![]() |
| Việt Nam đã bán 1 triệu tấn tín chỉ carbon vùng Bắc Trung Bộ cho Ngân hàng thế giới |
“Tiền xanh” chưa dễ chạm tay
Theo một con số thống kế của Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), hiện nay Việt Nam có hơn 300 chương trình, dự án đã đăng ký theo tiêu chuẩn tín chỉ carbon, trong đó khoảng 150 dự án được cấp hơn 40 triệu tín chỉ và đã thực hiện giao dịch trên thị trường toàn cầu.
Con số này đưa Việt Nam trở thành một trong bốn nước có dự án theo cơ chế phát triển sạch (CDM) nhiều nhất, chỉ sau Trung Quốc, Brazil và Ấn Độ, tập trung chủ yếu vào năng lượng tái tạo và tiết kiệm năng lượng. Các dự án gần đây như trao đổi 10,3 triệu tấn CO₂ từ rừng Bắc Trung Bộ hay Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp ở Đồng bằng sông Cửu Long đều cho thấy triển vọng tích cực.
| TS Tăng Thế Cường – Cục trưởng Biến đổi khí hậu: "Phát triển thị trường carbon là xu thế không thể đảo ngược, vừa giúp chuyển đổi xanh, vừa thúc đẩy giảm phát thải khí nhà kính với chi phí thấp, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp. Thị trường carbon còn được kỳ vọng đóng góp quan trọng vào mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 mà Việt Nam cam kết tại COP26, đồng thời mở ra cơ hội thu hút đầu tư quốc tế vào năng lượng tái tạo và công nghệ xanh." |
Chúng ta cũng đã có những chính sách như Nghị định 06/2022/NĐ-CP và các thông tư hướng dẫn cập nhật năm 2024, 2025 để tạo ra “khung sườn” cho thị trường carbon. Ngoài ra, ngày 01/10/2021, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1658/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, nhìn 2050; Tại Phiên toàn thể Diễn đàn cấp cao và Triển lãm về Công nghiệp 4.0 năm 2023 vào ngày 14/6/2023, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã nhấn mạnh, Đảng, Nhà nước Việt Nam rất coi trọng, xem chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển bền vững là những nhiệm vụ trọng tâm trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Tuy nhiên trên thực tế triển khai vẫn vấp phải những “vùng xám”. Tức là, đang có những khoảng trống trong hành lang pháp lý về đẩy mạnh phát triển thị trường carbon. Vậy, tại sao một giải pháp được coi là “mỏ vàng” như tín chỉ carbon lại chưa thể bùng nổ như kỳ vọng?
Rào cản đầu tiên và lớn nhất chính là chi phí và kỹ thuật MRV (Đo đạc - Báo cáo - Thẩm định). Để một tấn carbon được công nhận và niêm yết, quy trình thẩm định bởi các tổ chức quốc tế như Gold Standard hay Verra có thể ngốn từ 30% đến 50% giá trị của chính tín chỉ đó. Với những nông hộ nhỏ lẻ, việc tự đứng ra làm hồ sơ carbon là điều gần như không thể.
Trong khi đó, thị trường carbon tự nguyện quốc tế năm 2025 chứng kiến những đợt thanh tra gắt gao về tình trạng “Greenwashing” – Tẩy xanh. Các dự án nông nghiệp không chứng minh được các thông số theo cơ chế CDM thì đều bị từ chối cấp tín chỉ. Điều này đòi hỏi nông nghiệp hữu cơ Việt Nam phải bước vào một giai đoạn chuyên nghiệp hóa cực cao về dữ liệu.
![]() |
| Ứng dụng thiết bị IOT trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ đạt được hiệu quả cao |
Chuyển đổi số là chìa khóa
Để tín chỉ carbon thực sự trở thành một trụ đỡ kinh tế cho nông nghiệp hữu cơ trong những năm tới, các chuyên gia đề xuất lộ trình 3 bướcđể “hiện thực hóa” giá trị carbon: Chuẩn hóa dữ liệu - Vận hành thị trường nội địa - Kết nối quốc tế. Đúng như định hướng của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính: Nông nghiệp phải số hóa!
Năm 2025 cho thấy, nơi nào có dữ liệu số, nơi đó carbon trở thành tiền. Và lộ trình thực tế nhất để đưa tín chỉ carbon ra khỏi “bánh vẽ” chính là số hóa toàn bộ nhật ký canh tác. Thay vì những cuốn sổ tay ghi chép bằng cảm tính, các trang trại hữu cơ tiên phong tại Hà Tĩnh hay Đồng bằng Sông Cửu Long đã bắt đầu áp dụng Blockchain trong truy xuất nguồn gốc carbon. Mỗi hoạt động từ bón phân hữu cơ, quản lý nước tưới đến thu gom phụ phẩm đều được mã hóa và không thể sửa xóa.
Để giảm chi phí MRV khi tham gia vào “cuộc chơi lớn” này, các hợp tác xã nhỏ lẻ có thể liên kết gom diện tích với nhau. Tức là, các địa phương cần tạo ra, phát triển mô hình hợp tác xã liên kết. Chẳng hạn, một hộ nông dân chỉ có 1-2 ha đất không bao giờ đủ điều kiện bán carbon. Nhưng 1.000 hộ nông dân liên kết trong một liên minh hợp tác xã với quy mô 2.000 ha lại là một câu chuyện khác.
Và các doanh nghiệp hoặc hợp tác xã lớn đóng vai trò là đầu mối. Họ đầu tư công nghệ đo lường, làm hồ sơ pháp lý, chịu chi phí thẩm định và đứng ra giao dịch trên sàn. Nông dân đóng góp bằng việc tuân thủ nghiêm ngặt quy trình hữu cơ và chia sẻ lợi nhuận theo tỷ lệ đã cam kết.
Tại Hà Tĩnh, một số mô hình liên kết giữa doanh nghiệp và người trồng trà hữu cơ năm 2025 đã cho thấy hiệu quả: Doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm với giá cao hơn 15%, đồng thời chi trả thêm 5% lợi nhuận từ việc bán tín chỉ carbon sau khi trừ chi phí vận hành. Đây chính là mô hình “đa giá trị” bền vững mà chúng ta đang hướng tới.
![]() |
| Mô hình liên kết trồng chè tại xã Kỳ Văn, Tỉnh Hà Tĩnh |
Thực tế cho thấy, tín chỉ carbon sẽ là “mỏ vàng” nếu chúng ta nhìn nhận nó như một sản phẩm hàng hóa cao cấp, đòi hỏi số liệu minh bạch tuyệt đối và có tính liên kết.
Lời khẳng định của Thủ tướng về một thế hệ “nông dân văn minh” chính là chìa khóa. Người nông dân văn minh của tương lai không chỉ biết cầm cuốc, mà còn biết bảo vệ từng gram carbon trong đất như bảo vệ tài sản trong ngân hàng. Khi mỗi mét vuông đất hữu cơ trở thành một đơn vị lưu giữ carbon được số hóa, khi đó nông nghiệp Việt Nam không chỉ bán sản phẩm sạch, mà còn bán cả sự sống và niềm tin cho toàn cầu.
Thành thử, hành trình xây dựng, phát triển nền nông nghiệp hữu cơ không có chỗ cho những người làm ăn chộp giật. Đó là lộ trình của sự kiên trì, sự đầu tư bài bản cho công nghệ và trên hết là cái bắt tay thật chặt giữa “Nhà nước - Doanh nghiệp - Nông dân” trên con đường xanh hóa tương lai.