Thứ bảy 18/04/2026 05:39Thứ bảy 18/04/2026 05:39 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

GS - VS Đào Thế Tuấn: Nhà khoa học suôt đời vì nông nghiệp, nông dân và nông thôn

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Giáo sư, Viện sĩ Đào Thế Tuấn sinh năm 1931 mất năm 2011 tại TP Huế, nguyên quán huyện Thanh Oai, Hà Nội. Giáo sư là một trong những nhà nghiên cứu đầu ngành về nông nghiệp, nông thôn Việt Nam.
GS - VS Đào Thế Tuấn: Nhà khoa học suôt đời vì nông nghiệp, nông dân và nông thôn
GSVS chuyên gia kinh tế hộ, phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

Giáo sư, Viện sĩ Đào Thế Tuấn là một nhà khoa học nông nghiệp hàng đầu của Việt Nam, người đã có những đóng góp to lớn cho sự phát triển của nền nông nghiệp và nông thôn nước nhà. Ông không chỉ là một nhà nghiên cứu xuất sắc mà còn là một nhà giáo tận tâm, một nhà quản lý tài năng và một trí thức lớn của đất nước. Cuộc đời và sự nghiệp của Giáo sư Đào Thế Tuấn là một minh chứng cho tinh thần học hỏi không ngừng, lòng yêu nước sâu sắc và sự cống hiến hết mình cho khoa học và cộng đồng.

Giáo sư Đào Thế Tuấn sinh ra trong một gia đình trí thức nổi tiếng ở Huế. Cha ông là nhà sử học, nhà văn hóa Đào Duy Anh, một bậc thầy về sử học và văn hóa Việt Nam. Mẹ ông là một nhà giáo và nhà hoạt động xã hội. Sinh ra trong một gia đình có truyền thống hiếu học và yêu nước, Giáo sư Đào Thế Tuấn đã sớm bộc lộ năng khiếu và niềm đam mê với khoa học. Ông tham gia hoạt động cách mạng từ rất sớm và trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam khi còn rất trẻ.

Sau khi tốt nghiệp đại học, ông được cử đi học tập tại Liên Xô và bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ Nông học. Ông là một trong những tiến sĩ vê khoa học nông nghiệp đầu tiên được đào tạo bài bản ở nước ngoài, đặt nền móng cho sự phát triển của ngành khoa học nông nghiệp Việt Nam sau này. Trở về nước, ông công tác tại Học viện Nông lâm (nay là Học viện Nông nghiệp Việt Nam), vừa giảng dạy, vừa nghiên cứu khoa học. Ông đã có những đóng góp quan trọng trong việc xây dựng chương trình đào tạo, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên và thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học của Học viện.

Những nghiên cứu của Giáo sư Đào Thế Tuấn tập trung vào nhiều lĩnh vực của nông nghiệp, đặc biệt là sinh lý thực vật, kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn. Ông đã có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị, được công bố trên các tạp chí khoa học trong và ngoài nước. Ông đặc biệt quan tâm đến vấn đề phát triển nông thôn bền vững, nâng cao đời sống của người nông dân và bảo vệ môi trường. Ông luôn nhấn mạnh vai trò của khoa học công nghệ trong việc phát triển nông nghiệp, đồng thời coi trọng yếu tố văn hóa, xã hội và môi trường trong quá trình phát triển.

Không chỉ là một nhà khoa học, Giáo sư Đào Thế Tuấn còn là một nhà giáo tận tâm, người đã đào tạo nhiều thế hệ kỹ sư, nhà khoa học nông nghiệp cho đất nước. Ông luôn gần gũi, tận tình với học trò, truyền đạt cho họ không chỉ kiến thức chuyên môn mà còn cả lòng yêu nghề, tinh thần say mê nghiên cứu khoa học. Ông cũng là một nhà quản lý tài năng, từng giữ nhiều chức vụ quan trọng trong ngành nông nghiệp. Ông luôn thể hiện sự năng động, sáng tạo và tinh thần trách nhiệm cao trong công việc. Cuộc đời và sự nghiệp của Giáo sư Đào Thế Tuấn là một tấm gương sáng cho các thế hệ sau noi theo, một biểu tượng của tinh thần học hỏi, sáng tạo và cống hiến cho đất nước.

Nghiên cứu đầu tiên của Giáo sư Đào Thế Tuấn là về đạm, với kết quả là phương pháp biến lân thành đạm qua việc bón lân cho bèo hoa dâu và điền thanh. Kết quả này đã được trình bày ở Hội nghị khoa học Bắc Kinh năm 1963 và 2 cuốn sách là cuốn “Phân supe lân và cách sử dụng” và cuốn “Các biện pháp nâng cao hiệu suất phân hoá học”. Sau đó, trong điều kiện bệnh vàng lụi lan rộng ở miền Bắc, Giáo sư đã tổ chức nhóm nghiên cứu để xác định nguyên nhân gây bệnh và phát hiện ra rằng vàng lụi là bệnh virus do rầy xanh đuôi đen là vectơ truyền bệnh. Từ đó Giáo sư Đào Thế Tuấn và cộng sự đã chú ý tìm các giống kháng bệnh, đề xuất biện pháp canh tác phù hợp như bón kali, làm cỏ sục bùn để hạn chế bệnh. Kết quả nghiên cứu đã phát hiện các giống tẻ trắng Tây Bắc, 813, I1, A10 có khả năng kháng bệnh vàng lụi.

Từ năm 1965, nhóm nghiên cứu của Giáo sư Đào Thế Tuấn nghiên cứu sinh lý của ruộng lúa năng suất cao với việc phân tích quá trình quang hợp, dinh dưỡng khoáng, một bước phát triển mới của phương pháp tiếp cận hệ thống. Kết quả nghiên cứu này đặt cơ sở cho việc thâm canh lúa đạt 10 tấn/ha vào những năm 70 của thế kỷ trước và được tổng kết trong cuốn Sinh lý của ruộng lúa năng suất cao. Từ năm 1970, Giáo sư cùng các cộng sự tổ chức nghiên cứu cơ sở sinh lý của việc chọn giống năng suất cao, từ đó chọn lọc và lai tạo được nhiều giống lúa mới như: giống lúa NN75-10 (X1) chịu bệnh bạc lá; giống lúa cực ngắn CN2, cho phép làm vụ mùa sớm, mở rộng vụ đông; giống lúa CR203 chịu rầy nâu, giống lúa chịu phèn V14 và V15... Ngoài ra là các giống ngô số 6, giống S1 ngắn ngày và giống ngô nếp S2; các giống đậu tương AK02 và AK03…

Cuối những năm 70 của thế kỉ XX, Giáo sư Đào Thế Tuấn tổ chức nghiên cứu hoạt động của hệ sinh thái nông nghiệp, triển khai việc nghiên cứu hệ thống canh tác của các vùng sinh thái khác nhau, nhất là các vùng sinh thái khó khăn như vùng chiêm trũng, vùng phèn mặn, vùng lúa nước trời thường gặp hạn. Từ đầu năm 1980, Giáo sư quan tâm đến tiếp cận hệ thống trong khoa học nông nghiệp. Từ việc nghiên cứu hệ thống ruộng lúa tiến đến nghiên cứu hệ thống cây trồng rồi hệ thống nông nghiệp. Giáo sư Đào Thế Tuấn khởi xướng và chủ trì hợp tác với Viện Khoa học nông nghiệp Pháp trong chương trình Hệ thống nông nghiệp lưu vực sông Hồng. Các kết quả nghiên cứu về lĩnh vực này đã được tổng kết trong cuốn “Hệ sinh thái nông nghiệp” là sách giáo khoa đầu tiên về sinh thái học nông nghiệp. Cuối thập kỉ 80 của thế kỉ XX, Giáo sư nghiên cứu hệ thống nông nghiệp với sự kết hợp nghiên cứu kỹ thuật và kinh tế - xã hội, nghiên cứu về các thể chế nông thôn, nhất là thể chế kinh tế hộ nông dân. Giáo sư Đào Thế Tuấn cũng đặc biệt quan tâm đến việc áp dụng các đòn bẩy kinh tế trong việc tổ chức nghiên cứu khoa học và đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất cũng như cải cách kinh tế của các nước, mô hình tổ chức sản xuất trong nông nghiệp cũng như nghiên cứu các vấn đề kinh tế hộ, chuỗi giá trị, thể chế trong phát triển nông thôn... GS Đào Thế Tuấn là một trong những nhà khoa học nông nghiệp nghiên cứu khá toàn diện nông nghiệp, nông dân, nông thôn. GS đã góp phần xứng đáng vào sự tiến bộ của nông nghiệp nước ta trong suốt quá trình đổi mới vào thể chế thị trường và hội nhập.

Với tài năng và công hiến của mình, Giáo sư Đào Thế Tuấn đã được bầu làm Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Nông nghiệp Liên Xô năm 1985; Giáo sư nhận nhiều giải, phần thưởng quốc tế như Huân chương Công trạng nông nghiệp và Huân chương cành cọ Hàn lâm của Pháp năm 1991; Giải thưởng quốc tế René Dumont dành cho các nhà nông học các nước đang phát triển năm 2003; Huân chương Bắc đẩu bội tinh của Chính phủ Pháp. Đảng và nhà nước Việt Nam trao tặng Giáo sư nhiều phần thưởng và danh hiệu cao quý như: Giải thưởng Hồ Chí Minh cho Công trình "Công nghệ sản xuất lúa ở ĐB sông Hồng” năm 2005; Anh hùng Lao động thời kì đổi mới năm 2000; Huân chương Hồ Chí Minh năm 2002… Đầu năm 2023 thành phố Hà Nội đã đặt tên một tuyến phố mang tên Đào Thế Tuấn tại quận Long Biên để tôn vinh những cống hiến của Giáo sư./.

Bài liên quan

Đậu gà: Ứng cử viên số một cho nông trại trên Mặt Trăng?

Đậu gà: Ứng cử viên số một cho nông trại trên Mặt Trăng?

Các nhà khoa học đã trồng đậu gà trong đất mô phỏng mặt trăng, mở ra một bước tiến đầy hứa hẹn hướng tới việc canh tác trên bề mặt mặt trăng.
Ra mắt công nghệ PLINAZOLIN® giúp bảo vệ cây trồng khỏi nhiều loại sâu hại

Ra mắt công nghệ PLINAZOLIN® giúp bảo vệ cây trồng khỏi nhiều loại sâu hại

Syngenta giới thiệu công nghệ PLINAZOLIN® là công nghệ có thành phần hoạt chất mới và sáng tạo, với cơ chế tác động tiên tiến để kiểm soát côn trùng
Tp. Huế tổ chức hội thảo khoa học “Đô thị Huế trong dòng chảy lịch sử”

Tp. Huế tổ chức hội thảo khoa học “Đô thị Huế trong dòng chảy lịch sử”

Sáng 10/12/2025, tại Khách sạn Duy Tân (Tp. Huế), Hội Khoa học Lịch sử thành phố Huế đã tổ chức Hội thảo khoa học “Đô thị Huế trong dòng chảy lịch sử”

CÁC TIN BÀI KHÁC

Nghiên cứu xây dựng công thức ủ thân chuối thải loại sau thu hoạch thành phân bón hữu cơ chất lượng cao

Nghiên cứu xây dựng công thức ủ thân chuối thải loại sau thu hoạch thành phân bón hữu cơ chất lượng cao

Nghiên cứu tập trung vào việc tận dụng thân chuối thải loại để sản xuất phân bón hữu cơ, góp phần giảm chất thải nông nghiệp tại Việt Nam. Nguyên liệu sử dụng trong nghiên cứu là thân chuối sau thu hoạch được lấy từ vườn chuối ogarnic của hộ gia đình chị Lê Tuyết Mai tại xã Xuyên Mộc, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ẩm thực chay: Lựa chọn xanh hướng tới lối sống bền vững

Ẩm thực chay: Lựa chọn xanh hướng tới lối sống bền vững

Sự quan tâm đến sức khỏe đang thúc đẩy xu hướng ăn chay trở nên phổ biến rộng rãi trong xã hội hiện đại. Tại các thành phố lớn, nhiều người tìm đến chế độ thuần ăn thực vật với kỳ vọng cải thiện sức khỏe và góp phần điều trị một số bệnh lý. Tuy nhiên, hành trình này thường đối mặt với những thách thức đáng kể, xuất phát từ sự thiếu hụt kiến thức và kinh nghiệm.
Công nghệ xanh và sinh học - Động lực cho tương lai phát triển

Công nghệ xanh và sinh học - Động lực cho tương lai phát triển

Trong bối cảnh thế giới đang đối mặt với hàng loạt thách thức như biến đổi khí hậu, cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường và dịch bệnh toàn cầu, hai lĩnh vực Công nghệ xanh và Công nghệ sinh học đang nổi lên như những trụ cột chiến lược, định hình tương lai phát triển dài hạn của nhân loại. Không chỉ mang lại giải pháp cho các vấn đề cấp bách, hai lĩnh vực này còn mở ra một mô hình phát triển mới - hài hòa giữa kinh tế, môi trường và con người.
Công nghệ truy xuất nguồn gốc: “Tấm hộ chiếu” minh bạch cho nông sản du lịch

Công nghệ truy xuất nguồn gốc: “Tấm hộ chiếu” minh bạch cho nông sản du lịch

Trong kỷ nguyên số, khi người tiêu dùng không chỉ ăn bằng vị giác mà còn bằng niềm tin, do vậy việc ứng dụng công nghệ truy xuất nguồn gốc (TXNG) như QR Code hay Blockchain không còn là một lựa chọn cộng thêm, mà đã trở thành xu hướng tất yếu - một “tấm hộ chiếu” quyền lực giúp nông sản tự tin bước vào thị trường du lịch cao cấp.
Triển khai thực hiện Chiến lược Sở hữu trí tuệ đến năm 2030: Động lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển

Triển khai thực hiện Chiến lược Sở hữu trí tuệ đến năm 2030: Động lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển

Trong bối cảnh kinh tế tri thức và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang phát triển mạnh mẽ, sở hữu trí tuệ (SHTT) ngày càng trở thành nguồn lực quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Giải pháp tạo nguồn thực phẩm sạch cho phát triển du lịch

Giải pháp tạo nguồn thực phẩm sạch cho phát triển du lịch

Hiện nay, ẩm thực ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên bản sắc của du lịch Việt Nam. Không chỉ dừng lại ở việc thưởng thức món ăn, du khách ngày nay quan tâm nhiều hơn đến nguồn gốc nguyên liệu, quy trình sản xuất và mức độ an toàn của thực phẩm. Do đó cần nhìn nhận rõ vai trò, đánh giá đúng thực trạng nguồn cung thực phẩm sạch để có những giải pháp phát triển phù hợp.
Thuyết di truyền Mendel - Nền tảng của di truyền học hiện đại

Thuyết di truyền Mendel - Nền tảng của di truyền học hiện đại

Thuyết di truyền của Gregor Mendel được xem là nền tảng của di truyền học hiện đại, mở ra một cách hiểu hoàn toàn mới về cách các đặc điểm sinh học được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Dù được công bố từ giữa thế kỷ XIX, những phát hiện của Mendel vẫn giữ nguyên giá trị khoa học và được ứng dụng rộng rãi trong nông nghiệp, y học và công nghệ sinh học ngày nay.
Du lịch xanh cần “chuẩn hóa” thực phẩm sạch

Du lịch xanh cần “chuẩn hóa” thực phẩm sạch

Du lịch xanh không thể chỉ được đo bằng cảnh quan trong lành, vật liệu thân thiện với môi trường hay những khẩu hiệu giảm phát thải. Với du khách, “màu xanh” của một điểm đến còn nằm ngay trong bữa ăn hằng ngày - thực phẩm có an toàn hay không, có minh bạch nguồn gốc hay không, có được kiểm soát xuyên suốt từ vùng nguyên liệu đến bàn ăn hay không. Khi khái niệm “thực phẩm sạch” vẫn còn được hiểu theo nhiều cách khác nhau, việc chuẩn hóa từ tiêu chuẩn, chứng nhận đến truy xuất và hậu kiểm đang trở thành yêu cầu cấp thiết để du lịch xanh phát triển đúng nghĩa và bền vững.
Đảm bảo an toàn thực phẩm mùa lễ hội: Đồng bộ nhiều giải pháp

Đảm bảo an toàn thực phẩm mùa lễ hội: Đồng bộ nhiều giải pháp

Mùa lễ hội đầu năm luôn là thời điểm sôi động của đời sống văn hóa - xã hội tại Việt Nam. Từ các lễ hội truyền thống ở làng quê đến những sự kiện văn hóa, du lịch quy mô lớn, hàng triệu người dân và du khách cùng tham gia, kéo theo nhu cầu tiêu dùng thực phẩm tăng mạnh. Tuy nhiên, bên cạnh không khí vui tươi và giá trị văn hóa đặc sắc, vấn đề an toàn thực phẩm trong mùa lễ hội luôn là mối lo thường trực của xã hội. Trong bối cảnh lượng thực phẩm tiêu thụ lớn, hoạt động kinh doanh mang tính thời vụ và điều kiện kiểm soát còn nhiều hạn chế, nguy cơ mất an toàn thực phẩm có thể gia tăng nếu không có những giải pháp quản lý và nâng cao nhận thức kịp thời.
Lúa mì (tiểu mạch) - Nền tảng của văn minh nông nghiệp nhân loại

Lúa mì (tiểu mạch) - Nền tảng của văn minh nông nghiệp nhân loại

Lúa mì, hay còn gọi là tiểu mạch, có tên khoa học là Triticum spp., là một trong những cây lương thực quan trọng nhất của nhân loại. Cùng với lúa gạo và ngô, lúa mì tạo thành “bộ ba” cây trồng nuôi sống phần lớn dân số thế giới. Không chỉ là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu, lúa mì còn gắn liền với lịch sử phát triển của các nền văn minh cổ đại và hiện đại.
Chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi, hướng tới phát triển nông nghiệp bền vững

Chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi, hướng tới phát triển nông nghiệp bền vững

Sáng 07/4, UBND xã Yên Phú, tỉnh Tuyên Quang tổ chức Hội nghị tọa đàm định hướng chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi, hướng tới phát triển nông nghiệp bền vững năm 2026. Tọa đàm không chỉ là dịp để địa phương xác định hướng đi mới cho sản xuất nông nghiệp, mà còn làm rõ thực trạng sản xuất nông, lâm nghiệp, chăn nuôi, thủy sản, chỉ ra những khó khăn, hạn chế và gợi mở các giải pháp phát huy tiềm năng, lợi thế địa phương trong giai đoạn tới.
Ngô, khoai, sắn - “bệ đỡ” thầm lặng của an ninh lương thực Việt Nam

Ngô, khoai, sắn - “bệ đỡ” thầm lặng của an ninh lương thực Việt Nam

Ngô, khoai và sắn là ba loại cây trồng quen thuộc, gắn bó lâu đời với sản xuất nông nghiệp và đời sống người dân Việt Nam. Không chỉ đóng vai trò là nguồn lương thực bổ sung, chúng còn góp phần quan trọng vào đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu, gia tăng dân số và những biến động khó lường của thị trường toàn cầu.
XEM THÊM
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2025 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính