Thứ tư 15/04/2026 04:22Thứ tư 15/04/2026 04:22 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Hiện trạng phát triển nông nghiệp hữu cơ ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Trong khuôn khổ đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học phục vụ khoanh vùng khu vực trồng trọt hữu cơ theo đặc trưng tài nguyên và môi trường tại vùng Trung du và miền núi Bắc bộ”, Mã số: TNMT.885.04” do PGS.TS Nguyễn Thế Chinh làm chủ nhiệm đã bước đầu đánh giá hiện trạng phát triển nông nghiệp hữu cơ (NNHC) ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc (TD&MNPB).

TD&MNPB được xem là vùng có nhiều tiềm năng, lợi thế cho phát triển NNHC trong cả nước dựa trên sự phòng phú về tài nguyên đất, nước, khí hậu, các chính sách hỗ trợ trong phát triển NNHC của Vùng của Đảng và Nhà nước. Các cấp lãnh đạo tại các địa phương luôn ủng hộ mạnh mẽ các nỗ lực phát triển một nền nông nghiệp bền vững và thân thiện môi trường, nâng cao năng suất và sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp hữu cơ; người dân trong Vùng ngày càng có nhiều kinh nghiệm, nhiệt tình, có nhận thức và mong muốn chuyển đổi sang sản xuất NNHC để đáp ứng nhu cầu được tiếp cận với thực phẩm sạch và an toàn. Tuy nhiên, hiện nay phát triển NNHC vùng TD&MNPB còn gặp phải một số khó khăn, rào cản nhất đinhh liên quan đến nguồn vốn đầu tư hạn chế; quy trình sản xuất nghiên ngặt; quy mô sản xuất theo vùng; chất lượng sản phẩm; tiếp cận thị trường tiêu thụ; phân bón;… Bài viết này tập trung phân tích các hiện trạng phát triển NNHC vùng TD&MNPB làm nổi bật lên những thuận lợi, kết quả đạt được,những khó khăn, rào cản và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển NNHC vùng TD&MNPB theo hướng bền vững, phù hợp với chủ trường, đường lối của Đảng và Nhà nước. Cụ thể:

Đối với Hiện trạng chính sách phát triển NNHC

Chủ trương, định hướng của Đảng về phát triển NNHC đã được khẳng định trong “Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2021-2030” của Ban chấp hành trung ương Đảng tại đại hội đại biểu lần thứ XIII, cụ thể “Đẩy mạnh cơ cấu lại nông nghiệp, khai thác và phát huy lợi thế nền nông nghiệp nhiệt đới, phát triển nông nghiệp hàng hóa tập trung quy mô lớn theo hướng hiện đại, vùng chuyên canh hàng hóa chất lượng cao. Phát triển mạnh nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sinh thái, đạt tiêu chuẩn phổ biến về an toàn thực phẩm”. Như vậy chủ trương, định hướng của Đảng đã chỉ rõ “phát triển mạnh nông nghiệp hữu cơ” là nội dung quan trong nhằm cơ cấu lại nông nghiệp, phát huy thế mạnh của nền nông nghiệp nhiệt đới ở Việt Nam hướng đến các sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam đạt tiêu chuẩn phổ biến và an toàn thực phẩm. Đối với vùng TD&MNPB, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 10/02/2022 về “Phương hướng phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh vùng Trung du miền núi Bắc bộ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” trong đó đáng chú ý định hướng cho vùng đến năm 2045 phải “là vùng phát triển xanh, bền vững và toàn diện”

Từ năm 2018 Chính phủ đã triển khai phát triển nông nghiệp hữu cơ theo Nghị định số 109/2018/NĐ-CP về NNHC ngày 29/8/2018 có hiệu lực thi hành từ 15/10/2018 của Thủ tướng Chính phủ, tuy nhiên việc triển khai vẫn còn chậm. Ngày 23/6/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 885/QĐ-TTg Đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2020 – 2030 giao cụ thể cho các Bộ, ngành. Thực tế việc triển khai phát triển nông nghiệp hữu cơ bên cạnh những cơ hội như: phù hợp xu hướng thế giới; sự chỉ đạo của Đảng và nhà nước; nhu cầu của người tiêu dùng; điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên (TNTN) Việt Nam, chúng ta cũng sẽ gặp nhiều thách thức như: nhận thức về NNHC; cơ chế chính sách chưa hoàn thiện; xác lập khoanh định vùng NNHC; cạnh tranh sản phẩm không phải hữu cơ; khoa học kỹ thuật trong sản xuất NNHC. Từ cơ hội và thách thức, cần có những giải pháp phù hợp như: triển khai tốt đề án 885/QĐ-TTg và Nghị định 109/2018 của Chính phủ; hoàn thiện cơ chế chính sách; tăng cường truyền thông; tạo lập thị trường sản phẩm NNHC; Đặc biệt cần phải xác định hai nhóm bộ tiêu chí: thứ nhất, các tiêu chí về tài nguyên như đất, nước và khí hậu; thứ hai, các tiêu chí về môi trường như ô nhiễm đất, ô nhiễm nước và ô nhiễm không khí. Trên cơ sở đó khoanh vùng phù hợp cho phát triển nông nghiệp hữu cơ trên các vùng đã được khoanh định để đầu tư hiệu quả.

Đối với vùng TD&MNPB trên cơ sở Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 10/02/2022, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 96/NQ-CP ngày 01/8/2022 về “thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 10 tháng 02 năm 2022 của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế – xã hội và bảo đàm quốc phòng, an ninh vùng Trung du và miền núi Bắc bộ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”, nội dung chủ đạo của Nghị quyết này là “đến năm 2030, vùng TD&MNPB là vùng phát triển xanh, bền vững và toàn diện trên cơ sở đầu tư kết cấu hạ tầng liên kết nội vùng và với vùng đồng bằng sông Hồng, Thủ đô Hà Nội; phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo và năng lượng, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, hữu cơ, đặc sản”. Như vậy đối với TD&MNPB, Chính phủ có một Nghị quyết riêng khẳng định phát triển NNHC là một trong những nội dung cơ bản để thực hiện phát triển xanh, bền vững.

Qua tổng hợp và đánh giá kết quả phiếu điều tra. Hiện nay 100% cán bộ thuộc 14 tỉnh vùng TD&MNPB trả lời tỉnh có áp dụng các chính sách phát triển NNHC bao gồm các Nghị quyết, các Đề án, Chương trình, Kế hoạch riêng rẽ hoặc lồng nghép trong các chương trình, chính sách của tỉnh trên cơ sở hệ thống chính sách của Trung ương. Dưới đây là bảng tổng hợp của nhóm nghiên cứu từ quá trình thu thập tài liệu tại 14 tỉnh vùng TD&MNPB liên quan đến hệ thống văn bản chính sách được ban hành.

Đối với Hiện trạng phát triển NNHC của vùng

Diện tích cho 5 nhóm cây trồng nông nghiệp hữu cơ ở vùng TD&MNPB bao gồm: lúa hữu cơ, rau hữu cơ, cây ăn quả hữu cơ, cây dược liệu hữu cơ và cây công nghiệp lâu năm chưa nhiều, về cơ cấu cây trồng nông nghiệp hữu cơ còn có sự chênh lệch lớn, trong đó chủ yếu là phát triển cây công nghiệp lâu năm, đây cũng là thế mạnh của vùng này gắn với phát triển diện tích rừng của vùng. Nhóm cây rau và gia vị có diện tích và tỷ lệ phát triển thấp nhất phù hợp với đặc điểm tự nhiên của vùng. Kết quả điều tra tham vấn tại các tỉnh cho thấy nguyên nhân chính vẫn là thị trường tiêu thụ sản phẩm, thực tế chỉ có hai tỉnh có điều kiện phát triển nhóm cây rau, gia vị tốt đó là Bắc Giang và huyện Lương Sơn của Hòa Bình có vị trí gần với thị trường tiêu thụ đó là Thủ đô Hà Nội. Một số loại sản phẩm là thế mạnh của vùng như cây công nghiệp lâu năm cũng mới phát triển ở dạng nhỏ lẻ, hoặc để lấy thương hiệu. Để có chứng nhận là sản phẩm nông nghiệp hữu cơ doanh nghiệp phải sử dụng các cơ quan chứng nhận nước ngoài cho loại sản phẩm hữu cơ của mình. Chẳng hạn như sản phẩm chè hữu cơ sản xuất ở Thái Nguyên hay Lai Châu là những ví dụ điển hình. Kết quả tham vấn và điều tra tại 14 tỉnh vùng TD&MNPB cũng cho thấy sự cần thiết phải có bộ tiêu chí cho sản xuất nông nghiệp hữu cơ các nhóm cây trồng để có cơ sở khoanh vùng sản xuất nông nghiệp cây trồng phù hợp đối với vùng TD&MNPB.

Đối với nguồn phân bón hữu cơ: Hiện nay nguồn phân bón sử dụng trong canh tác hữu cơ, thuốc bảo vệ thực vật sinh học trong Vùng ngày càng đa dạng, đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu sử dụng của người dân. Nguồn nguyên liệu chế biến phân bón như cây phân xanh, phân hữu cơ khá phong phú. Một số khu vực sản xuất còn rất hoang sơ, canh tác chủ yếu là quảng canh nên đất và nước chưa bị ô nhiễm kim loại nặng, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. Nhiều HTX tự chế biến phân hữu cơ phục vụ sản xuất tại chỗ đảm bảo chất lượng và cũng được đơn vị chức năng quản lý kịp thời (trường hợp HTX trồng rau hữu cơ của anh Nguyễn Văn Quyết tại Bắc Giang là một ví dụ điển hình cho mô hình trên).

Về kinh nghiệm quản lý và kinh nghiệm sản xuất NNHC: Các cấp quản lý tại địạ bàn các tỉnh trong Vùng rất sát sao và quản triệt và thực hiện đầy đủ việc triển khai các Nghị quyết, Đề án, Chương trình, Quy hoạch, Kế hoạch phát triển NNHC của tỉnh đến bà con nông dân, tận tình giúp đỡ người dân trong việc kết nối cũng như tìm nhà tài trợ về vốn, hướng dẫn kỹ thuật, tiêu thụ đầu ra cho sản phẩm, quy trình cấp phép sản phẩm hữu cơ, tổ chứ các khóa đào tạo, tập huấn bài bản về cách thức sản xuất cho từng loại sản phẩm hữu cơ để đạt chất lượng tốt nhất. Theo só liệu khảo sát của nhóm nghiên cứu hiện nay 14 tỉnh kho sát đạt 100% đều có mô hình NNHC được cấp phép bởi các tổ chức đánh giá cấp giấy chứng nhận sản phẩm hữu cơ trong nước và quốc tế. Một số sản phẩm nổi bật như chè, gia vị từ dược liệu đã được chứng nhận bởi các tổ chức nước ngoài với quy trình cấp phép nghiêm ngặt với mức chi phí cho mỗi lần vào khoảng 200 triệu VNĐ và các sản phẩm đó hiện đã có mặt tại nhiều thị trường khó tính trên thế giới như Mỹ, Úc, Châu Âu, Canada,… Phần lớn người dân trong Vùng có kinh nghiệm, nhiệt tình, có nhận thức và mong muốn chuyển đổi sang sản xuất hữu cơ, đặc biệt là các loại hình sản xuất chè, rau, bưởi, rau,… Từ đó đã vận dụng, góp phần vào thành công của các mô hình sản xuất hữu cơ tại các tỉnh trong Vùng.

Những khó khăn trong phát triển NNHC của vùng TB&MNPB

Về chính sách: Trong những năm qua, Nhà nước đã triển khai nhiều chính sách hỗ trợ phát triển NNHC như việc ban hành Nghị quyết, Đề án, các tiêu chuẩn hữu cơ,.. tuy nhiên khi thực hiện tại các tỉnh vẫn còn gặp nhiều khó khăn do những hạn chế trong việc thực thi liên quan đến nguồn vốn đầu tư, các quy định và hướng dẫn chi tiết liên quan đến quy trình sản xuất, vấn đề giám sát sản phẩm, các lợi ích của người dân, đánh giá hiệu quả mô hình như thế nào, quy hoạch vùng trồng quy mô lớn, các têu chí đánh giá NNHC trong nước còn chưa đáp ứng được với yêu cầu của quốc tế,…

Thị trường tiêu thụ sản phẩm: Có thể nói cùng với sự quyết tâm của các cấp lãnh đạo và của người dân và doanh nghiệp trong những năm qua khâu tiêu thụ sản phẩm hữu cơ bên cạnh những kết quả đạt được còn tiềm ẩn nhiều rủi ro và chưa ổn định. Cụ thể như nhu cầu sử dụng sản phẩm hữu cơ ngày một tăng cao trong khi sản xuất không đáp ứng. Nhiều cá nhân sản xuất hữu cơ tự phát theo cách hiểu đơn giản chỉ thay thế đầu vào vô cơ bằng hữu cơ để đáp ứng nhu cầu tìm kiếm sản phẩm hữu cơ của người tiêu dùng. Thị trường tiêu thụ sản phẩm đang có sự không rõ ràng, nhiều loại thực phẩm được dán nhãn hữu cơ nhưng thực chất không phải, việc kiểm định sản phẩm hữu cơ chưa có hoặc chưa rõ, Nhà nước chưa có luật để kiểm soát thị trường sản phẩm hữu cơ. Chính vì vậy sản phẩm NNHC không có chỗ đứng trên thị trường, thiếu niềm tin của người tiêu dùng..

Năng suất, sản lượng cây trồng: Nhìn chung năng suất và sản lượng cây trồng NNHC về cơ bản là hiệu quả còn thấp hơn nhiều so với mô hình canh tác thông thường có sử dụng phân bón hóa học. Tuy nhiên, theo bà con tại các địa phương trong vùng canh tác liên quan đến một số các sản phẩm hữu cơ chủ lực như rau, dược liệu, lúa, cây ăn quả đánh giá nhìn nhận đối với chất lượng một số loại sản phẩm NNHC ở trên đạt tiêu chuẩn và người tiêu dùng cũng rất ưa chuộng nhưng hiệu quả năng suất thực sự còn chưa cao, do đó không đáp ứng được nhu cầu của thị trường ở thời điểm hiện tại, đa phần vẫn là bán cho một số thương lái và siêu thị đầu mối thân quen. Một trong những lý do dẫn đến hiệu suất sản phẩm chưa cao là nguồn phân bón chưa thực sự hiệu quả với các loại sâu bệnh gây thiệt hại mùa màng, kinh nghiệm sản xuất còn hạn chế, quy trình nghặt nghèo, lao động còn thiếu do số đông người dân chưa thực sự hứng thú với mô hình, quy mô sản xuất cần theo diện rộng vì hiện nay phần lớn các doanh nghiệp và hộ sản xuất nông nghiệp hữu cơ có quy mô sản xuất còn nhỏ, việc đầu tư sản xuất chủ yếu dựa vào các dự án hỗ trợ, về tổng thể, chưa có quy hoạch hay định hướng đối tượng cũng như thị trường cho sản phẩm hữu cơ, thêm vào đó sản xuất theo quy trình hữu cơ có thời hạn cấp phép nên ảnh hưởng lớn đến tiêu thụ đầu ra cho các thị trường trong và ngoài nước.

Về kinh nghiệm quản lý và kinh nghiệm sản xuất NNHC: Các cấp quản lý tại địạ bàn các tỉnh trong Vùng rất sát sao và quản triệt thực hiện đầy đủ việc triển khai các Nghị quyết, Đề án, Chương trình, Quy hoạch, Kế hoạch phát triển NNHC của tỉnh đến bà con nông dân, tận tình giúp đỡ người dân trong việc kết nối cũng như tìm nhà tài trợ về vốn, hướng dẫn kỹ thuật, tiêu thụ đầu ra cho sản phẩm, quy trình cấp phép sản phẩm hữu cơ, tổ chức các khóa đào tạo, tập huấn bài bản về cách thức sản xuất cho từng loại sản phẩm hữu cơ để đạt chất lượng tốt nhất. Theo số liệu khảo sát của nhóm nghiên cứu hiện nay 14 tỉnh khảo sát đạt 100% đều có mô hình NNHC được cấp phép của các tổ chức đánh giá cấp giấy chứng nhận sản phẩm hữu cơ trong nước và quốc tế. Một số sản phẩm nổi bật như chè, gia vị từ dược liệu đã được chứng nhận của các tổ chức nước ngoài với quy trình cấp phép nghiêm ngặt với mức chi phí cho mỗi lần vào khoảng 200 triệu VNĐ và các sản phẩm đó hiện đã có mặt tại nhiều thị trường khó tính trên thế giới như Mỹ, Úc, Châu Âu, Canada,… Phần lớn người dân trong Vùng có kinh nghiệm, nhiệt tình, có nhận thức và mong muốn chuyển đổi sang sản xuất nông nghiệp hữu cơ, đặc biệt là các loại hình sản xuất chè, rau, bưởi, rau,… Từ đó đã vận dụng, góp phần vào thành công của các mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ tại các tỉnh trong Vùng.

Tuyên truyền, nâng cao nhận thức về phát triển NNHC: Theo nghiên cứu của nhóm tác giả tại 14 tỉnh trong vùng TD&MNPB thì 100% các tỉnh đã áp dụng các khóa đào tạo, tập huấn, nâng cáo nhận thức của người dân về quy trình sản xuất NNHC cho các loại hình cây trồng khác nhau như chè hữu cơ, rau hữu cơ, cam hữu cơ, bưởi hữu cơ, lúa hữu cơ,… và bước đầu đã đạt được kết quả tích cực. Người dân trong Vùng đã được làm quen với các mô hình sản xuất NNHC và biết cách chăm sóc, vận hành mô hình của mình và chủ yếu hiện đang tồn tại phổ biến hình thức HTX NNHC dưới sự hướng dẫn của cán bộ cấp tỉnh, huyện và cấp xã thông qua hình thức khuyến nông.

Một số giải pháp cho phát triển NNHC

Về mặt chính sách: Đảng, Nhà nước, chính quyền địa phương cần tiếp tục quan tâm, chỉ đạo quyết liệt trong định hướng phát triển NNHC để khai thác hết tiềm năng và thế mạnh của Vùng TD&MNPB. Các chính sách cần phải bám sát với tình hình thực tế như: các chính sách hỗ trợ vốn đầu tư, cần có các thông tư hướng dẫn chi tiết liên quan đến quy trình sản xuất, vấn đề giám sát sản phẩm, các lợi ích của người dân, quy hoạch vùng trồng quy mô lớn, cần ban hành các tiêu chí đánh giá NNHC phải sát với tiêu chuẩn quốc tế để đảm bảo sản phẩm được tiếp cận gần hơn với thị trường ngoài nước.

Khoa học và công nghệ: Một trong những giải pháp cần quan tâm đó là áp dụng trình độ khoa học kỹ thuật trong quá trình sản xuất. Theo nghiên cứu của nhóm tác giả tại vùng TD&MNPB trong những năm qua trình độ khoa học công nghệ đã được áp dụng trong sản xuất NNHC liên quan đến cơ cấu giống cây trồng, thuốc bảo vệ thực vật, kỹ thuật tạo phân bón hữu cơ, nhiều kết quả nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao đã đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra, làm cơ sở cho việc định hướng phát triển kinh tế-xã hội, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và khai thác tiềm năng, lợi thế về khí hậu, đất đai, góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống người dân. Cần phải có những nghiên cứu nhằm xác định khoanh vùng NNHC cho các địa phương đảm bảo cách tiếp cận theo hướng khoa học trong việc xác định vùng trồng, định hướng đầu tư hiệu quả cho SXNNHC. Muốn vậy cần xem xét, phân tích đánh giá kinh nghiệm các nước đã thực hiện bộ tiêu chí như thế nào, hiện trạng xây dựng bộ tiêu chí cho phát triển NNHC ở Việt Nam ra sao, từ đó nghiên cứu thực trạng và đánh giá thực tế khả năng xác lập bộ tiêu chí cho phát triển nông nghiệp hữu cơ cho các vùng trong cả nước nói chung và vùng TD&MNPB nói riêng.

Đối với phát triển nông nghiệp hữu cơ vùng TD&MNPBtrên cơ sở kinh nghiệm quốc tế và bộ TCVN 11041, điều tra nghiên cứu thực tế trên địa bàn 14 tỉnh của vùng TD&MNPB để xác lập bộ tiêu chí làm căn cứ cho khoanh vùng phát triển nông nghiệp hữu cơ của vùng này. Hai nhóm tiêu chí được để xuất đó là nhóm tiêu chí liên quan đến đầu vào của sản xuất NNHC gồm tài nguyên đất, tài nguyên nước và tài nguyên khí hậu; nhóm tiêu chí về chất lượng môi trường gồm chất lượng môi trường đất, chất lượng môi trường nước và chất lượng môi trường không khí. Trên cơ sở các tiêu chí được xác lập cho 2 nhóm chí sẽ có các chỉ số cụ thể cho từng tiêu chí để làm căn cứ sắp xếp lựa chọn khoanh vùng nông nghiệp hữu cơ.

imh.ac.vn

Bài liên quan

Bài 3: Nông nghiệp hữu cơ ở Nghệ An: Khi ý chí vượt khó khăn

Bài 3: Nông nghiệp hữu cơ ở Nghệ An: Khi ý chí vượt khó khăn

Mặc dù còn nhiều “điểm nghẽn” cần gỡ…nhưng việc phát triển nông nghiệp hữu cơ không còn là lựa chọn mang tính thử nghiệm, mà đã trở thành một giải pháp chiến lược nhằm xây dựng nền nông nghiệp tỉnh Nghệ An bền vững, an toàn và có giá trị gia tăng cao, đáp ứng xu hướng tiêu dùng xanh - sạch
Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam: Khơi dậy tiềm năng xanh từ chính sách

Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam: Khơi dậy tiềm năng xanh từ chính sách

Nông nghiệp hữu cơ đang dần trở thành xu hướng tất yếu trên thế giới và Việt Nam cũng không nằm ngoài dòng chảy này. Với những chính sách hỗ trợ mạnh mẽ từ Chính phủ, đặc biệt là Nghị định số 109/2018/NĐ-CP về Nông nghiệp hữu cơ và Quyết định số 885/QĐ-TTg, cùng với sự vào cuộc của các địa phương, nông nghiệp hữu cơ Việt Nam được kỳ vọng sẽ phát triển vượt bậc trong giai đoạn 2025-2030, góp phần xây dựng nền nông nghiệp xanh, bền vững và hiện đại.
Đồng Tháp: Thành công bước đầu trên hành trình nông nghiệp hữu cơ

Đồng Tháp: Thành công bước đầu trên hành trình nông nghiệp hữu cơ

Nông nghiệp hữu cơ đang mang lại lợi ích kinh tế và môi trường cho Đồng Tháp, thể hiện qua các mô hình sản xuất thành công và tiềm năng phát triển lâu dài.
Khánh Hòa: Hướng tới nông nghiệp hữu cơ, nâng tầm giá trị

Khánh Hòa: Hướng tới nông nghiệp hữu cơ, nâng tầm giá trị

Nông nghiệp hữu cơ đang trở thành hướng đi tất yếu tại tỉnh Khánh Hòa, đặc biệt ở các huyện miền núi, mang lại lợi ích về sức khỏe, môi trường và kinh tế, mở ra tương lai tươi sáng cho nông nghiệp.
Công nghệ Hàn Quốc đổ bộ vào thị trường thiết bị nông nghiệp Việt Nam

Công nghệ Hàn Quốc đổ bộ vào thị trường thiết bị nông nghiệp Việt Nam

Hàn Quốc đang đẩy mạnh xuất khẩu thiết bị nông nghiệp sang Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang chuyển đổi sang nông nghiệp hữu cơ.
Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam: Làn gió mới cho bữa ăn sạch

Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam: Làn gió mới cho bữa ăn sạch

Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ với gần 500.000 ha sản xuất, đáp ứng nhu cầu sản phẩm sạch.

CÁC TIN BÀI KHÁC

Giải pháp tạo nguồn thực phẩm sạch cho phát triển du lịch

Giải pháp tạo nguồn thực phẩm sạch cho phát triển du lịch

Hiện nay, ẩm thực ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên bản sắc của du lịch Việt Nam. Không chỉ dừng lại ở việc thưởng thức món ăn, du khách ngày nay quan tâm nhiều hơn đến nguồn gốc nguyên liệu, quy trình sản xuất và mức độ an toàn của thực phẩm. Do đó cần nhìn nhận rõ vai trò, đánh giá đúng thực trạng nguồn cung thực phẩm sạch để có những giải pháp phát triển phù hợp.
Thuyết di truyền Mendel - Nền tảng của di truyền học hiện đại

Thuyết di truyền Mendel - Nền tảng của di truyền học hiện đại

Thuyết di truyền của Gregor Mendel được xem là nền tảng của di truyền học hiện đại, mở ra một cách hiểu hoàn toàn mới về cách các đặc điểm sinh học được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Dù được công bố từ giữa thế kỷ XIX, những phát hiện của Mendel vẫn giữ nguyên giá trị khoa học và được ứng dụng rộng rãi trong nông nghiệp, y học và công nghệ sinh học ngày nay.
Du lịch xanh cần “chuẩn hóa” thực phẩm sạch

Du lịch xanh cần “chuẩn hóa” thực phẩm sạch

Du lịch xanh không thể chỉ được đo bằng cảnh quan trong lành, vật liệu thân thiện với môi trường hay những khẩu hiệu giảm phát thải. Với du khách, “màu xanh” của một điểm đến còn nằm ngay trong bữa ăn hằng ngày - thực phẩm có an toàn hay không, có minh bạch nguồn gốc hay không, có được kiểm soát xuyên suốt từ vùng nguyên liệu đến bàn ăn hay không. Khi khái niệm “thực phẩm sạch” vẫn còn được hiểu theo nhiều cách khác nhau, việc chuẩn hóa từ tiêu chuẩn, chứng nhận đến truy xuất và hậu kiểm đang trở thành yêu cầu cấp thiết để du lịch xanh phát triển đúng nghĩa và bền vững.
Đảm bảo an toàn thực phẩm mùa lễ hội: Đồng bộ nhiều giải pháp

Đảm bảo an toàn thực phẩm mùa lễ hội: Đồng bộ nhiều giải pháp

Mùa lễ hội đầu năm luôn là thời điểm sôi động của đời sống văn hóa - xã hội tại Việt Nam. Từ các lễ hội truyền thống ở làng quê đến những sự kiện văn hóa, du lịch quy mô lớn, hàng triệu người dân và du khách cùng tham gia, kéo theo nhu cầu tiêu dùng thực phẩm tăng mạnh. Tuy nhiên, bên cạnh không khí vui tươi và giá trị văn hóa đặc sắc, vấn đề an toàn thực phẩm trong mùa lễ hội luôn là mối lo thường trực của xã hội. Trong bối cảnh lượng thực phẩm tiêu thụ lớn, hoạt động kinh doanh mang tính thời vụ và điều kiện kiểm soát còn nhiều hạn chế, nguy cơ mất an toàn thực phẩm có thể gia tăng nếu không có những giải pháp quản lý và nâng cao nhận thức kịp thời.
Lúa mì (tiểu mạch) - Nền tảng của văn minh nông nghiệp nhân loại

Lúa mì (tiểu mạch) - Nền tảng của văn minh nông nghiệp nhân loại

Lúa mì, hay còn gọi là tiểu mạch, có tên khoa học là Triticum spp., là một trong những cây lương thực quan trọng nhất của nhân loại. Cùng với lúa gạo và ngô, lúa mì tạo thành “bộ ba” cây trồng nuôi sống phần lớn dân số thế giới. Không chỉ là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu, lúa mì còn gắn liền với lịch sử phát triển của các nền văn minh cổ đại và hiện đại.
Chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi, hướng tới phát triển nông nghiệp bền vững

Chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi, hướng tới phát triển nông nghiệp bền vững

Sáng 07/4, UBND xã Yên Phú, tỉnh Tuyên Quang tổ chức Hội nghị tọa đàm định hướng chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi, hướng tới phát triển nông nghiệp bền vững năm 2026. Tọa đàm không chỉ là dịp để địa phương xác định hướng đi mới cho sản xuất nông nghiệp, mà còn làm rõ thực trạng sản xuất nông, lâm nghiệp, chăn nuôi, thủy sản, chỉ ra những khó khăn, hạn chế và gợi mở các giải pháp phát huy tiềm năng, lợi thế địa phương trong giai đoạn tới.
Ngô, khoai, sắn - “bệ đỡ” thầm lặng của an ninh lương thực Việt Nam

Ngô, khoai, sắn - “bệ đỡ” thầm lặng của an ninh lương thực Việt Nam

Ngô, khoai và sắn là ba loại cây trồng quen thuộc, gắn bó lâu đời với sản xuất nông nghiệp và đời sống người dân Việt Nam. Không chỉ đóng vai trò là nguồn lương thực bổ sung, chúng còn góp phần quan trọng vào đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu, gia tăng dân số và những biến động khó lường của thị trường toàn cầu.
Nghị quyết mới của Chính phủ mở hướng phát triển nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn

Nghị quyết mới của Chính phủ mở hướng phát triển nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn

Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 85/NQ-CP ngày 4/4/2026 về Chương trình hành động thực hiện Kết luận số 219-KL/TW, tiếp tục triển khai Nghị quyết số 19-NQ/TW khóa XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Đáng chú ý, nghị quyết tiếp tục nhấn mạnh định hướng phát triển nông nghiệp sinh thái, khuyến khích nông nghiệp xanh, hữu cơ, tuần hoàn, gắn với nâng cao giá trị gia tăng, bảo vệ môi trường và cải thiện đời sống người dân nông thôn.
Mô hình trồng rau thủy canh (Hydroponics) - Hướng đi hiệu quả của nông nghiệp công nghệ cao

Mô hình trồng rau thủy canh (Hydroponics) - Hướng đi hiệu quả của nông nghiệp công nghệ cao

Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh, quỹ đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp và nhu cầu về thực phẩm an toàn ngày càng gia tăng, các mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao đang trở thành xu hướng tất yếu. Trong số đó, mô hình trồng rau thủy canh (Hydroponics) được xem là giải pháp tiên tiến, giúp nâng cao năng suất, chất lượng nông sản và sử dụng hiệu quả tài nguyên.
Mạt gà - kẻ thù giấu mặt của nhà nông

Mạt gà - kẻ thù giấu mặt của nhà nông

Trong chăn nuôi gia cầm, người nông dân thường quan tâm đến dịch bệnh lớn như cúm gia cầm, Newcastle hay tụ huyết trùng. Tuy nhiên, có một “kẻ thù” nhỏ bé nhưng vô cùng nguy hiểm, âm thầm gây thiệt hại kéo dài mà không phải ai cũng nhận ra kịp thời - đó chính là mạt gà.
Nghệ An đặt “tam nông” vào vị trí chiến lược lâu dài trong tiến trình phát triển

Nghệ An đặt “tam nông” vào vị trí chiến lược lâu dài trong tiến trình phát triển

Chương trình hành động số 12-CTr/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Nghệ An xác định 7 nhóm nhiệm vụ trọng tâm; đặt nông nghiệp, nông dân và nông thôn vào vị trí chiến lược lâu dài trong tiến trình phát triển. “Tam nông” không chỉ là “bệ đỡ” an sinh mà còn là nền tảng đảm bảo kinh tế vĩ mô và tăng trưởng bền vững.
Tầm quan trọng của chăn nuôi hữu cơ trong sản xuất nông nghiệp

Tầm quan trọng của chăn nuôi hữu cơ trong sản xuất nông nghiệp

Trong bối cảnh nông nghiệp toàn cầu đang đối mặt với nhiều thách thức như biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và áp lực đảm bảo an toàn thực phẩm, chăn nuôi hữu cơ nổi lên như một hướng đi bền vững và mang tính chiến lược. Không chỉ đơn thuần là một phương thức sản xuất, chăn nuôi hữu cơ còn là giải pháp tổng thể nhằm cân bằng giữa phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống con người.
XEM THÊM
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2025 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính