu dài hạn từ thử nghiệm DOK cho thấy rằng hệ thống canh tác hữu cơ về tổng thể rất hiệu quả. Trung bình, nông nghiệp hữu cơ đạt 85% năng suất so với hệ thống canh tác thông thường – trong khi chỉ sử dụng 8% lượng thuốc bảo vệ thực vật và 65% lượng phân đạm. Đặc biệt, nitơ là một trong những dưỡng chất quan trọng nhất đối với cây trồng, nhưng cũng là một yếu tố gây tác động tiêu cực đến môi trường. Nếu lượng nitơ dư thừa, nó có thể xâm nhập vào nguồn nước ngầm hoặc thải ra khí nhà kính.

Theo nghiên cứu, cây đậu nành có năng suất tương đương trong cả ba hệ thống. Đối với các loại cây sử dụng làm thức ăn gia súc như cỏ linh lăng và ngô ủ chua, sự chênh lệch năng suất là thấp. Tuy nhiên, đối với cây trồng như lúa mì và khoai tây, sự khác biệt năng suất lớn hơn đáng kể. Nhìn chung, năng suất của hệ thống hữu cơ có sự biến động mạnh hơn do sử dụng ít phân bón và thuốc bảo vệ thực vật.

Lượng phân bón chứa nitơ thấp hơn là yếu tố chính giúp giảm tác động đến khí hậu của hệ thống canh tác hữu cơ. Nếu phân bón chứa quá nhiều nitơ, vi sinh vật trong đất sẽ chuyển hóa thành khí nitrous oxide N₂O– một loại khí nhà kính có tác động mạnh. Do đó, đất hữu cơ thải ít khí nhà kính hơn trên mỗi đơn vị diện tích.

Tuy nhiên, do năng suất hữu cơ thấp hơn, lượng khí thải tính trên từng đơn vị sản phẩm lại gần như tương đương với hệ thống canh tác thông thường, ngoại trừ hệ thống sinh học-động lực. Ngoài ra, đất canh tác hữu cơ lưu giữ nhiều CO₂ hơn trong mùn, giúp giảm tác động đến khí hậu.

“Tiềm năng phát triển nông nghiệp hữu cơ nằm ở việc tuần hoàn dinh dưỡngvà cải tiến giống cây trồng, đặc biệt là tái sử dụng phốt pho và nitơ từ rác thực phẩm hoặc nước thải. Chúng tôi cũng khuyến nghị đa dạng hóa cây trồng bằng cách canh tác hỗn hợp, xen canh hoặc trồng theo dải, đặc biệt là với cây lâu năm.” theo Jochen Mayer - nhà khoa học tại Agroscope và đồng trưởng nhóm thử nghiệm DOK.

Nghiên cứu cho thấy nông nghiệp hữu cơ là một nền tảng khả thi để phát triển hệ thống canh tác bền vững, cân bằng giữa sản xuất thực phẩm và bảo vệ môi trường.

Thông tin về thử nghiệm DOK tại Therwil, Thụy Sĩ:

Đây là thử nghiệm khoa học dài hạn nhất trên thế giới, so sánh chính xác các hệ thống canh tác hữu cơ và thông thường – bắt đầu từ năm 1978, hợp tác giữa FiBL và Agroscope.

Đến nay, đã có hơn 140 công bố khoa học được bình duyệt dựa trên thử nghiệm DOK, cùng với nhiều luận án thạc sĩ và tiến sĩ.

Thử nghiệm DOK là mô hình cho nhiều nghiên cứu so sánh hệ thống canh tác trên toàn cầu, bao gồm các thử nghiệm dài hạn SysCom của FiBL tại Bolivia, Ấn Độ và Kenya, cũng như các thử nghiệm FAST và Burgrain của Agroscope.

Bài liên quan

Phụ nữ Đan Điền lan tỏa mô hình xử lý rác hữu cơ bằng vi sinh IMO

Phụ nữ Đan Điền lan tỏa mô hình xử lý rác hữu cơ bằng vi sinh IMO

Phụ nữ xã Đan Điền duy trì mô hình xử lý rác hữu cơ bằng vi sinh IMO, thúc đẩy phân loại rác tại nguồn, bảo vệ môi trường, lan tỏa lối sống xanh trong cộng đồng
Đưa khoa học nông nghiệp từ phòng thí nghiệm ra đồng ruộng

Đưa khoa học nông nghiệp từ phòng thí nghiệm ra đồng ruộng

Từ kết quả nghiên cứu đến ứng dụng trong sản xuất vẫn còn khoảng cách đáng kể. Thu hẹp khoảng cách ấy không chỉ đòi hỏi công nghệ tiên tiến, mà còn cần cơ chế phù hợp, sự tham gia của doanh nghiệp và người nông dân, cùng những giải pháp bảo đảm hiệu quả kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
Lan tỏa thông điệp bảo vệ rừng từ những trải nghiệm thực tế

Lan tỏa thông điệp bảo vệ rừng từ những trải nghiệm thực tế

Những trải nghiệm tại Bảo tàng Thiên nhiên Duyên hải miền Trung sẽ gieo những “hạt giống xanh” trong thế hệ trẻ, hướng đến lối sống thân thiện với môi trường...
Phát triển nông nghiệp sinh thái: Từ mô hình riêng lẻ đến chuyển đổi cả hệ thống

Phát triển nông nghiệp sinh thái: Từ mô hình riêng lẻ đến chuyển đổi cả hệ thống

Chuyển đổi sang nông nghiệp sinh thái, xanh, tuần hoàn cần được thực hiện đồng bộ từ tổ chức sản xuất, ứng dụng khoa học công nghệ đến liên kết thị trường và chia sẻ lợi ích. Tại hội thảo khoa học tổ chức ngày 30/9 ở Ninh Bình, các nhà quản lý, chuyên gia, doanh nghiệp và hợp tác xã nhấn mạnh yêu cầu để người nông dân được hưởng lợi xứng đáng từ những giá trị sinh thái mà họ tạo ra.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường rà soát nhiệm vụ, phấn đấu hoàn thành mục tiêu năm 2026

Bộ Nông nghiệp và Môi trường rà soát nhiệm vụ, phấn đấu hoàn thành mục tiêu năm 2026

Hội nghị giao ban quý III của Bộ Nông nghiệp và Môi trường tập trung đánh giá kết quả 9 tháng, rà soát nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm 3 tháng cuối năm 2026.
Một hành động đẹp vì động vật hoang dã và đa dạng sinh học

Một hành động đẹp vì động vật hoang dã và đa dạng sinh học

Ngày 25/9, UBND phường Thuận An, Tp. Huế phối hợp với các lực lượng chức năng tiếp nhận một cá thể động vật hoang dã do người dân tự nguyện giao nộp. Đây là hành động thiết thực góp phần bảo vệ động vật hoang dã, gìn giữ đa dạng sinh học và lan tỏa trách nhiệm của cộng đồng đối với thiên nhiên.

CÁC TIN BÀI KHÁC

Đưa khoa học nông nghiệp từ phòng thí nghiệm ra đồng ruộng

Đưa khoa học nông nghiệp từ phòng thí nghiệm ra đồng ruộng

Từ kết quả nghiên cứu đến ứng dụng trong sản xuất vẫn còn khoảng cách đáng kể. Thu hẹp khoảng cách ấy không chỉ đòi hỏi công nghệ tiên tiến, mà còn cần cơ chế phù hợp, sự tham gia của doanh nghiệp và người nông dân, cùng những giải pháp bảo đảm hiệu quả kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
Làm thế nào khơi thông nguồn lực để phát triển nông nghiệp?

Làm thế nào khơi thông nguồn lực để phát triển nông nghiệp?

Nông nghiệp Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn chuyển đổi quan trọng. Từ nền sản xuất dựa nhiều vào đất đai, lao động và kinh nghiệm truyền thống, ngành nông nghiệp đang từng bước chuyển sang mô hình dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, dữ liệu, liên kết chuỗi và kinh tế xanh. Trong quá trình đó, khơi thông và huy động hiệu quả các nguồn lực trở thành yếu tố quyết định để nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam.
Ứng dụng công nghệ số trong quản lý sản xuất nông nghiệp hữu cơ và giải pháp phát triển bền vững

Ứng dụng công nghệ số trong quản lý sản xuất nông nghiệp hữu cơ và giải pháp phát triển bền vững

Nông nghiệp hữu cơ đối mặt nhiều thách thức về chi phí giám sát, rủi ro dịch bệnh và tính minh bạch. Việc ứng dụng công nghệ số như IoT, AI, Blockchain, Big Data và UAV tạo ra bước ngoặt giúp tối ưu hóa quản lý, kiểm soát tiêu chuẩn nghiêm ngặt và công khai chuỗi giá trị. Bài viết phân tích thực trạng, hạ tầng công nghệ, tác động kinh tế - sinh thái, rào cản cốt lõi và đề xuất giải pháp phát triển bền vững.
Nước tưới hoạt hóa bằng khoáng chất và ánh sáng mặt trời giúp năng suất cây trồng tăng tới hơn 100%

Nước tưới hoạt hóa bằng khoáng chất và ánh sáng mặt trời giúp năng suất cây trồng tăng tới hơn 100%

Các thử nghiệm đồng ruộng quy mô lớn trải dài từ Hắc Long Giang đến Hải Nam cho thấy nước tưới được xử lý bằng khoáng chất tự nhiên hoạt hóa dưới ánh nắng có thể nâng năng suất lúa tới 40,6%, mía 45,7% và khoai lang 109,5%, theo nhóm nhà khoa học thuộc Đại học Bắc Kinh.
Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 3: Từ nhận thức đến hành động

Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 3: Từ nhận thức đến hành động

Chuyển đổi hệ thống lương thực – thực phẩm không thể thành công nếu chỉ trông chờ vào một chính sách, một ngành, một doanh nghiệp hay một nhóm người. Việt Nam đã có Kế hoạch hành động quốc gia theo Quyết định 300/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, nhưng trong quá trình thực hiện vẫn gặp những khó khăn về nguồn lực, hướng dẫn, dữ liệu và năng lực của các bên. Điều quan trọng lúc này là biến mục tiêu lớn thành những việc cụ thể, để Nhà nước, địa phương, người sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp, nhà khoa học, truyền thông và người tiêu dùng cùng tạo ra thay đổi. Chuyển đổi chỉ thực sự xảy ra khi mỗi mắt xích nhận rõ trách nhiệm và cùng hành động.
Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 2: Từ cánh đồng đến thị trường

Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 2: Từ cánh đồng đến thị trường

Một nền nông nghiệp có thể tạo ra hàng triệu tấn lương thực, thực phẩm mỗi năm nhưng vẫn còn những điểm nghẽn trên hành trình từ cánh đồng đến bàn ăn. Người sản xuất có thể làm ra sản phẩm nhưng chưa chắc có thị trường ổn định, doanh nghiệp có thể có đơn hàng nhưng chưa chắc có vùng nguyên liệu bền vững, sản phẩm có chất lượng nhưng vẫn có thể mất giá trị nếu bảo quản, chế biến và logistics chưa đáp ứng. Vì vậy, bài toán của hệ thống lương thực - thực phẩm không chỉ là “sản xuất được bao nhiêu”, mà còn là sản xuất như thế nào, kết nối ra sao và giá trị được tạo ra, phân bổ như thế nào trong toàn chuỗi.
Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 1: Từ bàn ăn nhìn ra cả hệ thống

Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 1: Từ bàn ăn nhìn ra cả hệ thống

Mỗi ngày, một bữa cơm gia đình bắt đầu từ những điều rất quen thuộc: Hạt gạo, bó rau, con cá, quả trứng hay miếng thịt. Nhưng để những thực phẩm ấy xuất hiện trên bàn ăn là cả một hành trình dài, với sự tham gia của người sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp, nhà khoa học, cơ quan quản lý, hệ thống phân phối và chính người tiêu dùng. Phía sau mỗi món ăn còn là đất, nước, lao động, công nghệ, thị trường, chính sách và môi trường. Hiểu được hành trình ấy chính là bước đầu tiên để mỗi người nhận ra mình đang ở đâu và có thể làm gì để cùng xây dựng một hệ thống lương thực - thực phẩm minh bạch, trách nhiệm và bền vững.
Khả năng hấp thụ carbon của hệ thống nông nghiệp hữu cơ

Khả năng hấp thụ carbon của hệ thống nông nghiệp hữu cơ

Nông nghiệp hữu cơ đang mở ra hướng tiếp cận mới trong ứng phó biến đổi khí hậu khi không chỉ giảm phụ thuộc vào vật tư hóa học mà còn góp phần gia tăng carbon trong đất. Thông qua đa dạng hóa cây trồng, sử dụng phân hữu cơ, cây che phủ, luân canh và giảm làm đất, hệ thống này có thể nâng cao khả năng lưu giữ carbon, cải thiện sức khỏe đất và phát triển nông nghiệp bền vững.
Phát triển nông nghiệp sinh thái: Từ mô hình riêng lẻ đến chuyển đổi cả hệ thống

Phát triển nông nghiệp sinh thái: Từ mô hình riêng lẻ đến chuyển đổi cả hệ thống

Chuyển đổi sang nông nghiệp sinh thái, xanh, tuần hoàn cần được thực hiện đồng bộ từ tổ chức sản xuất, ứng dụng khoa học công nghệ đến liên kết thị trường và chia sẻ lợi ích. Tại hội thảo khoa học tổ chức ngày 30/9 ở Ninh Bình, các nhà quản lý, chuyên gia, doanh nghiệp và hợp tác xã nhấn mạnh yêu cầu để người nông dân được hưởng lợi xứng đáng từ những giá trị sinh thái mà họ tạo ra.
AOLC 2026: Lan tỏa những sáng kiến nông nghiệp sinh thái và hữu cơ

AOLC 2026: Lan tỏa những sáng kiến nông nghiệp sinh thái và hữu cơ

Ngày 30/9, tại Hà Nội, Khóa tập huấn Lãnh đạo Nông nghiệp Sinh thái và Hữu cơ năm 2026 (AOLC 2026) chính thức bế mạc, ghi nhận 27 học viên hoàn thành chương trình và vinh danh bốn đề án phát triển tiêu biểu. Từ những sáng kiến về thực phẩm học đường, sinh kế cộng đồng đến kết nối thị trường, khóa học mở ra kỳ vọng lan tỏa các thực hành nông nghiệp sinh thái, hữu cơ vào đời sống.
Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tiêu dùng thực phẩm hữu cơ

Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tiêu dùng thực phẩm hữu cơ

Quyết định tiêu dùng thực phẩm hữu cơ không chỉ chịu tác động bởi nhận thức về sức khỏe và an toàn thực phẩm mà còn liên quan đến giá cả, chất lượng, niềm tin, kiến thức, khả năng tiếp cận và các chuẩn mực xã hội. Việc nhận diện đầy đủ những yếu tố này có ý nghĩa quan trọng trong xây dựng chính sách, phát triển thị trường và thúc đẩy tiêu dùng thực phẩm hữu cơ bền vững tại Việt Nam.
Cần Thơ ban hành quy định mới về canh tác trên vùng hữu cơ

Cần Thơ ban hành quy định mới về canh tác trên vùng hữu cơ

Từ đất, nước, không khí, thời gian chuyển đổi đến vật tư đầu vào, phòng trừ sinh vật gây hại, thu hoạch, bảo quản và truy xuất nguồn gốc, từng khâu trong canh tác trên vùng hữu cơ tại Cần Thơ được quy định cụ thể.
XEM THÊM
dam-ca-mau-chi-vi-hoa
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2026 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính