ki-niem-15-voaa
Chủ nhật 09/08/2026 05:13Chủ nhật 09/08/2026 05:13 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Liên kết vùng để kiến tạo hệ sinh thái nông nghiệp thông minh, kinh tế xanh

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Liên kết lợi thế của Hà Nội, Bắc Ninh và Hưng Yên trong một chuỗi giá trị thống nhất được xác định là hướng đi quan trọng để mở rộng không gian phát triển nông nghiệp. Từ quy hoạch vùng nguyên liệu, hạ tầng dữ liệu, logistics lạnh, chế biến sâu đến phân phối hiện đại và thương mại điện tử xuyên biên giới, vấn đề đặt ra là phải chuyển những cam kết liên kết thành chương trình hành động có đầu mối, nguồn lực và sản phẩm cụ thể.
Toàn cảnh Hội nghị “Kết nối đầu tư - Tăng cường liên kết vùng trong phát triển nông nghiệp thông minh và kinh tế xanh: Hà Nội - Bắc Ninh - Hưng Yên”.
Toàn cảnh Hội nghị “Kết nối đầu tư - Tăng cường liên kết vùng trong phát triển nông nghiệp thông minh và kinh tế xanh: Hà Nội - Bắc Ninh - Hưng Yên”.

Chiều 15/7, tại Hà Nội, Sở Tài chính thành phố Hà Nội tổ chức Hội nghị “Kết nối đầu tư - Tăng cường liên kết vùng trong phát triển nông nghiệp thông minh và kinh tế xanh: Hà Nội - Bắc Ninh - Hưng Yên”. Chương trình do Trung tâm Xúc tiến Đầu tư và Hỗ trợ Doanh nghiệp Hà Nội triển khai, với sự phối hợp của Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam.

Hội nghị quy tụ đại diện cơ quan quản lý, viện nghiên cứu, hiệp hội, doanh nghiệp, hợp tác xã và nhà đầu tư hoạt động trong các lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ, chuyển đổi số, chế biến, bán lẻ và xuất khẩu. Không gian trưng bày, kết nối cung cầu bên lề hội nghị cũng tạo điều kiện để các đơn vị giới thiệu sản phẩm, công nghệ và trao đổi trực tiếp về nhu cầu hợp tác.

Phát biểu khai mạc hội nghị, ông Lê Trung Hiếu, Phó Giám đốc Sở Tài chính Hà Nội nhấn mạnh, hội nghị không chỉ là một hoạt động xúc tiến đầu tư, mà còn là diễn đàn để ba địa phương trao đổi tầm nhìn, chia sẻ cơ hội và kiến tạo một không gian phát triển mới.

Theo ông Lê Trung Hiếu, thế giới đang bước vào giai đoạn cạnh tranh dựa trên chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Trong bối cảnh đó, “lợi thế phát triển không còn thuộc về địa phương riêng lẻ mà thuộc về những vùng liên kết, kết nối hạ tầng, chia sẻ nguồn lực và hình thành các hệ sinh thái đầu tư đồng bộ”. Vì vậy, Hà Nội xác định liên kết vùng vừa là yêu cầu của quy luật phát triển, vừa là chiến lược mở rộng không gian tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh của toàn Vùng Thủ đô.

Ông Lê Trung Hiếu, Phó Giám đốc Sở Tài chính Hà Nội, cho rằng lợi thế phát triển không còn thuộc về từng địa phương riêng lẻ mà nằm ở khả năng kết nối hạ tầng, chia sẻ nguồn lực và hình thành hệ sinh thái đầu tư đồng bộ.
Ông Lê Trung Hiếu, Phó Giám đốc Sở Tài chính Hà Nội cho rằng, lợi thế phát triển không còn thuộc về từng địa phương riêng lẻ mà nằm ở khả năng kết nối hạ tầng, chia sẻ nguồn lực và hình thành hệ sinh thái đầu tư đồng bộ.

Ba địa phương, ba lợi thế, một chuỗi giá trị

Từ các tham luận và phiên tọa đàm, vai trò bổ trợ giữa ba địa phương được nhận diện khá rõ. Hà Nội là trung tâm chính trị, hành chính, tài chính, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và là thị trường tiêu dùng quy mô lớn. Bắc Ninh có thế mạnh về công nghiệp điện tử, công nghệ cao, sản xuất thông minh, chế biến và logistics. Hưng Yên có nền nông nghiệp hàng hóa phát triển, nhiều vùng chuyên canh, đồng thời đẩy mạnh công nghiệp chế tạo và hạ tầng phục vụ nông nghiệp.

Ông Lê Trung Hiếu khái quát: “Nếu Hà Nội là trung tâm nghiên cứu, tài chính, tiêu thụ thì Bắc Ninh là trung tâm công nghệ, chế biến; Hưng Yên là vùng sản xuất nguyên liệu chất lượng cao”. Khi ba mắt xích này được kết nối thành một thể thống nhất, hệ sinh thái hình thành sẽ tạo thêm giá trị cho từng sản phẩm, dự án và doanh nghiệp.

Từ góc độ quản lý tài chính và đầu tư, lãnh đạo Sở Tài chính Hà Nội đề xuất ba trụ cột. Trụ cột thứ nhất là liên kết hạ tầng giao thông, logistics, kho lạnh, trung tâm phân phối và hạ tầng số theo tư duy vùng thay vì địa giới hành chính. Việc Hà Nội cùng các địa phương triển khai Vành đai 4, chuẩn bị các tuyến kết nối mới và định hướng mạng lưới giao thông liên vùng được kỳ vọng giúp rút ngắn thời gian lưu thông, giảm chi phí và mở rộng không gian đầu tư.

Trụ cột thứ hai là liên kết nguồn lực tài chính cho đầu tư xanh và đổi mới sáng tạo. Nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp tuần hoàn thường cần vốn lớn, thời gian đầu tư dài và có mức độ rủi ro cao. Nhà nước vì thế cần phát huy vai trò kiến tạo thông qua đầu tư công, hợp tác công tư, tín dụng xanh và những kênh huy động vốn phù hợp; đồng thời xây dựng môi trường đầu tư minh bạch, ổn định, có khả năng dự báo để doanh nghiệp yên tâm theo đuổi dự án dài hạn.

Trụ cột thứ ba là liên kết chuỗi giá trị. Nông nghiệp thông minh không chỉ bắt đầu trên cánh đồng mà phải kết thúc ở thị trường. Chuỗi cần được tổ chức khép kín từ nghiên cứu giống, sản xuất, chế biến, bảo quản, logistics đến tiêu thụ và xuất khẩu. Đây cũng là nền tảng để nông sản đáp ứng tiêu chuẩn xanh, nâng giá trị gia tăng và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Ông Đặng Thái Sơn, Phó Giám đốc Trung tâm Xúc tiến đầu tư, Hỗ trợ doanh nghiệp và Tư vấn dịch vụ tài chính, Sở Tài chính tỉnh Hưng Yên, đề xuất xây dựng hành lang logistics nông sản lạnh, đồng bộ tiêu chuẩn và số hóa chuỗi cung ứng liên vùng.
Ông Đặng Thái Sơn, Phó Giám đốc Trung tâm Xúc tiến đầu tư, Hỗ trợ doanh nghiệp và Tư vấn dịch vụ tài chính, Sở Tài chính tỉnh Hưng Yên, đề xuất xây dựng hành lang logistics nông sản lạnh, đồng bộ tiêu chuẩn và số hóa chuỗi cung ứng liên vùng.

Ông Đặng Thái Sơn, Phó Giám đốc Trung tâm Xúc tiến đầu tư, Hỗ trợ doanh nghiệp và Tư vấn dịch vụ tài chính thuộc Sở Tài chính tỉnh Hưng Yên cho biết, địa phương được định hướng là trung tâm cung ứng nông sản, thực phẩm tươi sống và sản phẩm chế biến sâu cho Hà Nội và vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Nhiều mô hình đã ứng dụng tiêu chuẩn và công nghệ vào sản xuất như nhãn lồng, vải trứng sử dụng mã QR truy xuất; chuỗi lúa gạo đầu tư nhà máy giống, kho bảo quản, cánh đồng lớn; rau màu trong nhà lưới sử dụng tưới nhỏ giọt và nhật ký điện tử; nông nghiệp tuần hoàn kết hợp du lịch trải nghiệm.

Tuy nhiên, Hưng Yên nhận diện bốn điểm nghẽn trong liên kết nông nghiệp công nghệ cao. Đó là quy hoạch và tích tụ đất đai chưa tạo được quỹ đất đủ lớn; thiếu kho lạnh, trung tâm kiểm định, sơ chế và logistics chuyên dụng; tiêu chuẩn, chứng nhận giữa các địa phương chưa được liên thông; liên kết giữa nhà quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp và nông dân còn lỏng lẻo, trong khi chế biến sâu chưa tương xứng với tiềm năng vùng nguyên liệu.

Từ thực trạng trên, địa phương đề xuất mô hình “Trung tâm công nghệ Hà Nội - Cánh đồng thông minh Hưng Yên”, trong đó Hà Nội là hạt nhân chuyển giao giống, công nghệ sinh học và công nghệ chế biến; Hưng Yên bố trí các vùng sản xuất tập trung để ứng dụng ở quy mô thương mại. Hai địa phương cũng cần phối hợp xúc tiến “hành lang logistics nông sản lạnh” dọc Vành đai 4 và các tuyến cao tốc, kết nối vùng sản xuất với chợ đầu mối, siêu thị, nhà máy và sân bay Nội Bài.

Một giải pháp khác được vị lãnh đạo tỉnh Hưng Yên đề xuất là đồng bộ hóa tiêu chuẩn, tiến tới cơ chế “một chứng nhận, đa chấp nhận”. Khi sản phẩm đã đáp ứng tiêu chuẩn tại vùng sản xuất, hồ sơ đó cần được tiếp nhận thông suốt tại các hệ thống phân phối của Hà Nội, hạn chế việc phát sinh thêm thủ tục, chi phí và thời gian.

Ông Nguyễn Mạnh Cường, Trưởng phòng Xúc tiến đầu tư và Phát triển doanh nghiệp số 1, Trung tâm Xúc tiến đầu tư và Phát triển doanh nghiệp tỉnh Bắc Ninh, cho rằng liên kết vùng chỉ hiệu quả khi được cụ thể hóa thành chương trình hành động có mục tiêu, đầu mối và sản phẩm rõ ràng.
Ông Nguyễn Mạnh Cường, Trưởng phòng Xúc tiến đầu tư và Phát triển doanh nghiệp số 1, Trung tâm Xúc tiến đầu tư và Phát triển doanh nghiệp tỉnh Bắc Ninh cho rằng, liên kết vùng chỉ hiệu quả khi được cụ thể hóa thành chương trình hành động có mục tiêu, đầu mối và sản phẩm rõ ràng.

Về phía tỉnh Bắc Ninh, Ông Nguyễn Mạnh Cường, Trưởng phòng Xúc tiến đầu tư và Phát triển doanh nghiệp số 1, Trung tâm Xúc tiến đầu tư và Phát triển doanh nghiệp tỉnh Bắc Ninh, đề xuất năm nhóm nhiệm vụ liên vùng.

Trước hết, Hà Nội, Bắc Ninh và Hưng Yên cần xây dựng cơ sở dữ liệu, bản đồ số dùng chung về vùng sản xuất tập trung, mã số vùng trồng, sản lượng theo mùa vụ, tiêu chuẩn chất lượng, cơ sở đóng gói, chế biến, kho lạnh và mạng lưới phân phối. Dữ liệu này phục vụ dự báo, điều tiết sản xuất, kết nối cung cầu và cung cấp cho nhà đầu tư bức tranh rõ ràng về nguồn nguyên liệu.

Ba địa phương cũng cần hình thành mạng lưới nghiên cứu, chuyển giao và trình diễn công nghệ; kết nối viện, trường, chuyên gia và doanh nghiệp công nghệ tại Hà Nội với vùng sản xuất, hợp tác xã và cơ sở chế biến ở Bắc Ninh, Hưng Yên. Song song với đó là rà soát mạng lưới kho lạnh, cơ sở đóng gói, trung tâm logistics, chợ đầu mối và tuyến vận chuyển chủ lực để phát triển hệ thống sơ chế, chế biến và phân phối xanh.

Bắc Ninh đề nghị nghiên cứu bộ tiêu chí “Nông sản xanh vùng Thủ đô”, kế thừa VietGAP, GlobalGAP, tiêu chuẩn hữu cơ và các quy định hiện hành, đồng thời bổ sung yêu cầu về tiết kiệm nước, kiểm soát vật tư, giảm phát thải, quản lý chất thải, bao bì thân thiện môi trường và minh bạch thông tin. Nhóm nhiệm vụ cuối cùng là xây dựng danh mục dự án liên vùng về giống, chế biến sâu, kho lạnh, logistics, truy xuất nguồn gốc, thương mại điện tử và xử lý phụ phẩm theo mô hình kinh tế tuần hoàn để thu hút những doanh nghiệp có khả năng dẫn dắt toàn chuỗi.

Theo ông Nguyễn Mạnh Cường, liên kết chỉ thực sự hiệu quả khi chuyển từ biên bản ghi nhớ mang tính nguyên tắc sang chương trình hành động có mục tiêu, đầu mối, tiến độ và sản phẩm cụ thể. Bắc Ninh xác định không cạnh tranh bằng cách mỗi địa phương cùng sản xuất mọi sản phẩm; không phát triển khu nông nghiệp công nghệ cao như một “ốc đảo công nghệ”, mà phải gắn chặt với vùng nguyên liệu, doanh nghiệp, hợp tác xã, nông dân và thị trường.

Liên kết vùng để kiến tạo hệ sinh thái nông nghiệp thông minh, kinh tế xanh
Ông Nguyễn Thành Công, Giám đốc Kinh doanh Trung tâm Nông nghiệp số, Tập đoàn VNPT chia sẻ, mã số vùng trồng là “giấy thông hành” của nông sản xuất khẩu, còn dữ liệu số là nền tảng để minh bạch và quản trị toàn bộ chuỗi giá trị.

Từ “ghi hồi ký” đến quản trị vùng trồng theo dữ liệu

Một trong những nền tảng quan trọng nhất của liên kết vùng là dữ liệu. Ông Nguyễn Thành Công, Giám đốc Kinh doanh Trung tâm Nông nghiệp số, Tập đoàn VNPT, cho rằng thị trường ngày nay không chỉ mua nông sản mà còn yêu cầu dữ liệu đi kèm sản phẩm.

Đối với xuất khẩu, doanh nghiệp phải chứng minh mã số vùng trồng, nhật ký điện tử, nguồn vật tư đầu vào, quy trình canh tác và mức độ tuân thủ các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, hữu cơ,... Thị trường trong nước cũng ngày càng quan tâm đến mã QR, an toàn thực phẩm, chất lượng ổn định và sự minh bạch của chuỗi cung ứng. Cơ quan quản lý cần dữ liệu để quy hoạch vùng nguyên liệu, dự báo sản lượng, quản lý sâu bệnh, điều tiết cung cầu và kiểm soát chất lượng.

Theo ông Nguyễn Thành Công, phần lớn nông hộ hiện vẫn ghi chép sau khi công việc đã hoàn thành, một cách làm được ông ví như “ghi hồi ký”. Khi dữ liệu được ghi lại muộn, bằng sổ tay và không có cấu trúc thống nhất, doanh nghiệp khó kiểm soát quy trình, còn cơ quan quản lý khó dự báo và điều hành.

Giải pháp số hóa vì vậy không thể chỉ dừng ở việc gắn mã QR lên sản phẩm cuối cùng. Dữ liệu phải hình thành xuyên suốt từ vật tư đầu vào, vùng trồng, sơ chế, chế biến đến nội tiêu hoặc xuất khẩu. Trước sản xuất, hệ thống hỗ trợ lựa chọn quy trình và chuẩn bị điều kiện; trong sản xuất, nhật ký điện tử, cảm biến, trạm thời tiết, hệ thống tưới và quản lý dinh dưỡng giúp giám sát việc tuân thủ; sau sản xuất, dữ liệu được dùng để kiểm tra, truy xuất, đánh giá chất lượng và kết nối thu mua.

Mỗi chủ thể nhận được một giá trị khác nhau. Chính quyền có dữ liệu về diện tích, cây trồng, sản lượng, mã vùng và nguy cơ dịch bệnh. Doanh nghiệp kiểm soát được vùng nguyên liệu, tiêu chuẩn, chất lượng và dự báo sản lượng để chủ động kế hoạch chế biến. Hợp tác xã quản lý thành viên, áp quy trình chung và theo dõi thực hiện. Nông dân giảm ghi chép giấy, được hướng dẫn trực tiếp trên phần mềm và có hồ sơ minh bạch để tiếp cận doanh nghiệp.

VNPT cho biết đã triển khai số hóa vùng thuốc lá Cao Bằng tại 35 xã, với khoảng 12.000 hộ và gần 8.000 ha. Hai doanh nghiệp thu mua cùng tham gia hệ thống, qua đó xác định từng vùng, hợp tác xã, nông hộ, sản lượng và quy trình sản xuất. Chính quyền có thể theo dõi toàn bộ chuỗi, còn doanh nghiệp biết nguyên liệu đến từ đâu và có nhật ký điện tử hay không.

Tại vùng chè Thái Nguyên, giải pháp được triển khai cho khoảng 45 mã vùng và hơn 5.000 hộ. Ở vùng điều thuộc khu vực Bình Phước trước đây, nay thuộc tỉnh Đồng Nai, hệ thống quản lý 36 mã vùng với hơn 3.000 hộ.

Kinh nghiệm từ Cao Bằng cũng gợi mở một cơ chế tài chính cho chuyển đổi số. Trong giai đoạn đầu, địa phương hỗ trợ chi phí để doanh nghiệp thu mua và nông dân cùng sử dụng hệ thống. Sau khoảng năm năm, khi người dân đã hình thành thói quen và doanh nghiệp thấy rõ lợi ích từ nguồn nguyên liệu minh bạch, doanh nghiệp thu mua sẽ tiếp nhận chi phí vận hành. Đây là cách chuyển từ dự án hỗ trợ sang mô hình có khả năng tự duy trì.

Tại phiên tọa đàm, ông Nguyễn Thành Công khẳng định mã số vùng trồng là “giấy thông hành” đối với nhiều mặt hàng xuất khẩu. Tuy nhiên, công nghệ chỉ là công cụ. Khó khăn lớn nhất vẫn là thay đổi nhận thức của người sản xuất khi lợi ích tăng giá chưa xuất hiện ngay. Do đó, đơn vị thu mua cần đặt yêu cầu bắt buộc về nhật ký, truy xuất; chính quyền có thể gắn việc cập nhật dữ liệu với những chính sách hỗ trợ như tín dụng, vật tư đầu vào hoặc tiếp cận chương trình phát triển sản xuất.

Các chuyên gia, nhà quản lý và đại diện doanh nghiệp trao đổi tại phiên tọa đàm chuyên sâu về sản xuất, công nghệ và thị trường đầu ra cho nông sản.
Các chuyên gia, nhà quản lý và đại diện doanh nghiệp trao đổi tại phiên tọa đàm chuyên sâu về sản xuất, công nghệ và thị trường đầu ra cho nông sản.

Thị trường phải trở thành điểm xuất phát của sản xuất

Điều phối phiên tọa đàm, bà Đặng Thị Bích Hường, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam, đặt hai câu hỏi: Làm thế nào để quy hoạch vùng nguyên liệu thực sự thu hút được doanh nghiệp; và làm thế nào để nông sản không chỉ sản xuất tốt mà còn đi vào hệ thống phân phối hiện đại, thị trường trong nước và xuất khẩu bền vững?

Ông Nguyễn Thế Hinh, Phó Trưởng ban Khoa học và Hợp tác quốc tế, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, cho rằng nông nghiệp thường trải qua ba giai đoạn: sản xuất sơ khai, phát triển dựa trên khoa học công nghệ và phát triển theo thị trường. Khi năng lực sản xuất đã vượt nhu cầu, hiện tượng được mùa mất giá xuất hiện rõ, thị trường trở thành yếu tố quyết định và khoa học công nghệ phải phục vụ nhu cầu thị trường.

Ông Nguyễn Thế Hinh, Phó Trưởng ban Khoa học và Hợp tác quốc tế, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, nhận định khi năng lực sản xuất vượt nhu cầu, thị trường phải trở thành yếu tố định hướng sản xuất và hoạt động khoa học công nghệ.
Ông Nguyễn Thế Hinh, Phó Trưởng ban Khoa học và Hợp tác quốc tế, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam nhận định, khi năng lực sản xuất vượt nhu cầu, thị trường phải trở thành yếu tố định hướng sản xuất và hoạt động khoa học công nghệ.

Theo ông Nguyễn Thế Hinh, chính quyền cần đánh giá dung lượng thị trường, thống kê tiêu chuẩn, quy hoạch vùng nguyên liệu và cung cấp định hướng cho doanh nghiệp. Không nên chỉ tập trung tiêu chuẩn cho xuất khẩu mà bỏ ngỏ thị trường nội địa, bởi đây là thị trường lớn và có nguy cơ bị sản phẩm bên ngoài chiếm lĩnh nếu nông sản trong nước không được tổ chức theo tiêu chuẩn rõ ràng.

Từ góc độ nhà phân phối, bà Phạm Thị Thùy Linh, Giám đốc Đối ngoại và Đầu tư Tập đoàn Central Retail Việt Nam, cho biết doanh nghiệp không tiếp cận từng địa phương một cách đơn lẻ mà dựa trên sự hợp lực giữa các tỉnh, thành để phát triển sản phẩm Việt. Central Retail hiện có mặt tại 26 tỉnh, thành; đã mở đại siêu thị tại Hưng Yên, vận hành hệ thống tại Bắc Ninh và ký biên bản ghi nhớ đồng hành phát triển thị trường bán lẻ với Sở Tài chính Hà Nội.

Theo bà Linh, hơn 90% sản phẩm trong hệ thống là hàng Việt Nam, với khoảng 2.000 nhà cung cấp trên cả nước. Mục tiêu của nhà bán lẻ là đại diện nhu cầu của khách hàng và đưa sản phẩm từ hộ nông dân, hợp tác xã đến người tiêu dùng cuối cùng.

Bà Phạm Thị Thùy Linh, Giám đốc Đối ngoại và Đầu tư Tập đoàn Central Retail Việt Nam, cho hay doanh nghiệp sẵn sàng đồng hành cùng nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp nhỏ và vừa để đưa nông sản vào hệ thống phân phối hiện đại.
Bà Phạm Thị Thùy Linh (áo nâu), Giám đốc Đối ngoại và Đầu tư Tập đoàn Central Retail Việt Nam cho hay, doanh nghiệp sẵn sàng đồng hành cùng nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp nhỏ và vừa để đưa nông sản vào hệ thống phân phối hiện đại.

Để vào hệ thống phân phối hiện đại, tiêu chí đầu tiên là quy cách và chất lượng sản phẩm. Nhà bán lẻ có phiếu kỹ thuật mô tả cụ thể trọng lượng, số lượng, hình thức, độ đồng đều và yêu cầu bảo quản. Tiếp đó là tính pháp lý, sự minh bạch của hồ sơ. Gần đây, các yêu cầu về phát triển bền vững, trách nhiệm cộng đồng và mục tiêu phát thải ròng bằng không ngày càng được chú trọng.

Central Retail triển khai chương trình sinh kế cộng đồng, hỗ trợ hộ nông dân, hợp tác xã hoàn thiện hồ sơ. Với đơn vị có sản lượng nhỏ, sản phẩm có thể được bán trước tại siêu thị địa phương; khi năng lực ổn định, chuỗi phân phối sẽ mở rộng ra phạm vi toàn quốc. Bà Linh cho biết doanh nghiệp áp dụng mức chiết khấu thương mại 0% đối với một số nhóm nông dân, doanh nghiệp nhỏ và vừa trong chương trình hỗ trợ, đồng thời có kho tổng tại Hưng Yên để giảm áp lực logistics.

Ở thị trường quốc tế, bà Nguyễn Hoàng Thúy, Quản lý tài khoản cấp cao Amazon Global Selling Việt Nam, cho biết thương mại điện tử xuyên biên giới giúp doanh nghiệp tiếp cận trực tiếp người tiêu dùng, thay vì đi qua nhiều tầng nhà nhập khẩu, bán buôn và phân phối tại nước sở tại. Amazon Global Selling hoạt động tại Việt Nam từ năm 2019 với mục tiêu hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng thương hiệu và xuất khẩu trực tuyến.

Bà Nguyễn Hoàng Thúy, Quản lý tài khoản cấp cao Amazon Global Selling Việt Nam, chia sẻ thương mại điện tử xuyên biên giới mở ra cơ hội tiếp cận trực tiếp người tiêu dùng quốc tế, nhưng doanh nghiệp cần đầu tư bài bản cho chất lượng, truy xuất nguồn gốc và thương hiệu.
Bà Nguyễn Hoàng Thúy, Quản lý tài khoản cấp cao Amazon Global Selling Việt Nam chia sẻ, thương mại điện tử xuyên biên giới mở ra cơ hội tiếp cận trực tiếp người tiêu dùng quốc tế, nhưng doanh nghiệp cần đầu tư bài bản cho chất lượng, truy xuất nguồn gốc và thương hiệu.

Theo dữ liệu Amazon trình bày tại hội nghị, trong khoảng 12 tháng từ ngày 1/8/2024 đến 31/7/2025, số lượng sản phẩm do các đối tác bán hàng Việt Nam bán trên Amazon tăng gần 35%; số doanh nghiệp Việt Nam đăng ký thương hiệu qua Amazon Brand Registry tăng gần 30% trong năm 2025. Một số nhóm nông sản, thực phẩm có mức tăng trưởng doanh thu tốt trong 12 tháng gần nhất gồm rau quả khô 24%, trà và thảo mộc 19%, gia vị 17%, các loại hạt 16% và cà phê 13%.

Tuy nhiên, cơ hội đi kèm yêu cầu chặt chẽ. Sản phẩm vào thị trường Hoa Kỳ phải tuân thủ quy định của Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ, hồ sơ xuất xứ, vùng trồng và truy xuất. Trên gian hàng trực tuyến, doanh nghiệp còn phải thể hiện rõ câu chuyện thương hiệu, nguồn gốc, trách nhiệm môi trường và xã hội để tạo khác biệt.

Bà Nguyễn Hoàng Thúy dẫn ví dụ một sản phẩm trà sử dụng nguyên liệu Thái Nguyên đạt doanh số khoảng 3 triệu USD trong năm đầu tiên trên Amazon. Một doanh nghiệp hạt điều khác không chỉ bán nguyên liệu thô mà phát triển gói nhỏ tiện lợi cho học sinh, người tập thể thao và bổ sung hương vị phù hợp thị trường. Những trường hợp này cho thấy lợi thế nguyên liệu chỉ là điểm khởi đầu; doanh nghiệp phải hiểu hành vi tiêu dùng, phát triển sản phẩm hoàn chỉnh và đầu tư thương hiệu.

Amazon cho biết doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn có thể tham gia, với các chương trình đào tạo miễn phí và tư vấn trực tiếp trong năm đầu. Đây là cơ hội để kết nối vùng nguyên liệu, năng lực chế biến tại Bắc Ninh, Hưng Yên với hệ sinh thái tài chính, thiết kế sản phẩm, xúc tiến và nhân lực của Hà Nội, từ đó tiếp cận khách hàng quốc tế.

Ông Nguyễn Công Điểm, đại diện Tập đoàn IDI và Liên minh Invest Global, cho rằng chế biến sâu chỉ có thể phát triển bền vững khi có vùng nguyên liệu đủ lớn, được cơ giới hóa, số hóa và kết nối với kiểm nghiệm, logistics cùng nguồn vốn dài hạn.
Ông Nguyễn Công Điểm (ngồi giữa), đại diện Tập đoàn IDI và Liên minh Invest Global cho rằng, chế biến sâu chỉ có thể phát triển bền vững khi có vùng nguyên liệu đủ lớn, được cơ giới hóa, số hóa và kết nối với kiểm nghiệm, logistics cùng nguồn vốn dài hạn.

Vùng nguyên liệu bền vững phải gắn với chế biến sâu

Trong chuỗi giá trị nông nghiệp, vùng nguyên liệu ổn định là điều kiện để doanh nghiệp đầu tư chế biến. Ông Nguyễn Công Điểm, đại diện Tập đoàn IDI và Liên minh Invest Global, cho biết doanh nghiệp đã đầu tư vào các sản phẩm chế biến từ cà chua, trái cây, tinh dầu và dược liệu. Với cà chua, thay vì chỉ bán sản phẩm tươi theo mùa vụ, doanh nghiệp có thể phát triển nước uống, súp, sốt, sản phẩm cô đặc và nhiều dòng thực phẩm khác.

Doanh nghiệp cũng hướng tới mô hình tận dụng phụ phẩm. Với quả cam, vỏ có thể chiết xuất tinh dầu, các phần còn lại tiếp tục được nghiên cứu để tạo thạch, kem, sữa hoặc nguyên liệu khác. Cách tổ chức này vừa nâng giá trị trên một đơn vị nguyên liệu, vừa giảm chất thải và phù hợp định hướng kinh tế tuần hoàn.

Theo ông Nguyễn Công Điểm, để nhà máy chế biến sâu vận hành ổn định, vùng nguyên liệu phải đủ lớn, được cơ giới hóa và quản trị bằng dữ liệu. Doanh nghiệp đề xuất quy hoạch vùng khoảng 2.000 ha, trong đó nhiều đơn vị đảm nhận các công đoạn khác nhau từ giống, vật tư, vùng trồng, kiểm nghiệm, chế biến đến phân phối. Vốn dài hạn, kho tự động, phòng thí nghiệm và trung tâm kiểm định là những hạ tầng doanh nghiệp khó tự mình đầu tư đầy đủ.

Một câu chuyện được nêu tại tọa đàm là doanh nghiệp phải gửi mẫu nước cà chua ra nước ngoài, chi khoảng 450 triệu đồng để xây dựng chế độ tiệt trùng phù hợp, vừa bảo đảm an toàn vừa giữ lại vitamin, lycopene và đặc tính tự nhiên. Từ trường hợp này, ông Lê Trung Hiếu đặt vấn đề liệu trong nước có cơ sở đủ năng lực để doanh nghiệp giảm chi phí thử nghiệm hay không.

Ông Nguyễn Thế Hinh cho biết hệ thống nghiên cứu trong nước đang được đầu tư phòng thí nghiệm, đồng thời có khả năng kết nối quốc tế đối với phép phân tích chưa thực hiện được. Tuy nhiên, quyết định đầu tư thiết bị cần tính đến số lượng mẫu hằng năm, chi phí nhân lực, vật tư và khấu hao. Nếu nhu cầu chưa đủ lớn, thuê dịch vụ có thể hiệu quả hơn; khi thị trường xã hội hóa đủ khả năng thu hồi vốn mới nên đầu tư, tránh lãng phí. Cuộc trao đổi cho thấy hạ tầng khoa học công nghệ phải được thiết kế theo nhu cầu thực tế của doanh nghiệp và thị trường, không chỉ dựa trên mong muốn sở hữu thiết bị.

Bà Nguyễn Hằng Nga, Phó Giám đốc Công ty TNHH Phát triển nông nghiệp và Tư vấn môi trường DACE, chia sẻ sản xuất hữu cơ không chỉ đáp ứng yêu cầu chứng nhận mà còn phải bảo vệ sức khỏe đất, đa dạng sinh học và bảo đảm sinh kế công bằng cho nông dân.
Bà Nguyễn Hằng Nga, Phó Giám đốc Công ty TNHH Phát triển nông nghiệp và Tư vấn môi trường DACE chia sẻ, sản xuất hữu cơ không chỉ đáp ứng yêu cầu chứng nhận mà còn phải bảo vệ sức khỏe đất, đa dạng sinh học và bảo đảm sinh kế công bằng cho nông dân.

Ở góc độ sản xuất hữu cơ, bà Nguyễn Hằng Nga, Phó Giám đốc Công ty TNHH Phát triển nông nghiệp và Tư vấn môi trường DACE, cho biết doanh nghiệp đã xuất khẩu quế, hồi, gừng, tỏi, sả, nghệ, ớt hữu cơ sang châu Âu và Hoa Kỳ trong 13 năm. DACE hiện liên kết hơn 3.000 hộ nông dân trên vùng nguyên liệu khoảng 2.300 ha tại Cao Bằng, tiếp cận các tiêu chuẩn hữu cơ của châu Âu, Hoa Kỳ, Nhật Bản cùng một số chứng nhận quốc tế chuyên biệt.

Mỗi nông dân trong chuỗi có hồ sơ số, truy xuất đến từng mảnh ruộng, quá trình canh tác, thu mua và sản xuất. Hệ thống này giúp doanh nghiệp quản lý vùng trồng, hỗ trợ đánh giá chứng nhận hằng năm và tạo niềm tin với khách hàng cao cấp.

Trước câu hỏi về lợi ích của nông dân khi phải tuân thủ nhiều yêu cầu hơn, bà Nguyễn Hằng Nga cho biết DACE áp dụng mức giá tối thiểu bảo đảm người sản xuất có lợi nhuận; khi giá thị trường tăng, doanh nghiệp thu mua ở mức cao hơn thị trường. Theo số liệu doanh nghiệp công bố, giá mua nguyên liệu thường cao hơn ít nhất 20%. Sự công bằng trong chuỗi còn được thể hiện qua yêu cầu không sử dụng lao động trẻ em, bảo đảm bình đẳng giới, bảo vệ đất, đa dạng sinh học và hệ sinh thái.

Khó khăn lớn nhất vẫn là thay đổi tập quán canh tác. Quá trình chuyển đổi hữu cơ có thể kéo dài ba năm trước khi đủ điều kiện chứng nhận, trong khi người dân phải thay đổi cách sử dụng vật tư và ghi chép. Vì vậy, doanh nghiệp cần tiếng nói đồng hành của chính quyền địa phương, chương trình hỗ trợ chuyển đổi và một thị trường đủ ổn định để người dân nhìn thấy lợi ích dài hạn.

Bà Đặng Thị Bích Hường, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam, cho rằng sản xuất phải bắt đầu từ nhu cầu thị trường, đồng thời bảo đảm chất lượng ổn định, truy xuất minh bạch và liên kết chặt chẽ.
Bà Đặng Thị Bích Hường, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam cho rằng, sản xuất phải bắt đầu từ nhu cầu thị trường, đồng thời bảo đảm chất lượng ổn định, truy xuất minh bạch và liên kết chặt chẽ.

Chuyển cam kết thành chương trình hành động liên vùng

Sau gần 1,5 giờ trao đổi tại toạ đàm, bà Đặng Thị Bích Hường khái quát lại ba thông điệp lớn. Thứ nhất, liên kết vùng chỉ có ý nghĩa khi được cụ thể hóa bằng chuỗi giá trị có doanh nghiệp tham gia ngay từ khâu quy hoạch vùng nguyên liệu. Thứ hai, sản xuất phải xuất phát từ nhu cầu thị trường, thị trường định hướng cho sản xuất. Thứ ba, chuyển đổi số, thương mại điện tử xuyên biên giới và hệ thống phân phối hiện đại đang mở ra cơ hội lớn, nhưng điều kiện tiên quyết là chất lượng ổn định, truy xuất minh bạch và liên kết chặt chẽ.

Phiên tọa đàm tập trung làm rõ những điểm nghẽn về vùng nguyên liệu, hạ tầng dữ liệu, chế biến sâu, logistics và khả năng tiếp cận hệ thống phân phối trong nước, quốc tế.
Phiên tọa đàm tập trung làm rõ những điểm nghẽn về vùng nguyên liệu, hạ tầng dữ liệu, chế biến sâu, logistics và khả năng tiếp cận hệ thống phân phối trong nước, quốc tế.

Từ các tham luận và tọa đàm, có thể nhận diện một chương trình hành động gồm những mắt xích liên quan trực tiếp với nhau. Ba địa phương cần thống nhất cơ sở dữ liệu, bản đồ số vùng nguyên liệu và cơ chế cập nhật; xây dựng tiêu chuẩn xanh cùng nguyên tắc thừa nhận kết quả chứng nhận; rà soát tuyến logistics lạnh, kho bảo quản, nhà máy chế biến và chợ đầu mối; hình thành mạng lưới nghiên cứu, chuyển giao công nghệ theo đặt hàng của doanh nghiệp; xây dựng danh mục dự án liên vùng và kết nối với hệ thống bán lẻ, thương mại điện tử.

Các doanh nghiệp tham dự cũng đưa ra những cam kết cụ thể. VNPT sẵn sàng cung cấp công cụ số hóa vùng trồng và quy trình sản xuất. Central Retail tiếp tục hỗ trợ hộ nông dân, hợp tác xã đi từ thị trường địa phương đến hệ thống toàn quốc, đồng thời tổ chức chuỗi cung ứng giữa các tỉnh. Amazon Global Selling Việt Nam cung cấp tài liệu đào tạo và tư vấn trực tiếp để doanh nghiệp xây dựng thương hiệu xuất khẩu. Các doanh nghiệp sản xuất, chế biến mong muốn được tham gia từ giai đoạn quy hoạch vùng nguyên liệu, thay vì chỉ tìm kiếm nguồn cung sau khi nhà máy đã được đầu tư.

Liên kết vùng để kiến tạo hệ sinh thái nông nghiệp thông minh, kinh tế xanh
Ông Lê Trung Hiếu, Phó Giám đốc Sở Tài chính Hà Nội mong muốn các nhà đầu tư khi đến với Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên sẽ không nhìn thấy ba địa phương đơn lẻ mà nhìn thấy một không gian phát triển thống nhất, nơi mỗi địa phương phát huy thế mạnh của mình, cùng chia sẻ cơ hội và cùng tạo dựng giá trị.

Về phía Hà Nội, ông Lê Trung Hiếu khẳng định Sở Tài chính thành phố sẽ tiếp tục phối hợp với các sở, ngành của Bắc Ninh và Hưng Yên để chia sẻ thông tin quy hoạch, danh mục dự án ưu tiên, hoàn thiện cơ chế huy động nguồn lực và đồng hành cùng doanh nghiệp trong quá trình triển khai dự án.

“Chúng tôi mong muốn các nhà đầu tư khi đến với Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên sẽ không nhìn thấy ba địa phương đơn lẻ mà nhìn thấy một không gian phát triển thống nhất, nơi mỗi địa phương phát huy thế mạnh của mình, cùng chia sẻ cơ hội và cùng tạo dựng giá trị”, ông Lê Trung Hiếu nhấn mạnh.

Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm, thể hiện quyết tâm tăng cường liên kết Hà Nội - Bắc Ninh - Hưng Yên trong phát triển nông nghiệp thông minh và kinh tế xanh.
Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm, thể hiện quyết tâm tăng cường liên kết Hà Nội - Bắc Ninh - Hưng Yên trong phát triển nông nghiệp thông minh và kinh tế xanh.

Thành công của liên kết vùng vì thế không chỉ được đo bằng số lượng hội nghị hay biên bản ghi nhớ, mà phải thể hiện ở những vùng nguyên liệu được số hóa, tiêu chuẩn được công nhận, tuyến logistics được đầu tư, nhà máy có nguồn cung ổn định, người nông dân nhận được giá trị cao hơn và sản phẩm mang thương hiệu Việt tiếp cận được thị trường có giá trị lớn. Đó là nền tảng để Hà Nội, Bắc Ninh và Hưng Yên hình thành một hệ sinh thái nông nghiệp thông minh, kinh tế xanh có sức cạnh tranh và khả năng phát triển dài hạn.

Bài liên quan

Kiến tạo hệ sinh thái nông nghiệp xanh bằng sản xuất rau hữu cơ

Kiến tạo hệ sinh thái nông nghiệp xanh bằng sản xuất rau hữu cơ

Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh chóng, nhu cầu về thực phẩm an toàn và bảo vệ môi trường đang trở thành ưu tiên hàng đầu của người dân Đà Nẵng. Việc phát triển các mô hình sản xuất rau hữu cơ không chỉ đơn thuần là bài toán kinh tế, mà còn là hành trình hướng tới một nền nông nghiệp xanh, sạch, góp phần chữa lành hệ sinh thái đất và nguồn nước.
Lúa - Tôm: Hướng đi bền vững cho nông nghiệp sinh thái

Lúa - Tôm: Hướng đi bền vững cho nông nghiệp sinh thái

Những ngày đầu năm mới, không khí lao động trên các vùng sản xuất lúa - tôm của tỉnh Cà Mau trở nên nhộn nhịp khi nông dân bước vào thu hoạch trà lúa đầu vụ.
Từ loài côn trùng nhỏ bé đến trợ thủ nông nghiệp chống biến đổi khí hậu

Từ loài côn trùng nhỏ bé đến trợ thủ nông nghiệp chống biến đổi khí hậu

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu làm gia tăng dịch bệnh cây trồng và rủi ro sản xuất nông nghiệp, các nhà khoa học đang tìm kiếm những giải pháp sinh học an toàn, bền vững thay thế thuốc bảo vệ thực vật hóa học. Những nghiên cứu gần đây cho thấy, kiến loài côn trùng quen thuộc trong tự nhiên có thể trở thành một “vũ khí sinh học” hiệu quả giúp bảo vệ cây trồng, giảm sâu bệnh và thích ứng với nông nghiệp trong điều kiện khí hậu ấm lên.
OAU đưa nhà máy thuốc bảo vệ thực vật sinh học vào hoạt động

OAU đưa nhà máy thuốc bảo vệ thực vật sinh học vào hoạt động

Sau gần 20 năm nghiên cứu và phát triển công nghệ sinh học, Công ty Cổ phần Nông nghiệp Hữu cơ OAU đưa nhà máy sản xuất thuốc bảo vệ thực vật và chế phẩm sinh học thảo mộc vào hoạt động tại Đà Nẵng, đánh dấu bước chuyển từ nghiên cứu sang sản xuất quy mô công nghiệp.
Đến năm 2045, Việt Nam phấn đấu thuộc nhóm dẫn đầu châu Á về công nghiệp sinh học

Đến năm 2045, Việt Nam phấn đấu thuộc nhóm dẫn đầu châu Á về công nghiệp sinh học

Chính phủ đặt mục tiêu đến năm 2045 làm chủ công nghệ sinh học thế hệ mới, công nghệ sinh học chiến lược và công nghệ chỉnh sửa gen; đồng thời hình thành thị trường, phát triển hệ sinh thái doanh nghiệp và các sản phẩm quy mô công nghiệp phục vụ nông nghiệp xanh, tuần hoàn, bền vững. Đáng chú ý, công nghệ sinh học sẽ được ứng dụng để chẩn đoán độ phì nhiêu, sức khỏe đất trồng trọt, chất lượng nước tưới và môi trường, phục vụ nông nghiệp an toàn và nông nghiệp hữu cơ.
Mỹ thu hồi lô ớt jalapeño từ Mexico sau vụ bùng phát Salmonella

Mỹ thu hồi lô ớt jalapeño từ Mexico sau vụ bùng phát Salmonella

Mỹ xác định lô ớt jalapeño nhập từ Mexico là nguồn lây Salmonella khiến 345 người mắc bệnh. Giới chức tiếp tục truy xuất nguồn gốc và mở rộng điều tra.
TP.HCM siết tiến độ cấp mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói

TP.HCM siết tiến độ cấp mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói

Để bảo đảm hoạt động sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu nông sản không bị ảnh hưởng, UBND TP.HCM yêu cầu đẩy nhanh việc thiết lập, cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói và không để tồn đọng hồ sơ đối với các trường hợp đã đủ điều kiện.
Làm nông nghiệp hữu cơ: Khó hôm nay để dễ ngày mai

Làm nông nghiệp hữu cơ: Khó hôm nay để dễ ngày mai

Nông nghiệp hữu cơ đang được xem là xu hướng tất yếu của nền nông nghiệp hiện đại khi người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến sức khỏe và môi trường. Tuy nhiên, con đường chuyển đổi sang sản xuất hữu cơ không hề bằng phẳng. Vậy làm nông nghiệp hữu cơ khó hay dễ? Câu trả lời là vừa khó, vừa dễ, tùy thuộc vào cách tiếp cận và quyết tâm của người sản xuất.
Bắc Ninh công bố quy hoạch chiến lược, chính thức đạt tiêu chí đô thị loại I

Bắc Ninh công bố quy hoạch chiến lược, chính thức đạt tiêu chí đô thị loại I

Đây được xem là cột mốc lịch sử đặc biệt quan trọng, tạo đà để Bắc Ninh bứt phá trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trước năm 2030, từng bước hiện thực hóa Kết luận số 52-KL/TW của Bộ Chính trị.

CÁC TIN BÀI KHÁC

Kết nối tiêu thụ, tạo động lực cho sản phẩm nông sản Tân Lạc

Kết nối tiêu thụ, tạo động lực cho sản phẩm nông sản Tân Lạc

Ngày 3/8, đoàn công tác của Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam (VOAA) đã khảo sát các vùng sản xuất, cơ sở chế biến và hợp tác xã tại xã Tân Lạc, tỉnh Phú Thọ. Chuyến đi không chỉ nhận diện lợi thế bản địa mà còn đặt ra hàng loạt yêu cầu cụ thể về quy trình sản xuất, kiểm soát chất lượng, vùng nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc và thị trường tiêu thụ.
Kiến tạo hệ sinh thái nông nghiệp bền vững: Hành trình thuận tự nhiên và kinh tế tuần hoàn

Kiến tạo hệ sinh thái nông nghiệp bền vững: Hành trình thuận tự nhiên và kinh tế tuần hoàn

Nông nghiệp không chỉ là ngành kinh tế cung cấp lương thực, mà bản chất là một hệ sinh thái sống. Nhiều thập kỷ qua, việc lạm dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật và thâm canh quá độ đã khiến đất đai kiệt quệ, đa dạng sinh học suy giảm và nguồn nước bị ô nhiễm.
Hải Phòng: Siết chặt quản lý vật tư nông nghiệp, bảo vệ quyền lợi người nông dân

Hải Phòng: Siết chặt quản lý vật tư nông nghiệp, bảo vệ quyền lợi người nông dân

Hội Nông dân TP. Hải Phòng phối hợp cùng UBND xã Vĩnh Hòa tổ chức hội nghị giám sát, phản biện xã hội về việc chấp hành pháp luật trong sản xuất, kinh doanh và sử dụng vật tư nông nghiệp. Đây là hoạt động thiết thực nhằm đẩy lùi hàng giả, hàng kém chất lượng, hướng tới nền nông nghiệp xanh và bền vững.
Mối quan hệ giữa chăn nuôi và trồng trọt trong phát triển nông nghiệp bền vững

Mối quan hệ giữa chăn nuôi và trồng trọt trong phát triển nông nghiệp bền vững

Chăn nuôi và trồng trọt có mối quan hệ gắn bó, hỗ trợ lẫn nhau trong phát triển nông nghiệp bền vững. Chất thải chăn nuôi được tái sử dụng làm phân bón hữu cơ cho cây trồng, trong khi phụ phẩm nông nghiệp trở thành nguồn thức ăn cho vật nuôi, góp phần tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ môi trường và nâng cao hiệu quả sản xuất.
Quảng Trị: Tổ chức các lớp tập huấn phổ biến các quy định pháp luật mới về bảo vệ và kiểm dịch thực vật

Quảng Trị: Tổ chức các lớp tập huấn phổ biến các quy định pháp luật mới về bảo vệ và kiểm dịch thực vật

Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Trị đã tổ chức các lớp tập huấn, phổ biến các quy định pháp luật mới trong lĩnh vực bảo vệ và kiểm dịch thực vật, phân bón và giống cây trồng cho đại diện các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh và sử dụng vật tư nông nghiệp trên địa bàn.
Những thách thức trong việc sử dụng năng lượng tái tạo ở Việt Nam

Những thách thức trong việc sử dụng năng lượng tái tạo ở Việt Nam

Năng lượng tái tạo đang đóng vai trò quan trọng trong quá trình chuyển đổi xanh ở Việt Nam. Tuy nhiên, việc phát triển và sử dụng nguồn năng lượng này vẫn đối mặt với nhiều thách thức như hạ tầng truyền tải chưa đồng bộ, chi phí đầu tư cao, công nghệ lưu trữ hạn chế và cơ chế chính sách cần tiếp tục hoàn thiện để bảo đảm phát triển bền vững.
TP.HCM triển khai đề cử điển hình tiên tiến phát triển nông nghiệp hữu cơ Việt Nam năm 2026

TP.HCM triển khai đề cử điển hình tiên tiến phát triển nông nghiệp hữu cơ Việt Nam năm 2026

Sở Nông nghiệp và Môi trường TP.HCM vừa ban hành văn bản phối hợp rà soát, giới thiệu các tập thể, cá nhân, doanh nghiệp, hợp tác xã và mô hình sản xuất tiêu biểu tham gia Chương trình tôn vinh điển hình tiên tiến phát triển nông nghiệp hữu cơ Việt Nam lần thứ III - năm 2026.
Nhân rộng vườn trường sinh thái để nâng cao dinh dưỡng học đường

Nhân rộng vườn trường sinh thái để nâng cao dinh dưỡng học đường

Mô hình vườn trường sinh thái không chỉ tạo không gian xanh trong khuôn viên trường học mà còn được đánh giá là một giải pháp đa lợi ích, góp phần nâng cao kiến thức dinh dưỡng, hình thành thói quen ăn uống lành mạnh, giáo dục bảo vệ môi trường và tăng cường kết nối giữa học sinh, gia đình với thiên nhiên. Từ kết quả triển khai thực tế, nhóm nghiên cứu đề xuất từng bước thể chế hóa và nhân rộng mô hình tại những địa phương có nhu cầu, điều kiện phù hợp.
Mối liên hệ giữa phúc lợi động vật và hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi hữu cơ

Mối liên hệ giữa phúc lợi động vật và hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi hữu cơ

Phúc lợi động vật không chỉ là yêu cầu đạo đức trong chăn nuôi hữu cơ mà còn là yếu tố quyết định năng suất, chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế. Dưới góc nhìn khoa học, đầu tư cho phúc lợi vật nuôi giúp giảm chi phí, tăng giá trị thương phẩm, đồng thời tạo nền tảng phát triển nông nghiệp bền vững và có sức cạnh tranh lâu dài.
Bảo Đài đưa nông nghiệp hữu cơ vươn tầm toàn quốc

Bảo Đài đưa nông nghiệp hữu cơ vươn tầm toàn quốc

UBND xã Bảo Đài (Bắc Ninh) vừa phát động đợt tuyên truyền rộng rãi về Chương trình đề cử "Tôn vinh điển hình tiên tiến vì sự phát triển nông nghiệp hữu cơ Việt Nam" lần thứ III - năm 2026. Sự kiện thực hiện theo chỉ đạo tại Công văn số 7234/UBND-NN của UBND tỉnh Bắc Ninh và hướng dẫn từ Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam.
Đề cử điển hình tiên tiến góp sức phát triển nông nghiệp hữu cơ toàn quốc

Đề cử điển hình tiên tiến góp sức phát triển nông nghiệp hữu cơ toàn quốc

Trung tâm Khuyến nông tỉnh An Giang triển khai chương trình đề cử tham gia Lễ tôn vinh điển hình tiên tiến vì sự nghiệp phát triển nông nghiệp hữu cơ toàn quốc lần thứ III năm 2026, đồng thời yêu cầu các đơn vị trực thuộc đẩy mạnh tuyên truyền, rà soát và hoàn thiện hồ sơ đăng ký trước ngày 10/8/2026.
Diện tích sản xuất nông nghiệp hữu cơ ở Lâm Đồng đạt hơn 2 nghìn héc-ta

Diện tích sản xuất nông nghiệp hữu cơ ở Lâm Đồng đạt hơn 2 nghìn héc-ta

Với lợi thế về khí hậu, thổ nhưỡng và nguồn nước, Lâm Đồng đang từng bước khẳng định vị thế là một trong những địa phương đi đầu cả nước về phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp xanh và nông nghiệp hữu cơ. Sau 5 năm triển khai Đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2020-2025, diện tích sản xuất hữu cơ trên địa bàn tỉnh đã tăng mạnh, đạt hơn 2.000 ha.
XEM THÊM
dam-ca-mau-chi-vi-hoa
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2026 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính