Thứ hai 19/01/2026 14:02Thứ hai 19/01/2026 14:02 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Lai Châu: Sản xuất hữu cơ phát triển bền vững cây chè

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Tỉnh Lai Châu hiện có khoảng 260 ha chè áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn an toàn, trong đó diện tích đã được chứng nhận khoảng 160 ha (chứng nhận tiêu chuẩn RA 126 ha; chứng nhận VietGAP 10,5 ha; chứng nhận Hữu cơ 23,6 ha); đang triển khai thực hiện trên 100 ha chè áp dụng tiêu chuẩn VietGap.
ông Hà Trọng Hải, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lai Châu cho biết, thời gian tới Lai Châu tập trung phát triển bền vững cây chè theo hướng hàng hóa, gắn sản xuất với chế biến, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, bảo vệ môi trường sinh thái.
Ông Hà Trọng Hải, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lai Châu cho biết, thời gian tới Lai Châu tập trung phát triển bền vững cây chè theo hướng hàng hóa, gắn sản xuất với chế biến, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, bảo vệ môi trường sinh thái - Ảnh minh họa

Lai Châu là tỉnh miền núi phía Bắc, là nơi khởi nguồn của con sông Đà hùng vĩ cung cấp nguồn thủy năng dồi dào cho các nhà máy thủy điện lớn của Quốc Gia như Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu…Với diện tích tự nhiên 906.878,87 ha, trong đó có 526.533,58 ha đất nông nghiệp, chiếm 58,06% diện tích tự nhiên của tỉnh. Địa hình chia cắt mạnh bởi dãy núi Hoàng Liên Sơn và hệ thống lưu vực sông Đà, tạo ra các tiểu vùng khí hậu đặc trưng khác nhau từ độ cao trên 200m đến hơn 3.000m so với mực nước biển; có lợi thế phát triển nhiều sản phẩm nông nghiệp đặc sản, chất lượng, trong đó có sản phẩm chủ lực của tỉnh là cây chè.

Phát biểu tại diễn đàn “Kết nối sản xuất và tiêu thụ chè chất lượng cao”, tổ chức ngày 5/11/2024, ông Hà Trọng Hải, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lai Châu cho biết: Hiện nay, toàn tỉnh có trên 10.500ha chè, trong đó diện tích chè kinh doanh 8.400ha, năng suất chè búp tươi bình quân đạt trên 70 tạ/ha, sản lượng chè búp tươi trên 58.000 tấn. Diện tích chè thực hiện liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm trên 7.000ha, chiếm 67% tổng diện tích. Toàn tỉnh có khoảng 260 ha chè áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn an toàn, trong đó diện tích đã được chứng nhận khoảng 160 ha (chứng nhận tiêu chuẩn RA 126 ha; chứng nhận VietGAP 10,5 ha; chứng nhận Hữu cơ 23,6 ha); đang triển khai thực hiện trên 100 ha chè áp dụng tiêu chuẩn VietGap.

Bên cạnh đó, các công ty, doanh nghiệp và người dân trong tỉnh đã chú trọng đầu tư thâm canh, áp dụng các tiêu chuẩn an toàn trong sản xuất; đa dạng về mẫu mã, sản phẩm. Tỉnh Lai Châu cũng ban hành các chính sách, hỗ trợ bà con phát triển ngành chè như: hỗ trợ 100% nguồn giống trong 3 năm đầu; chi phí đầu vào và đầu tư 15 tỉ đồng vào nhà máy sản xuất và chế biến.

Chuyển đổi sản xuất hữu cơ, chất lượng cao để ngành chè Việt Nam phát triển bền vững Chuyển đổi sản xuất hữu cơ, chất lượng cao để ngành chè Việt Nam phát triển bền vững
Cần đánh thức tiềm năng cho chè Việt Cần đánh thức tiềm năng cho chè Việt
Chè Việt Nam: Nâng tầm giá trị, vươn ra thế giới Chè Việt Nam: Nâng tầm giá trị, vươn ra thế giới

Toàn tỉnh Lai Châu đã có 21 sản phẩm chè đạt tiêu chuẩn sản phẩm OCOP, trong đó có 07 sản phẩm đạt 4 sao; 14 sản phẩm đạt 3 sao; có 09 sản phẩm/bộ sản phẩm được công nhận là sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu cấp tỉnh, 02 bộ sản phẩm được công nhận là sản phẩm công nghiệp nông thôn cấp khu vực và quốc gia.

Cục Sở hữu trí tuệ đã cấp giấy chứng nhận nhãn hiệu cho sản phẩm chè của huyện Tân Uyên, Tam Đường. Các sản phẩm sau chế biến được các nhà nhập khẩu, doanh nghiệp xuất khẩu lớn trong nước đặt hàng và chủ yếu là sản phẩm thô như: Chè xanh sao lăn, chè xanh duỗi, chè Olong. Một số doanh nghiệp xuất khẩu trực tiếp hoặc ủy thác dưới dạng đóng bao lớn với bao bì đóng gói của các nhà nhập khẩu và được xuất khẩu sang các thị trường truyền thống có yêu cầu không cao về chất lượng sản phẩm như: Afghanistan (đây là thị trường xuất khẩu chè lớn nhất của tỉnh), Pakistan; Đài Loan; giai đoạn 2020-2024, sản chè khô xuất khẩu đạt 15,38 tấn, trị giá 32,36 triệu USD. Các sản phẩm chè của tỉnh chủ yếu là xuất khẩu sang thị trường Afghanistan, Pakistan và Đài loan, trong đó xuất khẩu trực tiếp chiếm 35% tổng sản lượng chè; còn lại là xuất ủy thác và bán nội tiêu. Tỷ lệ chè xanh sao lăn, chè xanh duỗi chiếm khoảng 90%; chè đen chiếm khoảng 10% sản lượng chè.

Theo ông Hà Trọng Hải, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lai Châu.
Ông Hà Trọng Hải, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lai Châu.

Xác định có nhiều tiềm năng để phát triển sản xuất chè tập trung, UBND tỉnh Lai Châu đã ban hành đề án phát triển nông nghiệp hàng hóa tập trung giai đoạn 2021 – 2025, định hướng đến năm 2030, trong đó xác định đến năm 2025, toàn tỉnh có trên 10.000 ha chè, thực hiện bảo tồn, trồng mới và trồng bổ sung 300 ha chè cổ thụ gắn với phát triển du lịch sinh thái. Bên cạnh đó, HĐND tỉnh Lai Châu đã ban hành Nghị quyết số 07/2021/NQ-HĐND ngày 22/3/2021 quy định chính sách về phát triển nông nghiệp hàng hóa tập trung giai đoạn 2021 – 2025, trong đó quy định chính sách hỗ trợ phát triển vùng chè tập trung chất lượng cao, phát triển và bảo tồn cây chè cổ thụ (hỗ trợ 100% giống trồng mới, phân bón lót theo quy trình; hỗ trợ chuyển đổi đất, khai hoang, làm đất, phát dọn thực bì); hỗ trợ áp dụng các tiêu chuẩn, quy chuẩn đảm bảo an toàn thực phẩm (VietGAP và tương đương, hữu cơ, tiêu chuẩn xuất khẩu…).

Tuy nhiên, ngành chè Lai Châu còn những hạn chế, yếu kém. Diện tích sản xuất theo các tiêu chuẩn, quy chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm (VietGAP, GlobalGAP, RA, hữu cơ…) còn ít. Các cơ sở chế biến chè của tỉnh có quy mô nhỏ, các sản phẩm chè chế biến chủ yếu là dạng thô, mẫu mã chưa đa dạng, năng lực cạnh tranh thấp. Bên cạnh đó, thị trường tiêu thụ còn hạn chế, chủ yếu xuất khẩu tại các nước Trung Đông và Đài Loan, dẫn đến giá thành còn thấp.

Vì vậy, ông Hà Trọng Hải, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lai Châu cho biết, thời gian tới Lai Châu tập trung phát triển bền vững cây chè theo hướng hàng hóa, gắn sản xuất với chế biến, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, bảo vệ môi trường sinh thái, phát triển sản phẩm theo chuỗi giá trị, nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm trên thị trường.

Song song với đó, phát triển du lịch sinh thái gắn với bản sắc văn hóa dân tộc, tạo ra 1 kênh tiêu thụ chè tại chỗ thông qua du lịch.

Bài liên quan

Tác động của PGS đến phát triển nông nghiệp hữu cơ tại Châu Á – Bài học và hành trình phát triển

Tác động của PGS đến phát triển nông nghiệp hữu cơ tại Châu Á – Bài học và hành trình phát triển

Sáng 18/9, trong khuôn khổ của Hội nghị hữu cơ Châu Á lần thứ 8 được tổ chức tại Ninh Bình, phiên thảo luận về tác động của PGS đến sự phát triển hữu cơ tại Châu Á. Các chuyên gia đến từ Ấn Độ, Philippines, Sri Lanka và Việt Nam đã chia sẻ thành công, thách thức và bài học từ thực tiễn.
Hà Tĩnh đẩy mạnh nông nghiệp thông minh thích ứng khí hậu cực đoan

Hà Tĩnh đẩy mạnh nông nghiệp thông minh thích ứng khí hậu cực đoan

Biến đổi khí hậu đang tác động mạnh đến sản xuất nông nghiệp Hà Tĩnh, với những đợt nắng nóng gay gắt, rét đậm rét hại và mưa lũ bất thường. Trước thực tế này, nhiều mô hình ứng dụng công nghệ cao, sản xuất hữu cơ và đa dạng hóa nuôi trồng đã được triển khai, giúp nâng cao năng suất, chất lượng nông sản và giảm thiểu rủi ro.
Nông nghiệp hữu cơ qua thời "lẻ bóng bơ vơ" một mình - Bài 4: Đột phá chính sách, vươn mình ra biển lớn

Nông nghiệp hữu cơ qua thời "lẻ bóng bơ vơ" một mình - Bài 4: Đột phá chính sách, vươn mình ra biển lớn

Từ những nỗ lực cá nhân đến sự hợp lực của cộng đồng, nông nghiệp hữu cơ Việt Nam đang đứng trước cơ hội vàng để định hình lại vị thế trên bản đồ nông sản toàn cầu. Đây là câu chuyện về tầm nhìn xa, về khát vọng đưa hạt gạo, rau quả, và đặc sản hữu cơ của Việt Nam không chỉ chinh phục thị trường nội địa mà còn khẳng định thương hiệu trên trường quốc tế, góp phần xây dựng một nền nông nghiệp thịnh vượng và bền vững cho muôn đời sau.
Bắc Kạn: Sản xuất hữu cơ là ưu tiên lựa chọn đối với ngành nông nghiệp

Bắc Kạn: Sản xuất hữu cơ là ưu tiên lựa chọn đối với ngành nông nghiệp

Bắc Kạn là địa phương có tiềm năng để phát triển nông nghiệp hữu cơ rất lớn vì có những điều kiện rất tốt để sản xuất nông nghiệp hữu cơ với các yếu tố về đất đai, không khí, nguồn nước chưa bị ô nhiễm, đáp ứng được các tiêu chuẩn sản xuất hữu cơ.
Sự khác biệt giữa nông nghiệp thông thường và nông nghiệp hữu cơ?

Sự khác biệt giữa nông nghiệp thông thường và nông nghiệp hữu cơ?

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và mối quan tâm ngày càng tăng về an toàn thực phẩm, sự khác biệt giữa nông nghiệp thông thường và nông nghiệp hữu cơ ngày càng trở nên quan trọng. Hai phương thức canh tác này có những triết lý và phương pháp tiếp cận khác nhau, ảnh hưởng đến môi trường, sức khỏe con người và chất lượng sản phẩm.
Gạo hữu cơ có thực sự sạch, chất lượng?

Gạo hữu cơ có thực sự sạch, chất lượng?

Gạo hữu cơ đang chiếm được nhiều sự quan tâm của người tiêu dùng thông thái và ngày càng lớn mạnh, cuộc sống hiện đại với thu nhập ngày càng được nâng cao khiến người tiêu dùng chú trọng nhiều hơn đến sức khỏe.

CÁC TIN BÀI KHÁC

Bảo tồn và lưu giữ nguồn gen cây nguyên liệu dầu và cây tinh dầu

Bảo tồn và lưu giữ nguồn gen cây nguyên liệu dầu và cây tinh dầu

Tài nguyên di truyền thực vật là một bộ phận của giống, là vật liệu ban đầu để lai tạo ra giống mới và là hạt nhân của đa dạng sinh học nên giữ vai trò rất quan trọng trong chiến lược phát triển nông nghiệp của mỗi quốc gia. Thực tế cho thấy quốc gia nào sở hữu nguồn tài nguyên di truyền sinh vật nói chung và nguồn tài nguyên thực vật nói riêng càng đa dạng và phong phú thì sẽ đạt được nhiều thành tựu nổi bật trong công tác chọn tạo giống mới phục vụ phát triển kinh tế đất nước.
Vai trò của vụ đông trong chiến lược an ninh lương thực quốc gia

Vai trò của vụ đông trong chiến lược an ninh lương thực quốc gia

Khi biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp trên phạm vi toàn cầu, dân số gia tăng, quỹ đất nông nghiệp bị thu hẹp và yêu cầu nâng cao chất lượng sống của người dân ngày càng cao, vấn đề an ninh lương thực không chỉ dừng lại ở việc “đủ ăn” mà còn hướng tới “ăn đủ dinh dưỡng, ăn an toàn và bền vững”.
Kinh tế dữ liệu là động lực tăng trưởng mới trong kỷ nguyên số

Kinh tế dữ liệu là động lực tăng trưởng mới trong kỷ nguyên số

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ, dữ liệu đã trở thành một loại “tài nguyên chiến lược” tương tự như đất đai, lao động hay vốn. Nếu như trước đây dữ liệu chỉ được xem là sản phẩm phụ của các hoạt động kinh tế - xã hội, thì ngày nay, dữ liệu được khai thác, phân tích và chuyển hóa thành giá trị kinh tế to lớn.
Giải "bài toán" hữu cơ và năng suất: Từ tranh luận đến cách tiếp cận khoa học

Giải "bài toán" hữu cơ và năng suất: Từ tranh luận đến cách tiếp cận khoa học

Trong nhiều năm qua, câu hỏi “nông nghiệp hữu cơ có bảo đảm năng suất hay không?” luôn là chủ đề gây tranh luận trong giới hoạch định chính sách, nhà khoa học, doanh nghiệp và nông dân.
Phát triển nông nghiệp hữu cơ: Cần giải pháp đồng bộ để mở rộng “cuộc chơi”

Phát triển nông nghiệp hữu cơ: Cần giải pháp đồng bộ để mở rộng “cuộc chơi”

Nông nghiệp hữu cơ tại Việt Nam đang có những bước phát triển tích cực, thể hiện qua diện tích canh tác mở rộng, số lượng chủ thể tham gia tăng và danh mục sản phẩm ngày càng đa dạng.
Khi đô thị hóa tăng tốc, đất đai trở thành “chìa khóa xanh” của tương lai

Khi đô thị hóa tăng tốc, đất đai trở thành “chìa khóa xanh” của tương lai

Đất khỏe mạnh chính là nền tảng cốt lõi xây dựng các đô thị xanh, kiên cường và bền vững. Hãy cùng khám phá vai trò của đất trong việc bảo đảm an ninh lương thực đô thị và nâng cao chất lượng sống cư dân thành thị.
Kinh tế tuần hoàn ở ĐBSCL: Tiềm năng lớn nhưng chỉ "dám" đầu tư nhỏ

Kinh tế tuần hoàn ở ĐBSCL: Tiềm năng lớn nhưng chỉ "dám" đầu tư nhỏ

Kinh tế tuần hoàn (KTTH) được xem là hướng đi tất yếu giúp Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu, song thực tiễn triển khai gặp nhiều rào cản, khiến doanh nghiệp chưa 'dám' đầu tư quy mô lớn.
Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam cần thu hẹp khoảng cách với "sân chơi" toàn cầu

Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam cần thu hẹp khoảng cách với "sân chơi" toàn cầu

Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam đang có tốc độ phát triển sản xuất nhanh hơn so với bình quân của thế giới. Thế nhưng, quy mô sản xuất theo hướng an toàn và bền vững này của Việt Nam vẫn rất nhỏ so với thế giới.
Nông nghiệp và Môi trường: Bản lĩnh vượt thách thức, giữ vững trụ đỡ phát triển bền vững

Nông nghiệp và Môi trường: Bản lĩnh vượt thách thức, giữ vững trụ đỡ phát triển bền vững

Năm 2025, dù bối cảnh thế giới nhiều biến động, kinh tế phục hồi chậm và biến đổi khí hậu ngày càng khốc liệt, ngành nông nghiệp và môi trường (NN&MT) Việt Nam vẫn khẳng định vai trò trụ đỡ của nền kinh tế, góp phần ổn định vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội.
Thị trường hữu cơ hướng tới mốc nghìn tỷ USD - cơ hội cho Việt Nam

Thị trường hữu cơ hướng tới mốc nghìn tỷ USD - cơ hội cho Việt Nam

Dự báo giai đoạn 2025 - 2034 cho thấy thị trường thực phẩm hữu cơ toàn cầu có thể đạt 1,05 nghìn tỷ USD vào năm 2034. Tại Việt Nam, sản xuất hữu cơ đã mở rộng trên 174.000ha với 17.200 chủ thể tham gia và gần 600 cơ sở chế biến; nhiều địa phương như Nghệ An, Hải Phòng đang cụ thể hóa mục tiêu bằng đề án, lộ trình và định hướng mở rộng vùng sản xuất theo lợi thế sinh thái.
Những dấu ấn của Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam năm 2025

Những dấu ấn của Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam năm 2025

Năm 2025 đánh dấu thời điểm bản lề của nông nghiệp hữu cơ Việt Nam, khi giai đoạn đầu thực hiện Quyết định 885/QĐ-TTg khép lại với các mục tiêu về quy mô, tiêu chuẩn và tổ chức sản xuất được kiểm chứng rõ nét trong thực tiễn. Những chuyển biến về chính sách, thể chế và thị trường cũng như những sự kiện quan trọng trong năm cho thấy nông nghiệp hữu cơ Việt Nam đang tăng tốc mạnh mẽ để bước vào giai đoạn phát triển có định hướng và hội nhập sâu rộng hơn.
Thương hiệu bưởi Soi Hà: Hành trình nông sản Tuyên Quang vươn tầm thế giới

Thương hiệu bưởi Soi Hà: Hành trình nông sản Tuyên Quang vươn tầm thế giới

Vùng bưởi Soi Hà từ lâu đã được biết đến là một trong những đặc sản nổi tiếng của tỉnh Tuyên Quang, gắn liền với tên tuổi thôn Soi Hà nằm bên dòng sông Gâm hiền hòa, thuộc xã Xuân Vân.
XEM THÊM
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2025 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính