Thứ tư 04/03/2026 21:51Thứ tư 04/03/2026 21:51 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Ứng dụng mô hình SWOT trong phát triển sản phẩm nông nghiệp hữu cơ

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Với lịch sử canh tác hữu cơ đã hình thành từ lâu, nông nghiệp Việt Nam là ngành có lợi thế bởi tính đa dạng và quy mô sản lượng lớn. Tuy nhiên, có nhiều loại nông sản có tiềm năng nhưng chưa được khai thác hợp lý. Đặc biệt là đối với nông nghiệp hữu cơ, diện tích canh tác còn khiêm tốn. Phát triển sản xuất nông nghiệp hữu cơ là một xu hướng tất yếu, song cách tiếp cận như thế nào ở Việt Nam còn là một vấn đề đáng quan tâm hiện nay. Bài viết sử dụng mô hình SWOT phân tích cơ hội cũng như những khó khăn trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp hữu cơ

Trong những năm gần đây, nền nông nghiệp Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ, nhất là trong nghiên cứu, triển khai các ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và chế biến nông sản thực phẩm. Tuy nhiên, sản phẩm nông sản Việt Nam chưa cạnh tranh về chất lượng, mẫu mã, nhiều loại sản phẩm chưa đạt vệ sinh an toàn thực phẩm. Hiện nay trên thị trường nội địa, người tiêu dùng không thể phân biệt được sản phẩm an toàn vệ sinh thực phẩm và sản phẩm không an toàn. Sự không minh bạch của sản phẩm không an toàn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự sống của mọi người. Nông nghiệp Việt Nam đang đứng trước 2 thách thức vô cùng to lớn đó là an toàn vệ sinh thực phẩm và biến đổi khí hậu. Nếu biến đổi khí hậu khiến Việt Nam cần phải triển khai nhanh một nền nông nghiệp chống biến đổi khí hậu mà cốt lõi là thay đổi cơ cấu cây trồng và phương pháp canh tác thích hợp với tình hình mới vì hạn, nhiễm mặn, nóng, lạnh, lũ lụt, bão thì thực phẩm không an toàn sẽ đem đến nhiều hệ lụy trầm trọng hơn. Đây là nguyên nhân phá hủy môi trường và di truyền đến cho sức khỏe của nhiều thế hệ con cháu mai sau. Trong tình hình người tiêu dùng rất lo ngại về thực phẩm không an toàn hiện nay, việc phát triển sản phẩm nông nghiệp hữu cơ là bước đi cần thiết và kịp thời cho nông nghiệp Việt Nam.

Ứng dụng mô hình SWOT phân tích sản xuất nông nghiệp hữu cơ tại Việt Nam

Là một nước nông nghiệp truyền thống, Việt Nam có nhiều tiềm năng xây dựng nền nông nghiệp hữu cơ. Đến nay đã có 59/63 tỉnh, thành phố trên cả nước triển khai sản xuất nông nghiệp hữu cơ và ngày càng lan tỏa mạnh mẽ. Năm 2021, diện tích đất nông nghiệp hữu cơ Việt Nam đạt hơn 174.000ha, tăng 47% so với năm 2016, đứng thứ 9/10 nước có diện tích đất nông nghiệp hữu cơ lớn nhất châu Á. Quyết định số 885/QĐ-TTg ngày 23/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2020 - 2030, diện tích nhóm đất nông nghiệp sản xuất hữu cơ đạt khoảng 2,5 - 3% tổng diện tích nhóm đất nông nghiệp. Diện tích đất trồng trọt hữu cơ đạt khoảng hơn 2% tổng diện tích đất trồng trọt. Tỷ lệ sản phẩm chăn nuôi hữu cơ đạt khoảng 2 - 3% tính trên tổng sản phẩm chăn nuôi sản xuất trong nước. Diện tích nuôi trồng thủy sản hữu cơ đạt khoảng 1,5 - 3% tổng diện tích nuôi trồng thủy sản… Giá trị sản phẩm trên 1ha đất trồng trọt và nuôi trồng thủy sản hữu cơ cao gấp 1,5 - 1,8 lần so với sản xuất phi hữu cơ.

Đầu năm 2022, cả nước có khoảng 240.000 hecta canh tác hữu cơ, với sự tham gia của gần 20.000 lao động tại 46 tỉnh, thành phố. Bên cạnh đó, có khoảng 160 doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh nông nghiệp hữu cơ với kim ngạch xuất khẩu hằng năm đạt khoảng 335 triệu USD (tăng gần 15 lần so với năm 2010), đứng thứ 8 trong 10 nước có diện tích nông nghiệp hữu cơ tại châu Á. Sau 10 năm, diện tích canh tác nông nghiệp hữu cơ của nước ta tăng trên 223.000 hecta. Sản phẩm hữu cơ được tiêu thụ trong nước và xuất khẩu đến các thị trường quốc tế lớn như Nhật Bản, Anh, Mỹ, Hàn Quốc... Trên cơ sở phân tích, đánh giá về các nguồn lực có liên quan, thực trạng phát triển sản phẩm nông nghiệp hữu cơ thời gian qua, tác giả áp dụng phương pháp SWOT xây dựng hệ thống ma trận để phân tích những cơ hội và thách thức trong phát triển ngành nông nghiệp hữu cơ. Mục tiêu lập ma trận phân tích SWOT là tìm cách kết hợp giữa các điểm mạnh và thách thức (S - T), giữa các điểm yếu và cơ hội (W - O) nhằm phát huy tốt nhất các điểm mạnh, khai thác các cơ hội, khắc phục các điểm yếu và đối phó tốt nhất với các thách thức trong phát triển ngành nông nghiệp hữu cơ. Kết quả phân tích SWOT và phương án kết hợp các yếu tố S - T và W - O được thể hiện qua bảng phân tích sau:

Cơ hội

Việc lạm dụng phân bón và hóa chất Bảo vệ thực vật đã và đang gây ra ô nhiễm môi trường và làm suy giảm chất lượng nông sản. Do vậy, phát triển nông nghiệp sinh thái bền vững là một xu thế tất yếu nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và giảm thiểu tác động tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng cũng như môi trường sống. Với Việt Nam, để chuyển thành công nền sản xuất tự cấp tự túc sang một nền sản xuất hàng hóa, định hướng xuất khẩu thì vấn đề an toàn thực phẩm cũng như nâng cao chất lượng, đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước và quốc tế sẽ ngày càng cấp thiết.
Cơ hội cho phát triển nông nghiệp hữu cơ còn phải kể đến nhu cầu trong nước và quốc tế tăng cao đối với những sản phẩm an toàn. Chính vì vậy, một số sản phẩm hữu cơ đã có chỗ đứng vững trên thị trường như rau sạch, chè hữu cơ, thịt sạch...

Tuy nhiên, có thể nói nông nghiệp hữu cơ vẫn còn chiếm một tỉ trọng rất nhỏ/không đáng kể trong tổng sản lượng nông nghiệp. Năm 2022, kim ngạch xuất khẩu nông sản của Việt Nam đạt 41,2 tỉ USD, nhiều ngành hàng đứng trong nhóm đầu của thế giới như gạo, cao su, cà phê, hồ tiêu, điều, chè.... Tuy nhiên, hầu hết nông sản chúng ta xuất khẩu ở dạng thô, chưa qua chế biến, chất lượng chưa cao, do vậy giá trị gia tăng rất thấp. Sắp tới, trong chiến lược phát triển nông nghiệp của Việt Nam, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, nâng cao hiệu quả sản xuất và tăng thu nhập của người dân là ưu tiên hàng đầu. Tuy nhiên, đang có xu hướng giảm diện tích gieo trồng lúa, giảm xuất khẩu gạo để gieo trồng nhiều hơn các giống lúa chất lượng, nâng cao ti lệ giống đặc sản, bản địa có chất lượng. Chúng ta không thể cứ xuất khẩu gạo với giá dưới 500 USD, trong khi nhiều thành phố lại nhập về gạo trên 1000USD. Và như vậy, cơ hội trở lại canh tác hữu cơ với một số giống lúa là hiện hữu.

Với điệu kiện tự nhiên và xã hội của Việt Nam, nông nghiệp hữu cơ có cơ hội cho ngành hàng rau, quả, chè núi cao, cây gia vị, cây làm thuốc, thủy sản theo phương thức nuôi sinh thái và một tỷ lệ nhất định với cà phê, hồ tiêu. Một yếu tố rất quan trọng là sự quan tâm của Nhà nước và người dân đã được nâng lên đối với nông nghiệp hữu cơ. Nhiều doanh nghiệp đã mạnh dạn đầu tư vào sản xuất, chế biến và xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp hữu cơ.

Thách thức

Năm 2022, nông nghiệp hữu cơ đã được các cơ quan báo chí và thông tin đại chúng luôn nói đến, điều này cho thấy nhiều người đã quan tâm đến sản phẩm hữu cơ và thị trường nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam bước đầu có tín hiệu tốt nhưng tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, số lượng thương nhân, các nhà bán lẻ ngày càng tăng và đang tìm kiếm sản phẩm hữu cơ tươi để cung cấp cho người tiêu dùng nội địa. Các sản phẩm hữu cơ xuất khẩu chính là chè hữu cơ (ecolink) và gạo (Vienphu), song thực tế sản phẩm hữu cơ chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường vì giá cao hơn 50 - 200% so với không hữu cơ. Vì việc mở rộng sản xuất nông nghiệp hữu cơ còn gặp nhiều thách thức, đó là:

- Hiện nay ở Việt Nam vẫn chưa có tổ chức nào cấp giấy chứng nhận cho sản phẩm hữu cơ. Các sản phẩm xuất khẩu được chứng nhận hữu cơ lại dựa vào tổ chức của nước ngoài như: IMO, JAS, Control Union, liên hiệp kiểm soát (SKAL), ICEA, ACT…

- Chính sách hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp hữu cơ vẫn chưa có, hầu hết chỉ hỗ trợ cho an toàn/GAP.
- Việc phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm hữu cơ ở các địa phương còn rất hạn chế, các tiêu chuẩn cơ bản cho sản xuất và chế biến hữu cơ vẫn chưa rõ ràng.

- Do không dùng hóa chất nên năng suất cây trồng hữu cơ thấp, sản phẩm hữu cơ nhỏ hình thức chưa đẹp..., năng suất thấp...

- Đời sống người Việt Nam còn thấp, do vậy việc sản xuất nông nghiệp hữu cơ cũng gặp nhiều khó khăn và thách thức lớn nhất vẫn là nâng cao nhận thức cho cả cộng đồng về giá trị của nông nghiệp hữu cơ.

Thuận lợi

- Nông nghiệp Việt Nam đã trải qua một thời gian dài với việc sản xuất tự cung tự cấp... nên người dân đã biết tận dụng những gì có sẵn ngoài tự nhiên như các loại cây trồng bản địa, độ phì nhiêu của đất, độ màu mỡ phù sa của sông Hồng, sông Mê Kông, suối, bùn ao, các chất hữu cơ dồi dào là các loại cây phân xanh, các loại tro bếp, phân chuồng trong chăn nuôi gia đình… để sản xuất ra các loại phân bón hữu cơ dùng trong nông nghiệp.

- Ngoài nguồn nguyên liệu để chế biến phân bón khá phong phú hiện diện trên mặt đất, Việt Nam còn có nhiều nguồn tài nguyên nằm dưới lòng đất, chứa hàm lượng các chất khoáng tự nhiên rất dồi dào, như apatit, photphorit, fenspat, mica và các khoáng chất có chứa nhiều nguyên tố vi lượng rất cần thiết cho cây trồng.

- Hiện nay, công nghệ sinh học đang được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp như các mô hình ứng dụng để chế biến các loại phân bón hữu cơ sinh học, phân hữu cơ vi sinh, các chế phẩm xử lý môi trường đất và hàng loạt các chế phẩm vi sinh dùng trong bảo vệ thực vật như nấm đối kháng Trichoderma, các loại vi nấm ký sinh côn trùng Beauveria, Metarhizium, Nomuraea, các hoạt chất sinh học vừa có tác dụng như là một chất dinh dưỡng, đồng thời còn là tác nhân sinh học trừ bệnh hại hiệu quả và thân thiện với môi trường như Chitosan,….

- Với kinh nghiệm lâu đời tích lũy được, cùng với nguồn tài nguyên khá dồi dào để chế biến các loại phân hữu cơ, thuốc sinh học… Việt Nam hoàn toàn có thể sản xuất được các sản phẩm nông nghiệp hữu cơ.

Khó khăn

Sản xuất hữu cơ có rất nhiều ưu điểm, tuy nhiên cũng tồn tại không ít khó khăn đó là:

- Trồng cây hữu cơ, người sản xuất chỉ được phép sử dụng phân bón hữu cơ, phòng trừ dịch hại bằng cách tiêu diệt thủ công hoặc thuốc sinh học…, nên mất nhiều công sức và khó thực hiện trên diện rộng.

- Với những cây trồng sản xuất hữu cơ, trước đây đã trồng cây lâu năm và đã sử dụng nhiều phân bón hóa học, thuốc hóa học bảo vệ thực vật… cây trồng mới để sản xuất hữu cơ thường sinh trưởng khó khăn vào những năm đầu, …

- Phân hữu cơ và các chế phẩm sinh học có tác dụng chậm hơn so với phân hóa học, và hóa chất bảo vệ thực vật nên nguồn dinh dưỡng, khoáng... cung cấp cho cây ở giai đoạn đầu là rất chậm và không đầy đủ. Sản xuất bằng biện pháp thủ công nên công sức lao động nhiều dẫn đến giá thành sản phẩm hữu cơ cao gấp 2 - 3 lần bình thường nên việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm hữu cơ gặp nhiều khó khăn vì người tiêu dùng không nhận biết được đâu là sản phẩm hữu cơ và đâu là sản phẩm thường....

Giải pháp phát triển nông nghiệp hữu cơ tại Việt Nam thời gian tới dựa trên SWOT

Có thể nói sản xuất nông nghiệp hữu cơ không còn là vấn đề kỹ thuật mà là vấn đề chính sách. Chính phủ và các bộ, ngành có liên quan đến nông nghiệp hữu cơ, cần sớm ban hành các chính sách cụ thể, khả thi để hỗ trợ nông nghiệp hữu cơ phát triển, Cụ thể:

Thứ nhất, cần xác định rõ sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững, thân thiện với môi trường, giảm sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, giảm ô nhiễm không khí, đất và nước, an toàn cho sức khỏe người sản xuất và người tiêu dùng là nhu cầu phát triển trên thế giới.

Thứ hai, cần quy hoạch, bảo vệ đất đai và nguồn nước hiện chưa hoặc ít bị ô nhiễm và còn thích hợp cho sản xuất nông nghiệp hữu cơ theo hướng hàng hóa.

Thứ ba, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ vốn sản xuất, ưu đãi cho các tổ chức, cá nhân tham gia sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp hữu cơ.

Thứ tư, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, qui chuẩn sản xuất, chế biến, chứng nhận chất lượng, thanh tra, giám sát liên quan đến nông nghiệp hữu cơ.

Thứ năm, thực hiện nhiều chương trình và có các chính sách giúp đỡ doanh nghiệp xây dựng thương hiệu, phát triển thị trường và quảng bá sản phẩm.

tapchicongthuong.vn

Bài liên quan

Bài 3: Nông nghiệp hữu cơ ở Nghệ An: Khi ý chí vượt khó khăn

Bài 3: Nông nghiệp hữu cơ ở Nghệ An: Khi ý chí vượt khó khăn

Mặc dù còn nhiều “điểm nghẽn” cần gỡ…nhưng việc phát triển nông nghiệp hữu cơ không còn là lựa chọn mang tính thử nghiệm, mà đã trở thành một giải pháp chiến lược nhằm xây dựng nền nông nghiệp tỉnh Nghệ An bền vững, an toàn và có giá trị gia tăng cao, đáp ứng xu hướng tiêu dùng xanh - sạch
Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam: Khơi dậy tiềm năng xanh từ chính sách

Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam: Khơi dậy tiềm năng xanh từ chính sách

Nông nghiệp hữu cơ đang dần trở thành xu hướng tất yếu trên thế giới và Việt Nam cũng không nằm ngoài dòng chảy này. Với những chính sách hỗ trợ mạnh mẽ từ Chính phủ, đặc biệt là Nghị định số 109/2018/NĐ-CP về Nông nghiệp hữu cơ và Quyết định số 885/QĐ-TTg, cùng với sự vào cuộc của các địa phương, nông nghiệp hữu cơ Việt Nam được kỳ vọng sẽ phát triển vượt bậc trong giai đoạn 2025-2030, góp phần xây dựng nền nông nghiệp xanh, bền vững và hiện đại.
Đồng Tháp: Thành công bước đầu trên hành trình nông nghiệp hữu cơ

Đồng Tháp: Thành công bước đầu trên hành trình nông nghiệp hữu cơ

Nông nghiệp hữu cơ đang mang lại lợi ích kinh tế và môi trường cho Đồng Tháp, thể hiện qua các mô hình sản xuất thành công và tiềm năng phát triển lâu dài.
Khánh Hòa: Hướng tới nông nghiệp hữu cơ, nâng tầm giá trị

Khánh Hòa: Hướng tới nông nghiệp hữu cơ, nâng tầm giá trị

Nông nghiệp hữu cơ đang trở thành hướng đi tất yếu tại tỉnh Khánh Hòa, đặc biệt ở các huyện miền núi, mang lại lợi ích về sức khỏe, môi trường và kinh tế, mở ra tương lai tươi sáng cho nông nghiệp.
Công nghệ Hàn Quốc đổ bộ vào thị trường thiết bị nông nghiệp Việt Nam

Công nghệ Hàn Quốc đổ bộ vào thị trường thiết bị nông nghiệp Việt Nam

Hàn Quốc đang đẩy mạnh xuất khẩu thiết bị nông nghiệp sang Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang chuyển đổi sang nông nghiệp hữu cơ.
Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam: Làn gió mới cho bữa ăn sạch

Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam: Làn gió mới cho bữa ăn sạch

Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ với gần 500.000 ha sản xuất, đáp ứng nhu cầu sản phẩm sạch.

CÁC TIN BÀI KHÁC

Công nghệ sinh học cải thiện chất lượng nguồn giống

Công nghệ sinh học cải thiện chất lượng nguồn giống

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp, ngành nông nghiệp đang đứng trước áp lực về đổi mới nguồn giống, gen thích ứng với điều kiện sinh thái mới. Để giải quyết bài toán này, UBND tỉnh Bắc Ninh vừa ban hành Đề án “Ứng dụng công nghệ sinh học xây dựng và phát triển ngành công nghiệp sinh học tỉnh Bắc Ninh đến năm 2030, định hướng đến năm 2045” với mục tiêu đưa nhanh những tiến bộ công nghệ sinh học vào cải thiện di truyền và nâng cao chất lượng giống.
Ruồi lính đen “chìa khóa vàng” mở cánh cửa cho nông nghiệp tuần hoàn, hữu cơ hiện đại

Ruồi lính đen “chìa khóa vàng” mở cánh cửa cho nông nghiệp tuần hoàn, hữu cơ hiện đại

Trong khi biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt trên phạm vi toàn cầu, tài nguyên thiên nhiên suy giảm và áp lực xử lý chất thải nông nghiệp - sinh hoạt ngày càng lớn, nông nghiệp truyền thống đang đứng trước yêu cầu phải chuyển đổi mạnh mẽ sang mô hình phát triển bền vững. Nông nghiệp tuần hoàn, hữu cơ vì thế trở thành xu hướng tất yếu, trong đó việc tận dụng phế phụ phẩm, tái tạo tài nguyên và giảm phát thải là những trụ cột quan trọng. Giữa bức tranh đó, ruồi lính đen (Black Soldier Fly - BSF) nổi lên như một giải pháp sinh học đột phá, được ví như “chìa khóa vàng” mở ra cánh cửa cho nông nghiệp tuần hoàn, hữu cơ hiện đại.
HTX tận dụng vỏ cà phê, biến phế phẩm thành giá trị kinh tế tuần hoàn

HTX tận dụng vỏ cà phê, biến phế phẩm thành giá trị kinh tế tuần hoàn

Nhiều HTX đang đẩy mạnh chế biến vỏ cà phê thành phân bón hữu cơ và sản phẩm giá trị gia tăng, giúp tiết kiệm chi phí sản xuất, giảm phát thải và hoàn thiện mô hình nông nghiệp xanh, tuần hoàn trong bối cảnh yêu cầu bền vững ngày càng cao.
Đồng Nai hợp tác với Nhật Bản phát triển dự án xử lý vỏ ca cao thành than sinh học

Đồng Nai hợp tác với Nhật Bản phát triển dự án xử lý vỏ ca cao thành than sinh học

Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đồng Nai vừa phối hợp với Công ty TNHH Ca cao Trọng Đức và Công ty Cổ phần Tromso (Nhật Bản) tổ chức Lễ ký kết hợp tác phát triển Dự án xử lý vỏ ca cao sản xuất than sinh học. Dự án hướng đến xây dựng mô hình nông nghiệp tuần hoàn, canh tác giảm phát thải và bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh.
Malaysia định hướng phát triển nền kinh tế sinh học

Malaysia định hướng phát triển nền kinh tế sinh học

Malaysia xác định 6 lĩnh vực then chốt tăng trưởng nhanh trong 5 năm tới của quốc gia này bao gồm: Protein thế hệ mới, nhân giống tái tạo, vật liệu bền vững, hóa chất sinh học, y học tái tạo và chẩn đoán chính xác.
Camelina sativa: Từ cây trồng chịu lạnh đến nguồn nguyên liệu nhựa sinh học

Camelina sativa: Từ cây trồng chịu lạnh đến nguồn nguyên liệu nhựa sinh học

Trong bối cảnh nhu cầu dầu thực vật, protein và vật liệu thân thiện môi trường ngày càng gia tăng, cây Camelina sativa – còn gọi là cây lanh giả – đang được giới khoa học và doanh nghiệp công nghệ sinh học kỳ vọng sẽ trở thành cây trồng chiến lược mới, không chỉ trong nông nghiệp mà còn trong ngành công nghiệp nhựa sinh học.
Hướng đi mới cho công nghiệp sinh học từ cây cỏ voi

Hướng đi mới cho công nghiệp sinh học từ cây cỏ voi

Cỏ voi (miscanthus giganteus) đang ngày càng thu hút sự quan tâm của giới công nghiệp Pháp. Với năng suất cao và đặc tính thân thiện môi trường, loại cây trồng lâu này chủ yếu được sử dụng trong nông nghiệp này đang dần trở thành nguồn nguyên liệu sinh học mới cho các ngành xây dựng, ô tô và bao bì.
Tận dụng phụ phẩm cây điều già chế biến than sinh khối

Tận dụng phụ phẩm cây điều già chế biến than sinh khối

Những phụ phẩm từ thân điều già lâu nay tưởng chừng bỏ đi, không đem lại mấy ích lợi cho nhà vườn, nay những thứ ấy lại được các chủ vựa săn đón, tìm mua để vận chuyển vào Đông Nam Bộ bán cho doanh nghiệp chế biến than sinh khối. Không ít chủ vườn cây trồng lâu năm ấy ở các xã Hàm Tân, Sơn Mỹ, Tân Minh có thêm khoản trang trải trước Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026.
Vai trò của phân vi sinh với nông nghiệp hữu cơ

Vai trò của phân vi sinh với nông nghiệp hữu cơ

Phân vi sinh và nông nghiệp xanh đang trở thành một trong những trụ cột quan trọng của quá trình chuyển đổi nông nghiệp theo hướng bền vững, thân thiện với môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Khi tài nguyên đất đai suy giảm, ô nhiễm môi trường gia tăng và yêu cầu ngày càng cao của thị trường đối với nông sản an toàn, phân vi sinh không chỉ là giải pháp kỹ thuật mà còn là lựa chọn chiến lược cho tương lai của nông nghiệp xanh.
Cám gạo lên men: Thành phần thức ăn giàu protein cho tôm sú

Cám gạo lên men: Thành phần thức ăn giàu protein cho tôm sú

Quá trình lên men làm tăng hàm lượng protein, giảm hàm lượng xơ, cải thiện chất lượng axit amin và nâng cao hệ số tiêu hóa của cám gạo.
Từ phế phẩm cà rốt đến ‘lời giải’ bền vững cho thị trường protein thay thế

Từ phế phẩm cà rốt đến ‘lời giải’ bền vững cho thị trường protein thay thế

Trước những thách thức chưa từng có do biến đổi khí hậu và sự gia tăng dân số, việc tìm kiếm các nguồn protein thay thế bền vững trở thành ưu tiên hàng đầu của các nhà khoa học nông nghiệp.
Hiệu quả từ việc sử dụng chế phẩm sinh học trong chăn nuôi gà ở Thái Nguyên

Hiệu quả từ việc sử dụng chế phẩm sinh học trong chăn nuôi gà ở Thái Nguyên

Thái Nguyên đang chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của các mô hình chăn nuôi tập trung quy mô lớn, kéo theo yêu cầu xử lý chất thải hiệu quả để bảo đảm môi trường.
XEM THÊM
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2025 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính