Thứ năm 16/04/2026 10:45Thứ năm 16/04/2026 10:45 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Phát triển nông nghiệp hữu cơ: tiềm năng lớn, nhưng không dễ dàng!

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Nhu cầu đối với sản phẩm hữu cơ của thế giới đang tăng lên và sẽ tiếp tục gia tăng trong thời gian sắp tới. Thế nhưng, để mở rộng khai
Tiềm năng khai thác dòng sản phẩm hữu cơ còn lớn, nhưng không phải là câu chuyện dễ. Ảnh minh hoạ: Trung Chánh

Thị trường “mênh mông”, nhưng thách thức cũng tràn đầy…

Tại diễn đàn trực tuyến với chủ đề kết nối, tiêu thụ sản phẩm hữu cơ và sản phẩm chế biến được tổ chức gần đây, ông Nguyễn Minh Tiến, Giám đốc Trung tâm xúc tiến thương mại nông nghiệp thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đánh giá, sau nhiều năm triển nghị định nông nghiệp hữu cơ (nghị định 109/2018/NĐ-CP ngày 29-8-2018- PV), thì việc phát triển phân khúc sản phẩm này ở trong nước vẫn còn hạn chế.

Cụ thể, đến thời điểm hiện nay, cả nước có khoảng 174.000 héc ta diện tích sản xuất nông nghiệp hữu cơ, chiếm một diện tích khá khiếm tốn so với tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp của cả nước là trên 11,7 triệu héc ta và càng nhỏ bé hơn khi so sánh với 74 triệu héc ta diện tích đất sản xuất nông nghiệp hữu cơ của toàn thế giới.

Việt Nam hiện có khoảng 555 cơ sở sản xuất các loại sản phẩm hữu cơ, nhưng chủ yếu là ở quy mô hộ gia đình, trong khi chỉ có khoảng 55-60 doanh nghiệp, tập đoàn tham gia xuất khẩu các sản phẩm như: gạo, gia vị và một số loại hạt, với quy mô kim ngạch xuất khẩu khiêm tốn, chỉ khoảng 335 triệu đô la Mỹ.

Khi nhìn riêng với ngành lúa gạo, loại sản phẩm mà Việt Nam là 1 trong 3 quốc gia có lượng xuất khẩu lớn nhất thế giới, nhưng trong quí đầu năm 2023, số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan cho thấy, lượng xuất khẩu gạo hữu cơ, gạo lứt và gạo huyết rồng chỉ đạt 8.925 tấn với trị giá chỉ trên 4,5 triệu đô la Mỹ.

Trong khi đó, khi nhìn bức tranh tổng thể thị trường sản phẩm nông nghiệp hữu cơ thế giới, ông Tiến cho biết, hơn 20 năm qua đã có sự biến động rất nhanh. “Nếu như những năm 2000 quy mô thị trường thế giới đạt trên dưới 20 tỉ đô la Mỹ, thì đến năm 2010, đã tăng gấp 3 lần, tức đạt khoảng 60 tỉ đô la Mỹ. Đặc biệt, trong 2 năm bị Covid-19 là 2020-2021, thị trường đã tăng vọt đến con số khoảng 218 tỉ đô la Mỹ”, ông dẫn chứng và dự báo đạt 300 tỉ đô la Mỹ vào năm 2030.

Thị trường thế giới quan tâm nhiều hơn đến sản phẩm hữu cơ, nhưng theo ông Tiến, 90% tập trung ở các nước phát triển, đặc biệt là ở Mỹ và châu Âu, trong khi các khu vực khác người tiêu dùng cũng bắt đầu nhận thức, hiểu được giá trị tiêu dùng sản phẩm hữu cơ, đó là vừa góp phần bảo vệ sức khoẻ, vừa bảo vệ môi trường và hệ sinh thái bền vững.

Từ sự tương quan nêu trên, ông Tiến đánh giá, tiềm năng và dư địa cho Việt Nam là rất lớn, đặc biệt khi nhu cầu tiêu dùng thế giới tập trung nhiều vào nhóm các sản phẩm rau củ quả, gia vị và các loại hạt- vốn là những nhóm sản phẩm Việt Nam có lợi thế. “Khi đối chiếu với thực trạng thế giới, chúng ta nằm ở đâu và dư địa thị trường thế nào, rõ ràng cho thấy còn một thị trường “mênh mông” để chúng ta tiếp tục khai thác”, ông nói.

Tuy nhiên, việc phát triển để đưa sản phẩm hữu cơ ra thị trường, kể cả thị trường trong nước lẫn thế giới không phải là chuyện đơn giản.

Ông Phạm Minh Đức, Phó chủ tịch Hiệp hội nông nghiệp hữu cơ Việt Nam (cũng là một đơn vị xuất khẩu trà hữu cơ đi châu Âu) cho biết, giai đoạn 2000-2010, sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam bị “mang tiếng” nhiều hoá chất, cho nên, dù trà của đơn vị này đã đạt chứng nhận hữu cơ trong những năm 2006-2008, nhưng vẫn khó tiếp cận được khách hàng. “Tôi giới thiệu sản phẩm đã có chứng nhận hữu cơ, thì khách hàng bắt đầu tin, nhưng lần nào mua họ cũng phải xét nghiệm. Đấy là những rào cản khi chúng tôi bắt đầu khởi sự làm chứng nhận”, ông Đức nhớ lại.

Theo ông, đến thời điểm hiện tại, ngoại trừ khách hàng đã làm ăn lâu năm, thì với khách hàng mới, họ đều đưa sản phẩm vào phòng xét nghiệm để kiểm tra xem có đạt hay không. “Hàng năm chúng tôi tốn rất nhiều chi phí về xét nghiệm để có được thị trường”, ông nói và cho rằng, qua khoảng 16 năm phát triển, thì hiện đơn vị này cũng có những đối tác nhất định ở thị trường châu Âu.

Tuy nhiên, ông Đức cho biết, để mở rộng trồng được số lượng lớn vẫn còn rất khó khăn vì chủ yếu làm ở vùng sâu vùng xa, tức vùng sản xuất đã sạch. “Chúng tôi đã từng thất bại ở dự án tại Thái Nguyên, bởi sản xuất trà rất ngon, nhưng xét nghiệm dư lượng cực kỳ khó khăn (ý nói không đạt yêu cầu- PV)”, ông dẫn chứng.

Ông Lê Mưa, Giám đốc Hợp tác xã sản xuất lúa hữu cơ Trí Lực- đơn vị tham gia mô hình nông nghiệp hữu cơ từ năm 2019- cho biết, khó khăn lớn nhất mà đơn vị này gặp phải, đó là thiếu đối tác bao tiêu đầu ra sản phẩm. “Hợp tác xã cũng muốn mở rộng sản xuất vì tiềm năng (mở rộng diện tích) là có, trong khi người nông dân cũng đã có kinh nghiệm thực hiện. Thế nhưng, khâu tiêu thụ sản phẩm của mình lại thiếu”, ông cho biết.

Theo ông Mưa, diện tích sản xuất lúa hữu cơ có chứng nhận theo tiêu chuẩn châu Âu (Tổ chức Control Union chứng nhận- PV) của đơn vị này mấy năm qua cũng chỉ duy trì ở mức 100 héc ta vì doanh nghiệp đứng ra bao tiêu, tổ chức chứng nhận chỉ với quy mô như vậy. “Có công ty bao tiêu và đứng ra chứng nhận, thì mình mới dám làm”, ông nói và giải thích, hợp tác xã không thể đủ nguồn lực để tự chứng nhận hàng năm với chi phí 6 triệu đồng/héc ta.

Bắt đầu từ chinh phục niềm tin của người tiêu dùng trong nước

Để mở rộng diện tích sản xuất sản phẩm hữu cơ, theo ông Mưa, đứng ở góc độ sản xuất, đơn vị này hoàn toàn có thể đáp ứng được yêu cầu về mặt tiêu chuẩn, chất lượng sản phẩm, nhưng với điều phải có doanh nghiệp đứng ra chịu chi phí chứng nhận và bao tiêu sản phẩm cho người nông dân. “Triển vọng mở rộng là khả thi, nhưng phải có doanh nghiệp vào gắn kết với hợp tác xã”, ông nói.

Theo ông Mưa, nghị định 109 về phát triển nông nghiệp hữu cơ có chính sách ưu đãi miễn phí chứng nhận, được xem là cơ chế chính sách tốt để hỗ trợ phát triển lĩnh vực này. Thế nhưng, 50 héc ta diện tích đạt chứng nhận hữu cơ Việt Nam (được miễn phí chứng nhận) của đơn vị này lại không đáp ứng được yêu cầu như tiêu chuẩn của châu Âu. “Do đó, sản phẩm cũng chỉ có thể tiêu thụ giống như các loại sản phẩm thông thường khác”, ông nói.

Ông Đức của Hiệp hội nông nghiệp hữu cơ Việt Nam cho rằng, đơn vị này đã từng xây dựng thương để xuất khẩu vào châu Âu với “tên tuổi” riêng, nhưng rất khó khăn. “Vì vậy, tôi đề xuất và hy vọng, với những doanh nghiệp như chúng tôi, tức đã xuất khẩu, có sản phẩm hữu cơ rồi, thì có thể xây dựng thương hiệu ở thị trường trong nước để kết nối với các doanh nghiệp bán lẻ”, ông gợi ý.

Ông Tiến của Trung tâm xúc tiến thương mại nông nghiệp thì cho rằng, sản phẩm hữu cơ không thể kinh doanh, phân phối như sản phẩm nông nghiệp thông thường, mà cần có kênh chuyên biệt khi tiếp cận với người tiêu dùng.

Trong khi đó, với người tiêu dùng, ông Tiến gợi ý, cần phải làm tốt hơn nữa việc thông tin, truyền thông để họ hiểu được giá trị sản phẩm hữu cơ mang lại không chỉ tốt cho sức khoẻ, mà còn là trách nhiệm của người tiêu dùng đối với vấn đề bảo vệ môi trường, hệ sinh thái.

Đặc biệt, cần lấy được lòng tin của người tiêu dùng, bởi hiện nay quy mô thị trường trong nước chỉ khoảng 50-60 triệu đô la Mỹ, nhưng để lấy được lòng tin của họ với sản phẩm hữu cơ, kể cả với sản phẩm nông nghiệp có chứng nhận như: chỉ VietGAP (thực hành sản xuất nông nghiệp tốt theo tiêu chuẩn Việt Nam hay GlobalGAP (thực hành sản xuất nông nghiệp tốt theo tiêu chuẩn toàn cầu) là vấn đề nan giải.

Thực tế, thời gian qua, một số nhà phân phối, kinh doanh đã không đáp ứng được, thậm chí đã có sự gian dối về chất lượng sản phẩm, dẫn đến “đứt gãy” chuỗi cung ứng, khiến “lung lay” niềm tin của người tiêu dùng đối với sản phẩm hữu cơ, sản phẩm an toàn. “Chúng ta phải đưa ra giải pháp, phải đưa ra hệ thống phân phối và có đánh giá nghiêm túc, thì mới từng bước mở rộng được thị trường hữu cơ trong nước”, ông Tiến nhấn mạnh và gợi ý, phải làm sao hệ thống kênh phân phối chuyên biệt thật sự đảm bảo được người tiêu dùng sử dụng đúng là sản phẩm hữu cơ.

Theo ông Tiến, thị trường tiêu dùng sản phẩm hữu cơ trên thế giới cũng không giống như sản phẩm thông thường, tức phải được tập trung vào kênh chuyên biệt, hệ thống online để làm sao người tiêu dùng có thể trực tiếp cảm nhận, hiệu rõ được nguồn gốc xuất xứ và câu chuyện đằng sau mỗi sản phẩm hữu cơ. “Đấy là vấn đề đặt ra trong hệ thông kênh phân phối, vấn đề truyền thông để người tiêu dùng thật sự tự hào và cảm nhận qua việc sử dụng sản phẩm hữu cơ là đã góp phần làm cho môi trường, hệ sinh thái bền vững hơn”, ông nhấn mạnh.

Đứng ở góc độ địa phương, ông Lê Quốc Điền, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đồng Tháp cho biết, để thu hút doanh nghiệp tham gia phát triển sản phẩm hữu cơ, ngay trong vụ hè thu này, tỉnh Đồng Tháp đã chủ động cho thí điểm sản xuất lúa hữu cơ với điện tích 100 héc ta. “Định hướng đến năm 2025, chúng tôi sẽ có trên 20.000 héc ta diện tích sản xuất lúa hữu cơ, chiếm khoảng 1% diện tích đất nông nghiệp của tỉnh”, ông Điền cho biết.

thesaigontimes.vn

Bài liên quan

Bài 3: Nông nghiệp hữu cơ ở Nghệ An: Khi ý chí vượt khó khăn

Bài 3: Nông nghiệp hữu cơ ở Nghệ An: Khi ý chí vượt khó khăn

Mặc dù còn nhiều “điểm nghẽn” cần gỡ…nhưng việc phát triển nông nghiệp hữu cơ không còn là lựa chọn mang tính thử nghiệm, mà đã trở thành một giải pháp chiến lược nhằm xây dựng nền nông nghiệp tỉnh Nghệ An bền vững, an toàn và có giá trị gia tăng cao, đáp ứng xu hướng tiêu dùng xanh - sạch
Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam: Khơi dậy tiềm năng xanh từ chính sách

Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam: Khơi dậy tiềm năng xanh từ chính sách

Nông nghiệp hữu cơ đang dần trở thành xu hướng tất yếu trên thế giới và Việt Nam cũng không nằm ngoài dòng chảy này. Với những chính sách hỗ trợ mạnh mẽ từ Chính phủ, đặc biệt là Nghị định số 109/2018/NĐ-CP về Nông nghiệp hữu cơ và Quyết định số 885/QĐ-TTg, cùng với sự vào cuộc của các địa phương, nông nghiệp hữu cơ Việt Nam được kỳ vọng sẽ phát triển vượt bậc trong giai đoạn 2025-2030, góp phần xây dựng nền nông nghiệp xanh, bền vững và hiện đại.
Đồng Tháp: Thành công bước đầu trên hành trình nông nghiệp hữu cơ

Đồng Tháp: Thành công bước đầu trên hành trình nông nghiệp hữu cơ

Nông nghiệp hữu cơ đang mang lại lợi ích kinh tế và môi trường cho Đồng Tháp, thể hiện qua các mô hình sản xuất thành công và tiềm năng phát triển lâu dài.
Khánh Hòa: Hướng tới nông nghiệp hữu cơ, nâng tầm giá trị

Khánh Hòa: Hướng tới nông nghiệp hữu cơ, nâng tầm giá trị

Nông nghiệp hữu cơ đang trở thành hướng đi tất yếu tại tỉnh Khánh Hòa, đặc biệt ở các huyện miền núi, mang lại lợi ích về sức khỏe, môi trường và kinh tế, mở ra tương lai tươi sáng cho nông nghiệp.
Công nghệ Hàn Quốc đổ bộ vào thị trường thiết bị nông nghiệp Việt Nam

Công nghệ Hàn Quốc đổ bộ vào thị trường thiết bị nông nghiệp Việt Nam

Hàn Quốc đang đẩy mạnh xuất khẩu thiết bị nông nghiệp sang Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang chuyển đổi sang nông nghiệp hữu cơ.
Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam: Làn gió mới cho bữa ăn sạch

Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam: Làn gió mới cho bữa ăn sạch

Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ với gần 500.000 ha sản xuất, đáp ứng nhu cầu sản phẩm sạch.

CÁC TIN BÀI KHÁC

Triển khai thực hiện Chiến lược Sở hữu trí tuệ đến năm 2030: Động lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển

Triển khai thực hiện Chiến lược Sở hữu trí tuệ đến năm 2030: Động lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển

Trong bối cảnh kinh tế tri thức và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang phát triển mạnh mẽ, sở hữu trí tuệ (SHTT) ngày càng trở thành nguồn lực quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Giải pháp tạo nguồn thực phẩm sạch cho phát triển du lịch

Giải pháp tạo nguồn thực phẩm sạch cho phát triển du lịch

Hiện nay, ẩm thực ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên bản sắc của du lịch Việt Nam. Không chỉ dừng lại ở việc thưởng thức món ăn, du khách ngày nay quan tâm nhiều hơn đến nguồn gốc nguyên liệu, quy trình sản xuất và mức độ an toàn của thực phẩm. Do đó cần nhìn nhận rõ vai trò, đánh giá đúng thực trạng nguồn cung thực phẩm sạch để có những giải pháp phát triển phù hợp.
Thuyết di truyền Mendel - Nền tảng của di truyền học hiện đại

Thuyết di truyền Mendel - Nền tảng của di truyền học hiện đại

Thuyết di truyền của Gregor Mendel được xem là nền tảng của di truyền học hiện đại, mở ra một cách hiểu hoàn toàn mới về cách các đặc điểm sinh học được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Dù được công bố từ giữa thế kỷ XIX, những phát hiện của Mendel vẫn giữ nguyên giá trị khoa học và được ứng dụng rộng rãi trong nông nghiệp, y học và công nghệ sinh học ngày nay.
Du lịch xanh cần “chuẩn hóa” thực phẩm sạch

Du lịch xanh cần “chuẩn hóa” thực phẩm sạch

Du lịch xanh không thể chỉ được đo bằng cảnh quan trong lành, vật liệu thân thiện với môi trường hay những khẩu hiệu giảm phát thải. Với du khách, “màu xanh” của một điểm đến còn nằm ngay trong bữa ăn hằng ngày - thực phẩm có an toàn hay không, có minh bạch nguồn gốc hay không, có được kiểm soát xuyên suốt từ vùng nguyên liệu đến bàn ăn hay không. Khi khái niệm “thực phẩm sạch” vẫn còn được hiểu theo nhiều cách khác nhau, việc chuẩn hóa từ tiêu chuẩn, chứng nhận đến truy xuất và hậu kiểm đang trở thành yêu cầu cấp thiết để du lịch xanh phát triển đúng nghĩa và bền vững.
Đảm bảo an toàn thực phẩm mùa lễ hội: Đồng bộ nhiều giải pháp

Đảm bảo an toàn thực phẩm mùa lễ hội: Đồng bộ nhiều giải pháp

Mùa lễ hội đầu năm luôn là thời điểm sôi động của đời sống văn hóa - xã hội tại Việt Nam. Từ các lễ hội truyền thống ở làng quê đến những sự kiện văn hóa, du lịch quy mô lớn, hàng triệu người dân và du khách cùng tham gia, kéo theo nhu cầu tiêu dùng thực phẩm tăng mạnh. Tuy nhiên, bên cạnh không khí vui tươi và giá trị văn hóa đặc sắc, vấn đề an toàn thực phẩm trong mùa lễ hội luôn là mối lo thường trực của xã hội. Trong bối cảnh lượng thực phẩm tiêu thụ lớn, hoạt động kinh doanh mang tính thời vụ và điều kiện kiểm soát còn nhiều hạn chế, nguy cơ mất an toàn thực phẩm có thể gia tăng nếu không có những giải pháp quản lý và nâng cao nhận thức kịp thời.
Lúa mì (tiểu mạch) - Nền tảng của văn minh nông nghiệp nhân loại

Lúa mì (tiểu mạch) - Nền tảng của văn minh nông nghiệp nhân loại

Lúa mì, hay còn gọi là tiểu mạch, có tên khoa học là Triticum spp., là một trong những cây lương thực quan trọng nhất của nhân loại. Cùng với lúa gạo và ngô, lúa mì tạo thành “bộ ba” cây trồng nuôi sống phần lớn dân số thế giới. Không chỉ là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu, lúa mì còn gắn liền với lịch sử phát triển của các nền văn minh cổ đại và hiện đại.
Chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi, hướng tới phát triển nông nghiệp bền vững

Chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi, hướng tới phát triển nông nghiệp bền vững

Sáng 07/4, UBND xã Yên Phú, tỉnh Tuyên Quang tổ chức Hội nghị tọa đàm định hướng chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi, hướng tới phát triển nông nghiệp bền vững năm 2026. Tọa đàm không chỉ là dịp để địa phương xác định hướng đi mới cho sản xuất nông nghiệp, mà còn làm rõ thực trạng sản xuất nông, lâm nghiệp, chăn nuôi, thủy sản, chỉ ra những khó khăn, hạn chế và gợi mở các giải pháp phát huy tiềm năng, lợi thế địa phương trong giai đoạn tới.
Ngô, khoai, sắn - “bệ đỡ” thầm lặng của an ninh lương thực Việt Nam

Ngô, khoai, sắn - “bệ đỡ” thầm lặng của an ninh lương thực Việt Nam

Ngô, khoai và sắn là ba loại cây trồng quen thuộc, gắn bó lâu đời với sản xuất nông nghiệp và đời sống người dân Việt Nam. Không chỉ đóng vai trò là nguồn lương thực bổ sung, chúng còn góp phần quan trọng vào đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu, gia tăng dân số và những biến động khó lường của thị trường toàn cầu.
Nghị quyết mới của Chính phủ mở hướng phát triển nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn

Nghị quyết mới của Chính phủ mở hướng phát triển nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn

Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 85/NQ-CP ngày 4/4/2026 về Chương trình hành động thực hiện Kết luận số 219-KL/TW, tiếp tục triển khai Nghị quyết số 19-NQ/TW khóa XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Đáng chú ý, nghị quyết tiếp tục nhấn mạnh định hướng phát triển nông nghiệp sinh thái, khuyến khích nông nghiệp xanh, hữu cơ, tuần hoàn, gắn với nâng cao giá trị gia tăng, bảo vệ môi trường và cải thiện đời sống người dân nông thôn.
Mô hình trồng rau thủy canh (Hydroponics) - Hướng đi hiệu quả của nông nghiệp công nghệ cao

Mô hình trồng rau thủy canh (Hydroponics) - Hướng đi hiệu quả của nông nghiệp công nghệ cao

Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh, quỹ đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp và nhu cầu về thực phẩm an toàn ngày càng gia tăng, các mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao đang trở thành xu hướng tất yếu. Trong số đó, mô hình trồng rau thủy canh (Hydroponics) được xem là giải pháp tiên tiến, giúp nâng cao năng suất, chất lượng nông sản và sử dụng hiệu quả tài nguyên.
Mạt gà - kẻ thù giấu mặt của nhà nông

Mạt gà - kẻ thù giấu mặt của nhà nông

Trong chăn nuôi gia cầm, người nông dân thường quan tâm đến dịch bệnh lớn như cúm gia cầm, Newcastle hay tụ huyết trùng. Tuy nhiên, có một “kẻ thù” nhỏ bé nhưng vô cùng nguy hiểm, âm thầm gây thiệt hại kéo dài mà không phải ai cũng nhận ra kịp thời - đó chính là mạt gà.
Nghệ An đặt “tam nông” vào vị trí chiến lược lâu dài trong tiến trình phát triển

Nghệ An đặt “tam nông” vào vị trí chiến lược lâu dài trong tiến trình phát triển

Chương trình hành động số 12-CTr/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Nghệ An xác định 7 nhóm nhiệm vụ trọng tâm; đặt nông nghiệp, nông dân và nông thôn vào vị trí chiến lược lâu dài trong tiến trình phát triển. “Tam nông” không chỉ là “bệ đỡ” an sinh mà còn là nền tảng đảm bảo kinh tế vĩ mô và tăng trưởng bền vững.
XEM THÊM
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2025 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính