ki-niem-15-voaa
Thứ hai 20/07/2026 12:58Thứ hai 20/07/2026 12:58 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Phát triển nguồn nhân lực cho nông nghiệp hữu cơ

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Đào tạo, tập huấn phát triển nguồn nhân lực là một trong các nhiệm vụ của Đề án phát triển NNHC giai đoạn 2020-2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 885/QĐ-TTg ngày 23/6/2020, với mục tiêu là trang bị, cập nhật kiến thức, thông tin và các kỹ năng cơ bản về sản xuất nông nghiệp hữu cơ, phục vụ công tác quản lý, tập huấn về NNHC.
Phát triển nguồn nhân lực cho nông nghiệp hữu cơ

TS. Nguyễn Thị Ngọc Dinh hướng dẫn đề tài khóa luận tốt nghiệp về sản xuất nông nghiệp hữu cơ của sinh viên Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam.

Tại Việt Nam, xu hướng sản xuất nông nghiệp hữu cơ (NNHC) đang được doanh nghiệp, người sản xuất và người tiêu dùng quan tâm trong bối cảnh yêu cầu về an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường ngày càng tăng. Đặc biệt, sản phẩm hữu cơ của ngành trồng trọt như rau, quả… đang tạo động lực mạnh mẽ cho nhiều doanh nghiệp và người sản xuất nhờ có thị trường rộng lớn, giá trị cao. Tuy nhiên, diện tích đất sản xuất nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam chỉ đạt 174.580 ha chiếm 1,4% tổng diện tích đất canh tác năm 2023, tốc độ tăng trưởng diện tích đạt 143.338 ha so với năm 2022, tốc độ tăng diện tích đất sản xuất nông nghiệp trong vòng 10 năm của Việt Nam là 131.573 ha (FiBL và IFOAM, 2025).

Năm 2023, số cơ sở sản xuất hữu cơ tại Việt Nam là 62.436 và 187 cơ sở chế biến hữu cơ, sản lượng sản phẩm hữu cơ xuất khẩu của Việt Nam vào Mỹ và Châu Âu là 14.408 triệu tấn (FiBL và IFOAM, 2025). Vì thế, có thể thấy rằng các chính sách của chính phủ Việt Nam cũng như các cơ sở sản xuất nông nghiệp rất quan tâm đến việc phát triển nông nghiệp hữu cơ không chỉ phục vụ nhu cầu trong nước mà còn phục vụ xuất khẩu đặc biệt vào các thị trường lớn như Mỹ và Châu Âu.

Để phục vụ cho việc phát triển sản xuất NNHC tại Việt Nam, trong những năm gần đây, chính phủ đã ban hành tiêu chuẩn sản xuất nông nghiệp hữu cơ TCVN 11041: 2017, 2023, nghị định 109/2018/NĐ-CP (ngày 29/8/2018) về NNHC, trong đó quy định những chính sách khuyến khích phát triển NNHC: (1) ưu tiên kinh phí nghiên cứu khoa học, khuyến nông để thực hiện đề tài nghiên cứu, dự án khuyến nông đặc biệt về giống kháng sâu bệnh, phân bón hữu cơ, thuốc bảo vệ thực vật sinh học, thuốc thú y thảo mộc; (2) cơ sở sản xuất, kinh doanh sản phẩm hữu cơ, hoặc vật tư đầu vào phục vụ sản xuất hữu cơ được ưu tiên hưởng các chính sách khuyến khích đầu tư; (3) hỗ trợ 100% kinh phí về xác định vùng đất đủ tiêu chuẩn và chi phí cấp lần đầu (hoặc cấp lại) Giấy chứng nhận sản phẩm đủ tiêu chuẩn hữu cơ cùng nhiều cơ chế chính sách khác về hỗ trợ đào tạo, tập huấn sản xuất, chi phí giống kháng sâu bệnh, sử dụng phân bón hữu cơ…

Phát triển nguồn nhân lực cho nông nghiệp hữu cơ
Sinh viên Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam nghiên cứu đề tài khóa luận tốt nghiệp về sản xuất nông nghiệp hữu cơ tại xã Vân Sơn, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình.

Ngày 26/03/2020 Chính phủ ban hành quyết định số 885/QĐ-TTg về việc Phê duyệt Đề án phát triển NNHC giai đoạn 2020 - 2030 của Chính phủ là định hướng chỉ đạo, tạo hành lang pháp lý rất thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp hữu cơ. Theo Đề án phát triển NNHC 885 đến năm 2025, Việt Nam sẽ có 1,5-2% tổng diện tích đất nông nghiệp sản xuất hữu cơ trong đó trồng trọt hữu cơ chiếm khoảng 1-2% tổng diện tích đất trồng trọt với các loại cây trồng chủ lực như lúa, rau, đậu…, trong đó vùng rau hữu cơ có diện tích gieo trồng khoảng 10.000-12.000ha; đến năm 2030, diện tích đất sản xuất hữu cơ khoảng 2,5% - 3% tổng diện tích đất nông nghiệp, trong đó trồng trọt hữu cơ chiếm khoảng 2% tổng diện tích đất trồng trọt, trong đó vùng rau hữu cơ có diện tích gieo trồng khoảng 20.000-25.000ha. Từ đề án 885 này, các tỉnh đều cụ thể hoá và có chiến lược để phát triển NNHC tại địa phương trong đó có phát triển các vùng trồng rau hữu cơ chính vụ, rau hữu cơ trái vụ để tạo ra sản phẩm an toàn, chất lượng cao, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Tính đến thời điểm hiện tại, tổng diện tích sản xuất hữu cơ của Việt Nam đã đạt 1,4% tổng diện tích đất canh tác. Để đạt được mục tiêu đến năm 2030 theo đề án 885, Việt Nam vẫn cần tiếp tục duy trì các cơ sở sản xuất hữu cơ hiện tại và tiếp tục phát triển mở rộng diện tích sản xuất hữu cơ trong phạm vi cả nước.

Theo khái niệm được quy định trong Nghị định Nông nghiệp hữu cơ của Chính phủ số 109/2018/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2018: Nông nghiệp hữu cơ là hệ thống sản xuất bảo vệ tài nguyên đất, hệ sinh thái và sức khỏe con người, dựa vào các chu trình sinh thái, đa dạng sinh học thích ứng với Điều kiện tự nhiên, không sử dụng các yếu tố gây tác động tiêu cực đến môi trường sinh thái; là sự kết hợp kỹ thuật truyền thống và tiến bộ khoa học để làm lợi cho môi trường chung, tạo mối quan hệ công bằng và cuộc sống cân bằng cho mọi đối tượng trong hệ sinh thái. Vì thế cần có những giải pháp đồng bộ để phát triển NNHC ở Việt Nam, trong đó phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho nông nghiệp hữu cơ là rất cần thiết. Nguồn nhân lực cho NNHC không những yêu cầu kiến thức, kỹ năng trong canh tác hữu cơ mà còn phải biết quản lý chuỗi cung ứng và tiêu thụ sản phẩm hữu cơ vì sản phẩm hữu cơ là sản phẩm cao cấp, đặc thù sẽ có những đối tượng khách hàng riêng.

Đào tạo, tập huấn phát triển nguồn nhân lực là một trong các nhiệm vụ của Đề án phát triển NNHC giai đoạn 2020-2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 885/QĐ-TTg ngày 23/6/2020, với mục tiêu là trang bị, cập nhật kiến thức, thông tin và các kỹ năng cơ bản về sản xuất nông nghiệp hữu cơ, phục vụ công tác quản lý, tập huấn về NNHC. Mặc dù, Việt Nam có lực lượng lao động đông đảo (tính hết quý IV năm 2024 là 53,2 triệu người) nhưng hiện nay chỉ một phần nhỏ làm việc trong lĩnh vực NNHC. Chất lượng lao động làm việc trong lĩnh vực NNHC chưa đáp ứng được nhu cầu do thiếu kiến thức và kỹ thuật. Đa phần nông dân chưa được đào tạo bài bản về canh tác hữu cơ, vẫn quen với phương thức sản xuất truyền thống; Ít chuyên gia và nhà nghiên cứu: Số lượng chuyên gia có chuyên môn sâu về nông nghiệp hữu cơ còn ít, gây khó khăn trong việc hướng dẫn và đào tạo nông dân; Thiếu nhân lực quản lý và kinh doanh: Việc xây dựng thương hiệu, tiếp cận thị trường và phát triển chuỗi cung ứng sản phẩm hữu cơ chưa được chú trọng đúng mức do thiếu nhân lực có chuyên môn. Hiện nay chưa có hệ thống đào tạo chuyên sâu về NNHC tại các trường đại học, cao đẳng nông nghiệp; Các nghiên cứu về NNHC chưa được ứng dụng rộng rãi, gây khó khăn trong việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực; Thiếu liên kết giữa đào tạo và thực tiễn vì đào tạo chủ yếu mang tính lý thuyết, chưa có nhiều mô hình thực hành hiệu quả cho nông dân và doanh nghiệp. Tỷ lệ lao động trẻ tham gia vào sản xuất hữu cơ còn ít, thiếu các chính sách thu hút lực lượng lao động trẻ tham gia vào sản xuất hữu cơ.

Phát triển nguồn nhân lực cho nông nghiệp hữu cơ

Tuy nhiên, một số mô hình phát triển nhân lực cho sản xuất hữu cơ như: Học viện Nông nghiệp Việt Nam đưa môn học NNHC, rèn nghề sản xuất NNHC vào chương trình giảng dạy cho sinh viên khoa Nông học từ năm 2014; Nhiều trường đại học khác về Nông nghiệp cũng đưa môn học về NNHC vào trong chương trình giảng dạy cho sinh viên ngành Nông nghiệp; Nhiều doanh nghiệp như Vinamilk, TH True Milk đang đầu tư mạnh vào đào tạo nội bộ cho người lao động về quy trình sản xuất hữu cơ; Các hợp tác xã, doanh nghiệp cũng tổ chức các khóa tập huấn về NNHC; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) ban hành tại Quyết định số 1510/QĐ-BNN-TCCB ngày 26/4/2022 về việc Ban hành bộ Chương trình bồi dưỡng về NNHC cho cán bộ quản lý các cấp, người sản xuất và người làm công tác tập huấn (ToT), trên cơ sở đó các tỉnh đã có các chương trình tập huấn về NNHC và bám sát nội dung này.

Để nâng cao nguồn nhân lực chất lượng cao cho sản xuất NNHC cần áp dụng các giải pháp tổng thể nhằm đào tạo, thu hút và nâng cao năng lực cho lực lượng lao động trong ngành như:

Thứ nhất là: Mở rộng hệ thống đào tạo về NNHC: Đưa NNHC vào chương trình giáo dục, tích hợp kiến thức về nông nghiệp hữu cơ vào chương trình giảng dạy của các trường đại học, cao đẳng và trung cấp nông nghiệp; Xây dựng các Bộ môn, chuyên ngành sâu về NNHC tại các trường đào tạo về nông nghiệp; Hợp tác với các tổ chức quốc tế để cập nhật chương trình đào tạo theo tiêu chuẩn quốc tế; Đào tạo thực tiễn cho nông dân và doanh nghiệp như mở các lớp tập huấn, hướng dẫn thực hành về sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm hữu cơ; Xây dựng các mô hình thực nghiệm tại địa phương để nông dân có thể học hỏi trực tiếp; Khuyến khích các doanh nghiệp NNHC đào tạo nội bộ cho nhân viên và liên kết đào tạo với các trường đại học, viện nghiên cứu.

Thứ hai là: Phát triển đội ngũ chuyên gia, cán bộ kỹ thuật và tư vấn về NNHC như: Đào tạo chuyên gia đầu ngành về NNHC bằng cách cử cán bộ, giảng viên đi học tập và nghiên cứu tại các nước có nền NNHC phát triển như Nhật Bản, Đức, Mỹ, Úc,…; Khuyến khích nghiên cứu khoa học về NNHC, tạo điều kiện để các chuyên gia thực hiện các dự án nghiên cứu và ứng dụng thực tế; Xây dựng đội ngũ tư vấn viên kỹ thuật tại các địa phương để hướng dẫn nông dân áp dụng các quy trình sản xuất hữu cơ; Liên kết với các hợp tác xã, doanh nghiệp để triển khai các chương trình hỗ trợ kỹ thuật tại chỗ.

Thứ ba là: Ứng dụng công nghệ và chuyển giao khoa học kỹ thuật về sản xuất hữu cơ như: Đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất phân bón, thuốc bảo vệ thực vật hữu cơ, sinh học; Phổ biến các kỹ thuật canh tác tiên tiến giúp nâng cao năng suất và giảm chi phí sản xuất; Xây dựng các khóa học trực tuyến (E-learning) về NNHC, giúp lao động tiếp cận dễ dàng hơn; Tận dụng mạng xã hội và các nền tảng số để chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm.

Thứ tư là: Chính sách thu hút và hỗ trợ nguồn nhân lực như cung cấp học bổng và hỗ trợ tài chính cho sinh viên theo học các ngành liên quan đến NNHC; Hỗ trợ vay vốn ưu đãi cho nông dân và doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực này; Xây dựng chính sách đãi ngộ tốt hơn để thu hút lao động trẻ tham gia sản xuất NNHC; Khuyến khích thành lập các hợp tác xã NNHC để tạo việc làm ổn định cho lao động địa phương; Hỗ trợ doanh nghiệp phát triển sản phẩm hữu cơ, mở rộng thị trường tiêu thụ.

Thứ năm là: Tăng cường hợp tác quốc tế và học hỏi kinh nghiệm như: Mở rộng hợp tác với các tổ chức quốc tế như IFOAM (Liên đoàn quốc tế các phong trào nông nghiệp hữu cơ), FAO (Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc); Học tập các mô hình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực từ các nước có nền NNHC phát triển; Khuyến khích trao đổi chuyên gia, nghiên cứu sinh giữa Việt Nam và các nước tiên tiến trong lĩnh vực NNHC.

Bài liên quan

Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng: 50 năm đào tạo nhân lực phụng sự cộng đồng xã hội

Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng: 50 năm đào tạo nhân lực phụng sự cộng đồng xã hội

Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng long trọng tổ chức lễ kỷ niệm 50 năm xây dựng và phát triển (1975-2025), tái khẳng định mục tiêu trở thành cơ sở đào tạo uy tín quốc tế, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm phụng sự cộng đồng xã hội.

CÁC TIN BÀI KHÁC

Từ nông nghiệp truyền thống sang nông nghiệp tuần hoàn: Thực trạng, thách thức và giải pháp

Từ nông nghiệp truyền thống sang nông nghiệp tuần hoàn: Thực trạng, thách thức và giải pháp

Nông nghiệp tuần hoàn đang được xem là hướng đi tất yếu nhằm hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững và tăng trưởng xanh. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi từ nông nghiệp truyền thống sang nông nghiệp tuần hoàn ở Việt Nam vẫn đối mặt với nhiều thách thức về nhận thức, công nghệ, nguồn vốn và liên kết thị trường. Việc hoàn thiện chính sách, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực của người sản xuất là những giải pháp quan trọng để xây dựng nền nông nghiệp hiệu quả, thân thiện với môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Bèo hoa dâu: Giải pháp sinh học giúp tăng năng suất lúa và giảm phát thải khí nhà kính

Bèo hoa dâu: Giải pháp sinh học giúp tăng năng suất lúa và giảm phát thải khí nhà kính

Bèo hoa dâu (Azolla) là giải pháp sinh học giúp cố định đạm, cải tạo đất, tăng năng suất cây trồng và giảm phát thải khí nhà kính, mở ra hướng phát triển nông nghiệp bền vững.
Đầu tư hạ tầng nông nghiệp công nghệ cao: Cơ hội từ chính sách mới

Đầu tư hạ tầng nông nghiệp công nghệ cao: Cơ hội từ chính sách mới

Trong hành trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng nông nghiệp theo hướng xanh, bền vững và số hóa, đầu tư hạ tầng nông nghiệp công nghệ cao (NNCNC) được xác định là trụ cột chiến lược nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam.
Xanh hoá các vùng du lịch trọng điểm, nâng tầm thương hiệu du lịch Việt

Xanh hoá các vùng du lịch trọng điểm, nâng tầm thương hiệu du lịch Việt

Du lịch xanh đang trở thành xu hướng phát triển tất yếu tại các vùng du lịch trọng điểm của Việt Nam. Việc khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn bản sắc văn hóa, giảm thiểu tác động đến môi trường và nâng cao trách nhiệm của cộng đồng góp phần xây dựng ngành du lịch bền vững, nâng cao sức hấp dẫn của điểm đến.
Truy xuất nguồn gốc nông sản: "Tấm hộ chiếu số" đưa nông sản Việt vươn ra thị trường toàn cầu

Truy xuất nguồn gốc nông sản: "Tấm hộ chiếu số" đưa nông sản Việt vươn ra thị trường toàn cầu

Trong khi thương mại nông sản toàn cầu bước sang giai đoạn cạnh tranh bằng chất lượng, tính minh bạch và phát triển bền vững, truy xuất nguồn gốc không còn là một lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu bắt buộc đối với nhiều mặt hàng xuất khẩu. Nếu trước đây, người tiêu dùng chủ yếu quan tâm đến giá cả và hình thức sản phẩm thì ngày nay, họ muốn biết rõ nông sản được trồng ở đâu, ai sản xuất, quy trình canh tác như thế nào, có đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm, môi trường và trách nhiệm xã hội hay không.
Quan hệ tương hỗ giữa số hoá và kinh tế xanh trong phát triển bền vững

Quan hệ tương hỗ giữa số hoá và kinh tế xanh trong phát triển bền vững

Số hoá và kinh tế xanh có mối quan hệ tương hỗ chặt chẽ trong phát triển bền vững. Công nghệ số giúp tối ưu sử dụng tài nguyên, giảm phát thải và nâng cao hiệu quả quản lý, trong khi kinh tế xanh tạo động lực cho đổi mới công nghệ sạch, thúc đẩy mô hình sản xuất, tiêu dùng thân thiện với môi trường và tăng trưởng dài hạn.
Giảm phát thải và loại bỏ khí nhà kính - Đột phá chiến lược để đạt được mục tiêu Net Zero

Giảm phát thải và loại bỏ khí nhà kính - Đột phá chiến lược để đạt được mục tiêu Net Zero

Biến đổi khí hậu ngày càng nghiêm trọng, giảm phát thải khí nhà kính đã trở thành nhiệm vụ cấp bách của toàn cầu. Nhiều quốc gia đã đưa ra cam kết đạt mức phát thải ròng bằng “0” (Net Zero) vào giữa thế kỷ XXI nhằm hạn chế mức tăng nhiệt độ trái đất.
Đánh giá hiệu quả kinh tế và môi trường của mô hình sản xuất rau hữu cơ tại tỉnh Tuyên Quang

Đánh giá hiệu quả kinh tế và môi trường của mô hình sản xuất rau hữu cơ tại tỉnh Tuyên Quang

Nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế và môi trường của mô hình sản xuất rau hữu cơ tại tỉnh Tuyên Quang cho thấy, dù chi phí lao động cao hơn sản xuất truyền thống, mô hình vẫn mang lại lợi nhuận vượt trội, đồng thời giảm ô nhiễm môi trường, cải thiện độ phì nhiêu đất và góp phần thúc đẩy nền nông nghiệp phát triển bền vững.
Phát động bình chọn các điển hình tiên tiến phát triển nông nghiệp hữu cơ Việt Nam năm 2026

Phát động bình chọn các điển hình tiên tiến phát triển nông nghiệp hữu cơ Việt Nam năm 2026

Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam (VOAA) vừa có Công văn đề nghị Ủy ban nhân dân, Sở Nông nghiệp và Môi trường các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phối hợp giới thiệu, đề cử các tập thể, cá nhân tiêu biểu tham gia Chương trình “Lễ tôn vinh điển hình tiên tiến phát triển nông nghiệp hữu cơ Việt Nam lần thứ III – 2026”.
Nuôi trùn quế dưới điện mặt trời: Lợi ích “kép” trên một diện tích

Nuôi trùn quế dưới điện mặt trời: Lợi ích “kép” trên một diện tích

Tận dụng phần diện tích bên dưới các tấm pin để nuôi trùn quế đang mở ra hướng kết hợp giữa sản xuất năng lượng tái tạo và nông nghiệp hữu cơ tuần hoàn. Tuy nhiên, để mô hình phát huy hiệu quả, chủ đầu tư phải giải quyết đồng thời các yêu cầu về kỹ thuật nuôi, an toàn điện, môi trường, đất đai và đầu ra sản phẩm.
Lợi ích của thị trường carbon đối với Việt Nam

Lợi ích của thị trường carbon đối với Việt Nam

Biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp, việc cắt giảm phát thải khí nhà kính đã trở thành ưu tiên hàng đầu của nhiều quốc gia. Tuy nhiên, giảm phát thải không chỉ là vấn đề môi trường mà còn liên quan mật thiết đến tăng trưởng kinh tế, năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững.
Hội Nông dân xã Chân Mây - Lăng Cô biến phụ phẩm thành tài nguyên

Hội Nông dân xã Chân Mây - Lăng Cô biến phụ phẩm thành tài nguyên

Sáng 30/6, Hội Nông dân xã Chân Mây - Lăng Cô đã tổ chức Lễ ra mắt Tổ hội nghề nghiệp “Sản xuất phân bón hữu cơ từ bã tràm”, xây dựng nền nông nghiệp xanh...
XEM THÊM
dam-ca-mau-chi-vi-hoa
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2026 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính