ki-niem-15-voaa
Chủ nhật 18/10/2026 14:59Chủ nhật 18/10/2026 14:59 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Tuyên Quang hiệu quả từ mô hình sản xuất chè hữu cơ

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Tuyên Quang có tổng diện tích chè gần 8.373 ha; cây chè được trồng tập trung tại các huyện Sơn Dương, Yên Sơn, Hàm Yên; vùng chè Shan tuyết tại huyện Na Hang, Lâm Bình với diện tích chè Shan tuyết hiện có trên 1.300 ha.

Đồng bào dân tộc dao đang thu hái chè Shan tuyếtTuyên Quang hiệu quả từ mô hình sản xuất chè hữu cơ

Đồng bào dân tộc Dao đang thu hái chè Shan tuyết.

Trong những năm qua tỉnh Tuyên Quang đã ban hành nhiều chính sách để thu hút đầu tư, chú trọng phát triển, nâng cao giá trị sản xuất cây chè bằng các giải pháp như: Thay thế các giống chè cũ cho năng suất, chất lượng thấp theo Nghị quyết số 02/2019/NQ-HĐND ngày 01/8/2019 của HĐND; đầu tư thâm canh, mở rộng sản xuất theo tiêu chuẩn, quy chuẩn; chuyển đổi công nghệ chế biến theo Nghị quyết 03/2021/NQ-HĐND ngày 16/7/2021 của HĐND tỉnh;… nhiều diện tích đạt từ 120 - 150 triệu đồng/ha/năm; nhiều Hợp tác 3 xã, hộ gia đình chế biến chè có sản phẩm đặc sản giá bán từ 800.000 - 1.500.000 đồng/kg như: Chè Shan tuyết Hồng Thái, chè Shan tuyết Sơn Trang, Chè Shan Kia Tăng, chè xanh Ngọc Thuý đinh, Chè xanh Ngọc Thuý, Chè xanh Tâm Trà,...

Hằng năm, cây chè mang lại giá trị cho các địa phương từ 700-720 tỷ đồng, góp phần tạo việc làm và thu nhập ổn định cho hàng vạn lao động trên địa bàn tỉnh. Đến nay đã có 30 sản phẩm chè được xếp hạng sản phẩm OCOP từ 3 - 4 sao (Có 09 sản phẩm xếp hạng 4 sao, 21 sản phẩm xếp hạng 3 sao), trong đó nhiều sản phẩm được người tiêu dùng ưa chuộng như: Chè Shan tuyết Hồng Thái, Chè xanh Ngọc Thuý đinh, Chè xanh Ngọc Thuý, Trà xanh hữu cơ Trung Long, Chè xanh Tâm Trà, Chè Shan Kia Tăng...

Năm 2021, Chè Shan tuyết Na Hang đã được Cục Sở hữu trí tuệ, Bộ Khoa học và Công nghệ cấp Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý tại Quyết định số 1167/QĐ-SHTT ngày 23/4/2021. Được công nhận sản phẩm hữu cơ và được bình chọn danh hiệu “Thương hiệu Vàng nông nghiệp Việt Nam”. Toàn tỉnh có 09 mã số vùng trồng chè (Gồm: 04 mã số của Công ty Cổ phần chè Mỹ Lâm, 03 mã số của Công ty Cổ phần chè Sông Lô, 01 mã số của Tổ hợp tác Hương chè Vĩnh Tân, 01 mã Hợp tác xã Sơn Trà, xã Hồng Thái) với diện tích 119 ha và 02 mã số cơ sở đóng gói chè (Gồm: 01 mã số của Công ty Cổ phần chè Mỹ Lâm, 01 mã số của Hợp tác xã Hương chè Vĩnh Tân) đủ điều kiện xuất khẩu sang thị trường EU. Sản phẩm chè của Tuyên Quang được tiêu thụ trong nước và xuất khẩu sang một số thị trường các nước khu vực EU, Trung Đông và Châu Á như: Hà Lan, Nga, Đức, Srilanka, Ấn Độ, Pakistan, Afghanistan, Mỹ, Trung Quốc...

Để có một sản phẩm chè ngon, an toàn và đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng trong nước cũng như xuất khẩu, tỉnh Tuyên Quang đã tập trung phát huy lợi thế về đất đai, khí hậu, nguồn nhân lực sẵn có của địa phương để phát triển cây chè theo hướng an toàn, bền vững và đa dạng hoá về chủng loại, phù hợp với từng tiểu vùng sinh thái. Để có sản phẩm chè có sức cạnh tranh cao trên thị trường thế giới, ngoài việc tăng cường quảng bá sản phẩm, các doanh nghiệp chế biên chè của tỉnh Tuyên Quang không ngừng cải tiến và đầu tư công nghệ chế biến hiện đại để nâng cao chất lượng, đa dạng mẫu mã sản phẩm, đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng.

Do có chính sách hỗ trợ của tỉnh và nỗ lực của chính quyền địa phương, đến nay diện tích chè được cấp Giấy chứng nhận sản xuất theo tiêu chuẩn Rainforest, VietGAP, Hữu cơ,... toàn tỉnh đạt 1.246,3 ha (Trong đó: 268,1 ha được chứng nhận tiêu chuẩn VietGAP; 63,4 ha được chứng nhận tiêu chuẩn hữu cơ; 379,5 ha của Công ty Cổ phần chè Mỹ lâm được chứng nhận tiêu chuẩn nông nghiệp bền vững Rainforest và tiêu chuẩn Halal; 535,2 ha của 02 Công ty Cổ phần chè: Sông Lô và Tân Trào được chứng nhận tiêu chuẩn nông nghiệp bền vững Rainforest) của hơn 140 tổ chức, cá nhân.

Để tìm hiểu về mô hình sản xuất chè theo tiêu chuẩn hữu cơ có hiệu quả trên địa bàn tỉnh hiện nay, chúng tôi đến thăm Hợp tác xã Sơn Trà, huyện Na Hang gặp bà con nông dân đang náo nức đi hái chè Shan Tuyết. Xã Hồng Thái được coi như Đà Lạt của tỉnh Lâm Đồng hay Sa Pa của tỉnh Lào Cai bởi cảnh sắc thơ mộng, khí hậu quanh năm mây mù bao phủ là những điều kiện lý tưởng cho cây chè phát triển, nhất là các giống chè có giá trị kinh tế cao như: chè Shan tuyết, Phúc Vân Tiên, Kim Tuyên, nằm ở độ cao từ 900-1400m tạo nên một vùng sinh thái đặc trưng là tiềm năng để phát triển cây chè gắn với quy hoạch xây dựng khu nghỉ mát, du lịch sinh thái. Hợp tác xã có tổng diện tích vùng nguyên liệu chè Shan là 71,5 ha, trong đó: có 29 ha chè cổ thụ hàng trăm năm tuổi, có 35 ha chè trồng trên 25 tuổi; 7,5 ha chè trồng mới năm 2023.

Hợp tác xã đã có 03 sản phẩm được cấp giấy chứng nhận OCOP (02 sản phẩm OCOP 4 sao, 01 sản phẩm OCOP 3 sao). Các sản phẩm đã được bán, phân phối ra thị trường trong nước như: Tuyên Quang, Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Thanh Hóa, TPHCM và một số tỉnh khác... Trong quá trình hoạt động Hợp tác xã đã đầu tư nghiên cứu thành công cho ra sản phẩm mới như “Lộc Trà” Được người tiêu dùng đánh giá cao, sản phẩm đã được UBND tỉnh công nhận SP đạt OCOP 4 sao. Giá bán chè dao động từ 300 nghìn đến 5 triệu đồng một kg. Hợp tác xã tạo công ăn việc làm cho 20 lao động địa phương. Trong đó: Lao động là thành viên Hợp tác xã: 08 người, lao động mùa vụ 12 người với mức lương 6 triệu đồng/tháng.

Ông Đặng Ngọc Phố- Giám đốc Hợp tác xã cho biết: Sản phẩm chè Shan tuyết của HTX Sơn Trà là “ba không”, cây chè Shan tuyết của xã Hồng Thái, huyện Na Hang được thiên nhiên ưu ái không có sâu bệnh, cây sinh trưởng tốt; không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật; không pha chế, ướp hương liệu và không bón phân vô cơ. Sản phẩm đã được Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam cấp giấy chứng nhận chè hữu cơ (Organic). Năm 2019, Hợp tác xã Sơn Trà rất vinh dự được Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc chọn sản phẩm chè Shan tuyết Hồng Thái, Na Hang làm quà tặng Thủ tướng Malaysia.

Với định hướng phát triển đúng đắn cùng chính sách hỗ trợ kịp thời của Nhà nước đã giúp Hợp tác xã Sơn Trà rất nhiều trong việc mở rộng nhà xưởng, nâng cao năng lực sản xuất và chất lượng sản phẩm, đáp ứng đủ các tiêu chí để cung cấp cho các đối tác trong và ngoài nước, mở rộng được diện tích vùng nguyên liệu và tạo thêm nhiều việc làm cho người dân bản địa, đóng góp một phần vào công cuộc xoá đói giảm nghèo, góp phần xây dựng nông thôn mới, chung tay bảo vệ môi trường xanh - sạch - đẹp.

Bài liên quan

Tuyên Quang: Hội Nông dân đồng hành cùng hội viên phát triển kinh tế

Tuyên Quang: Hội Nông dân đồng hành cùng hội viên phát triển kinh tế

Phát huy vai trò đồng hành, hỗ trợ hội viên, Hội Nông dân các cấp tỉnh Tuyên Quang đang tích cực chuyển giao khoa học kỹ thuật, hỗ trợ vốn, thúc đẩy liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản. Nhiều mô hình kinh tế hiệu quả, hợp tác xã (HTX), tổ hợp tác được hình thành, góp phần nâng cao thu nhập, giảm nghèo bền vững và thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn.
Lào Cai: Thúc đẩy ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, mở rộng mô hình sản xuất chè hữu cơ tại xã Hưng Khánh

Lào Cai: Thúc đẩy ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, mở rộng mô hình sản xuất chè hữu cơ tại xã Hưng Khánh

Nhằm đánh giá tiến độ và tháo gỡ khó khăn trong phát triển vùng nguyên liệu, đoàn công tác do đồng chí Giàng Quốc Hưng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai làm trưởng đoàn đã trực tiếp kiểm tra mô hình sản xuất chè hữu cơ tại xã Hưng Khánh, chỉ đạo đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và mở rộng quy mô liên kết chuỗi giá trị bền vững.
Mở hướng phát triển kinh tế từ mô hình nuôi cua đồng thương phẩm

Mở hướng phát triển kinh tế từ mô hình nuôi cua đồng thương phẩm

Nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng đất đai, mặt nước và đa dạng hóa các mô hình sản xuất nông nghiệp, xã Linh Hồ đang triển khai thí điểm mô hình nuôi cua đồng thương phẩm tại thôn Nặm Đăm. Mô hình bước đầu ghi nhận những tín hiệu tích cực, mở ra hướng phát triển sinh kế mới cho người dân địa phương.
Tuyên Quang: Đưa nông nghiệp công nghệ cao dẫn dắt tăng trưởng xanh

Tuyên Quang: Đưa nông nghiệp công nghệ cao dẫn dắt tăng trưởng xanh

Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng đang chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng xanh, tuần hoàn và số hóa, nông nghiệp công nghệ cao được xác định là nền tảng quan trọng, tạo động lực để Tuyên Quang phát triển kinh tế xanh theo hướng bền vững, nâng cao giá trị nông sản và sức cạnh tranh của địa phương.
Tạo sinh kế, nâng chất lượng cuộc sống từ nguồn lực các Chương trình mục tiêu quốc gia

Tạo sinh kế, nâng chất lượng cuộc sống từ nguồn lực các Chương trình mục tiêu quốc gia

Từ nguồn lực các Chương trình mục tiêu quốc gia, xã Thông Nguyên, tỉnh Tuyên Quang đang từng bước đầu tư hạ tầng, phát triển sinh kế, hỗ trợ nhà ở, đào tạo nghề và bảo tồn văn hóa. Qua đó, tạo thêm động lực để người dân vùng cao nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống và xây dựng nông thôn mới.
Tuyên Quang tăng cường quản lý đất đai, tài nguyên khoáng sản theo nguyên tắc “06 rõ”

Tuyên Quang tăng cường quản lý đất đai, tài nguyên khoáng sản theo nguyên tắc “06 rõ”

Chủ tịch UBND tỉnh Tuyên Quang đã chỉ đạo các sở, ngành, UBND xã, phường tăng cường vai trò, trách nhiệm trong quản lý nhà nước về đất đai, tài nguyên, khoáng sản; chủ động kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện, chấn chỉnh và xử lý các vi phạm, không để những tồn tại, sai phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn hoặc phát sinh phức tạp.

CÁC TIN BÀI KHÁC

Phát huy vai trò nông dân trong xây dựng nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại

Phát huy vai trò nông dân trong xây dựng nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại

Tại Lễ tôn vinh và trao danh hiệu Nông dân Việt Nam xuất sắc 40 năm Đổi mới năm 2026, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đề nghị đổi mới tư duy kinh tế nông nghiệp, dành nguồn lực hỗ trợ sản xuất và nâng cao chất lượng sống ở nông thôn. Bốn nhóm nhiệm vụ được đặt ra nhằm phát huy vai trò của nông dân trong giai đoạn phát triển mới.
Quy trình chứng nhận hữu cơ - Bài 2: Từ đăng ký đến duy trì chứng nhận

Quy trình chứng nhận hữu cơ - Bài 2: Từ đăng ký đến duy trì chứng nhận

Để được chứng nhận hữu cơ, doanh nghiệp phải chuẩn bị hồ sơ, chứng minh điều kiện sản xuất và trải qua quá trình chuyển đổi và được đánh giá toàn bộ hệ thống sản xuất theo tiêu chuẩn áp dụng. Việc hiểu rõ từng bước sẽ giúp cơ sở sản xuất chủ động về thời gian, chi phí và kế hoạch khắc phục những điểm chưa phù hợp.
Hợp tác nghiên cứu giảm phát thải mê-tan trong sản xuất lúa.

Hợp tác nghiên cứu giảm phát thải mê-tan trong sản xuất lúa.

ĐH Huế hợp tác với doanh nghiệp nghiên cứu giảm phát thải mê-tan trong sản xuất lúa, thúc đẩy nông nghiệp xanh và mở hướng phát triển dự án carbon bền vững...
Quy trình chứng nhận hữu cơ - Bài 1: Hiểu đúng tiêu chuẩn, lựa chọn đúng hệ thống

Quy trình chứng nhận hữu cơ - Bài 1: Hiểu đúng tiêu chuẩn, lựa chọn đúng hệ thống

Chứng nhận hữu cơ là căn cứ quan trọng để xác nhận sự phù hợp của quá trình sản xuất với tiêu chuẩn được áp dụng. Tuy nhiên, không phải sản phẩm sạch nào cũng là sản phẩm hữu cơ được chứng nhận. Hiểu đúng khái niệm, lựa chọn đúng tiêu chuẩn và nhu cầu thị trường là những việc doanh nghiệp cần làm trước khi triển khai.
Kết nối tri thức, hành động vì mục tiêu Net Zero năm 2050

Kết nối tri thức, hành động vì mục tiêu Net Zero năm 2050

Hội thảo COP26 kết nối cơ quan quản lý, đại học và sinh viên, thúc đẩy ứng phó biến đổi khí hậu, lan tỏa trách nhiệm cộng đồng, phát triển xanh và Net Zero 2050
Cà phê Sơn La: Nâng tầm Arabica từ canh tác sinh thái

Cà phê Sơn La: Nâng tầm Arabica từ canh tác sinh thái

Từ vùng nguyên liệu Arabica lớn nhất cả nước, Sơn La đang đặt ra yêu cầu phát triển cà phê gắn với bảo vệ hệ sinh thái, nâng chất lượng và gia tăng giá trị. Hội thảo ngày 11/10/2026 đã làm rõ những việc cần triển khai, từ giống, canh tác hữu cơ, chuyển đổi số đến chế biến sâu và liên kết thị trường.
Kết nối nghiên cứu ứng dụng cơ giới hóa thông minh và công nghệ xanh, nâng cao giá trị nông sản

Kết nối nghiên cứu ứng dụng cơ giới hóa thông minh và công nghệ xanh, nâng cao giá trị nông sản

ĐH Nông Lâm, ĐH Huế kết nối nghiên cứu ứng dụng, cơ giới hóa thông minh và công nghệ xanh, nâng cao giá trị nông sản, sử dụng hiệu quả tài nguyên...
Đưa khoa học nông nghiệp từ phòng thí nghiệm ra đồng ruộng

Đưa khoa học nông nghiệp từ phòng thí nghiệm ra đồng ruộng

Từ kết quả nghiên cứu đến ứng dụng trong sản xuất vẫn còn khoảng cách đáng kể. Thu hẹp khoảng cách ấy không chỉ đòi hỏi công nghệ tiên tiến, mà còn cần cơ chế phù hợp, sự tham gia của doanh nghiệp và người nông dân, cùng những giải pháp bảo đảm hiệu quả kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
Làm thế nào khơi thông nguồn lực để phát triển nông nghiệp?

Làm thế nào khơi thông nguồn lực để phát triển nông nghiệp?

Nông nghiệp Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn chuyển đổi quan trọng. Từ nền sản xuất dựa nhiều vào đất đai, lao động và kinh nghiệm truyền thống, ngành nông nghiệp đang từng bước chuyển sang mô hình dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, dữ liệu, liên kết chuỗi và kinh tế xanh. Trong quá trình đó, khơi thông và huy động hiệu quả các nguồn lực trở thành yếu tố quyết định để nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam.
Ứng dụng công nghệ số trong quản lý sản xuất nông nghiệp hữu cơ và giải pháp phát triển bền vững

Ứng dụng công nghệ số trong quản lý sản xuất nông nghiệp hữu cơ và giải pháp phát triển bền vững

Nông nghiệp hữu cơ đối mặt nhiều thách thức về chi phí giám sát, rủi ro dịch bệnh và tính minh bạch. Việc ứng dụng công nghệ số như IoT, AI, Blockchain, Big Data và UAV tạo ra bước ngoặt giúp tối ưu hóa quản lý, kiểm soát tiêu chuẩn nghiêm ngặt và công khai chuỗi giá trị. Bài viết phân tích thực trạng, hạ tầng công nghệ, tác động kinh tế - sinh thái, rào cản cốt lõi và đề xuất giải pháp phát triển bền vững.
Nước tưới hoạt hóa bằng khoáng chất và ánh sáng mặt trời giúp năng suất cây trồng tăng tới hơn 100%

Nước tưới hoạt hóa bằng khoáng chất và ánh sáng mặt trời giúp năng suất cây trồng tăng tới hơn 100%

Các thử nghiệm đồng ruộng quy mô lớn trải dài từ Hắc Long Giang đến Hải Nam cho thấy nước tưới được xử lý bằng khoáng chất tự nhiên hoạt hóa dưới ánh nắng có thể nâng năng suất lúa tới 40,6%, mía 45,7% và khoai lang 109,5%, theo nhóm nhà khoa học thuộc Đại học Bắc Kinh.
Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 3: Từ nhận thức đến hành động

Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 3: Từ nhận thức đến hành động

Chuyển đổi hệ thống lương thực – thực phẩm không thể thành công nếu chỉ trông chờ vào một chính sách, một ngành, một doanh nghiệp hay một nhóm người. Việt Nam đã có Kế hoạch hành động quốc gia theo Quyết định 300/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, nhưng trong quá trình thực hiện vẫn gặp những khó khăn về nguồn lực, hướng dẫn, dữ liệu và năng lực của các bên. Điều quan trọng lúc này là biến mục tiêu lớn thành những việc cụ thể, để Nhà nước, địa phương, người sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp, nhà khoa học, truyền thông và người tiêu dùng cùng tạo ra thay đổi. Chuyển đổi chỉ thực sự xảy ra khi mỗi mắt xích nhận rõ trách nhiệm và cùng hành động.
XEM THÊM
dam-ca-mau-chi-vi-hoa
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2026 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính