Thứ tư 28/01/2026 19:04Thứ tư 28/01/2026 19:04 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

GS - VS Đào Thế Tuấn: Nhà khoa học suôt đời vì nông nghiệp, nông dân và nông thôn

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Giáo sư, Viện sĩ Đào Thế Tuấn sinh năm 1931 mất năm 2011 tại TP Huế, nguyên quán huyện Thanh Oai, Hà Nội. Giáo sư là một trong những nhà nghiên cứu đầu ngành về nông nghiệp, nông thôn Việt Nam.
GS - VS Đào Thế Tuấn: Nhà khoa học suôt đời vì nông nghiệp, nông dân và nông thôn
GSVS chuyên gia kinh tế hộ, phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

Giáo sư, Viện sĩ Đào Thế Tuấn là một nhà khoa học nông nghiệp hàng đầu của Việt Nam, người đã có những đóng góp to lớn cho sự phát triển của nền nông nghiệp và nông thôn nước nhà. Ông không chỉ là một nhà nghiên cứu xuất sắc mà còn là một nhà giáo tận tâm, một nhà quản lý tài năng và một trí thức lớn của đất nước. Cuộc đời và sự nghiệp của Giáo sư Đào Thế Tuấn là một minh chứng cho tinh thần học hỏi không ngừng, lòng yêu nước sâu sắc và sự cống hiến hết mình cho khoa học và cộng đồng.

Giáo sư Đào Thế Tuấn sinh ra trong một gia đình trí thức nổi tiếng ở Huế. Cha ông là nhà sử học, nhà văn hóa Đào Duy Anh, một bậc thầy về sử học và văn hóa Việt Nam. Mẹ ông là một nhà giáo và nhà hoạt động xã hội. Sinh ra trong một gia đình có truyền thống hiếu học và yêu nước, Giáo sư Đào Thế Tuấn đã sớm bộc lộ năng khiếu và niềm đam mê với khoa học. Ông tham gia hoạt động cách mạng từ rất sớm và trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam khi còn rất trẻ.

Sau khi tốt nghiệp đại học, ông được cử đi học tập tại Liên Xô và bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ Nông học. Ông là một trong những tiến sĩ vê khoa học nông nghiệp đầu tiên được đào tạo bài bản ở nước ngoài, đặt nền móng cho sự phát triển của ngành khoa học nông nghiệp Việt Nam sau này. Trở về nước, ông công tác tại Học viện Nông lâm (nay là Học viện Nông nghiệp Việt Nam), vừa giảng dạy, vừa nghiên cứu khoa học. Ông đã có những đóng góp quan trọng trong việc xây dựng chương trình đào tạo, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên và thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học của Học viện.

Những nghiên cứu của Giáo sư Đào Thế Tuấn tập trung vào nhiều lĩnh vực của nông nghiệp, đặc biệt là sinh lý thực vật, kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn. Ông đã có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị, được công bố trên các tạp chí khoa học trong và ngoài nước. Ông đặc biệt quan tâm đến vấn đề phát triển nông thôn bền vững, nâng cao đời sống của người nông dân và bảo vệ môi trường. Ông luôn nhấn mạnh vai trò của khoa học công nghệ trong việc phát triển nông nghiệp, đồng thời coi trọng yếu tố văn hóa, xã hội và môi trường trong quá trình phát triển.

Không chỉ là một nhà khoa học, Giáo sư Đào Thế Tuấn còn là một nhà giáo tận tâm, người đã đào tạo nhiều thế hệ kỹ sư, nhà khoa học nông nghiệp cho đất nước. Ông luôn gần gũi, tận tình với học trò, truyền đạt cho họ không chỉ kiến thức chuyên môn mà còn cả lòng yêu nghề, tinh thần say mê nghiên cứu khoa học. Ông cũng là một nhà quản lý tài năng, từng giữ nhiều chức vụ quan trọng trong ngành nông nghiệp. Ông luôn thể hiện sự năng động, sáng tạo và tinh thần trách nhiệm cao trong công việc. Cuộc đời và sự nghiệp của Giáo sư Đào Thế Tuấn là một tấm gương sáng cho các thế hệ sau noi theo, một biểu tượng của tinh thần học hỏi, sáng tạo và cống hiến cho đất nước.

Nghiên cứu đầu tiên của Giáo sư Đào Thế Tuấn là về đạm, với kết quả là phương pháp biến lân thành đạm qua việc bón lân cho bèo hoa dâu và điền thanh. Kết quả này đã được trình bày ở Hội nghị khoa học Bắc Kinh năm 1963 và 2 cuốn sách là cuốn “Phân supe lân và cách sử dụng” và cuốn “Các biện pháp nâng cao hiệu suất phân hoá học”. Sau đó, trong điều kiện bệnh vàng lụi lan rộng ở miền Bắc, Giáo sư đã tổ chức nhóm nghiên cứu để xác định nguyên nhân gây bệnh và phát hiện ra rằng vàng lụi là bệnh virus do rầy xanh đuôi đen là vectơ truyền bệnh. Từ đó Giáo sư Đào Thế Tuấn và cộng sự đã chú ý tìm các giống kháng bệnh, đề xuất biện pháp canh tác phù hợp như bón kali, làm cỏ sục bùn để hạn chế bệnh. Kết quả nghiên cứu đã phát hiện các giống tẻ trắng Tây Bắc, 813, I1, A10 có khả năng kháng bệnh vàng lụi.

Từ năm 1965, nhóm nghiên cứu của Giáo sư Đào Thế Tuấn nghiên cứu sinh lý của ruộng lúa năng suất cao với việc phân tích quá trình quang hợp, dinh dưỡng khoáng, một bước phát triển mới của phương pháp tiếp cận hệ thống. Kết quả nghiên cứu này đặt cơ sở cho việc thâm canh lúa đạt 10 tấn/ha vào những năm 70 của thế kỷ trước và được tổng kết trong cuốn Sinh lý của ruộng lúa năng suất cao. Từ năm 1970, Giáo sư cùng các cộng sự tổ chức nghiên cứu cơ sở sinh lý của việc chọn giống năng suất cao, từ đó chọn lọc và lai tạo được nhiều giống lúa mới như: giống lúa NN75-10 (X1) chịu bệnh bạc lá; giống lúa cực ngắn CN2, cho phép làm vụ mùa sớm, mở rộng vụ đông; giống lúa CR203 chịu rầy nâu, giống lúa chịu phèn V14 và V15... Ngoài ra là các giống ngô số 6, giống S1 ngắn ngày và giống ngô nếp S2; các giống đậu tương AK02 và AK03…

Cuối những năm 70 của thế kỉ XX, Giáo sư Đào Thế Tuấn tổ chức nghiên cứu hoạt động của hệ sinh thái nông nghiệp, triển khai việc nghiên cứu hệ thống canh tác của các vùng sinh thái khác nhau, nhất là các vùng sinh thái khó khăn như vùng chiêm trũng, vùng phèn mặn, vùng lúa nước trời thường gặp hạn. Từ đầu năm 1980, Giáo sư quan tâm đến tiếp cận hệ thống trong khoa học nông nghiệp. Từ việc nghiên cứu hệ thống ruộng lúa tiến đến nghiên cứu hệ thống cây trồng rồi hệ thống nông nghiệp. Giáo sư Đào Thế Tuấn khởi xướng và chủ trì hợp tác với Viện Khoa học nông nghiệp Pháp trong chương trình Hệ thống nông nghiệp lưu vực sông Hồng. Các kết quả nghiên cứu về lĩnh vực này đã được tổng kết trong cuốn “Hệ sinh thái nông nghiệp” là sách giáo khoa đầu tiên về sinh thái học nông nghiệp. Cuối thập kỉ 80 của thế kỉ XX, Giáo sư nghiên cứu hệ thống nông nghiệp với sự kết hợp nghiên cứu kỹ thuật và kinh tế - xã hội, nghiên cứu về các thể chế nông thôn, nhất là thể chế kinh tế hộ nông dân. Giáo sư Đào Thế Tuấn cũng đặc biệt quan tâm đến việc áp dụng các đòn bẩy kinh tế trong việc tổ chức nghiên cứu khoa học và đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất cũng như cải cách kinh tế của các nước, mô hình tổ chức sản xuất trong nông nghiệp cũng như nghiên cứu các vấn đề kinh tế hộ, chuỗi giá trị, thể chế trong phát triển nông thôn... GS Đào Thế Tuấn là một trong những nhà khoa học nông nghiệp nghiên cứu khá toàn diện nông nghiệp, nông dân, nông thôn. GS đã góp phần xứng đáng vào sự tiến bộ của nông nghiệp nước ta trong suốt quá trình đổi mới vào thể chế thị trường và hội nhập.

Với tài năng và công hiến của mình, Giáo sư Đào Thế Tuấn đã được bầu làm Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Nông nghiệp Liên Xô năm 1985; Giáo sư nhận nhiều giải, phần thưởng quốc tế như Huân chương Công trạng nông nghiệp và Huân chương cành cọ Hàn lâm của Pháp năm 1991; Giải thưởng quốc tế René Dumont dành cho các nhà nông học các nước đang phát triển năm 2003; Huân chương Bắc đẩu bội tinh của Chính phủ Pháp. Đảng và nhà nước Việt Nam trao tặng Giáo sư nhiều phần thưởng và danh hiệu cao quý như: Giải thưởng Hồ Chí Minh cho Công trình "Công nghệ sản xuất lúa ở ĐB sông Hồng” năm 2005; Anh hùng Lao động thời kì đổi mới năm 2000; Huân chương Hồ Chí Minh năm 2002… Đầu năm 2023 thành phố Hà Nội đã đặt tên một tuyến phố mang tên Đào Thế Tuấn tại quận Long Biên để tôn vinh những cống hiến của Giáo sư./.

Bài liên quan

Ra mắt công nghệ PLINAZOLIN® giúp bảo vệ cây trồng khỏi nhiều loại sâu hại

Ra mắt công nghệ PLINAZOLIN® giúp bảo vệ cây trồng khỏi nhiều loại sâu hại

Syngenta giới thiệu công nghệ PLINAZOLIN® là công nghệ có thành phần hoạt chất mới và sáng tạo, với cơ chế tác động tiên tiến để kiểm soát côn trùng
Tp. Huế tổ chức hội thảo khoa học “Đô thị Huế trong dòng chảy lịch sử”

Tp. Huế tổ chức hội thảo khoa học “Đô thị Huế trong dòng chảy lịch sử”

Sáng 10/12/2025, tại Khách sạn Duy Tân (Tp. Huế), Hội Khoa học Lịch sử thành phố Huế đã tổ chức Hội thảo khoa học “Đô thị Huế trong dòng chảy lịch sử”

CÁC TIN BÀI KHÁC

Niềm tin cần được xây dựng bằng sự tử tế trong sản xuất - góc nhìn từ vụ Đồ hộp Hạ Long

Niềm tin cần được xây dựng bằng sự tử tế trong sản xuất - góc nhìn từ vụ Đồ hộp Hạ Long

Việc xử lý nghiêm các doanh nghiệp lớn như Công ty Cổ phần Đồ hộp Hạ Long thể hiện tinh thần ‘không có vùng cấm’ trong công tác đảm bảo an toàn thực phẩm. Tuy nhiên, chúng ta cần một cơ chế giám sát từ xa và tự động hóa việc truy xuất nguồn gốc, thay vì chỉ đi giải quyết phần ngọn khi sự việc đã rồi.
Nông nghiệp hữu cơ - Xu thế tất yếu của nông nghiệp hiện đại

Nông nghiệp hữu cơ - Xu thế tất yếu của nông nghiệp hiện đại

Sản xuất nông nghiệp theo chuẩn VietGAP, tuần hoàn, hữu cơ hay nông nghiệp xanh đang trở thành xu thế tất yếu của nông nghiệp hiện đại. Nông nghiệp hữu cơ góp phần tránh hoặc loại bỏ hoàn toàn sản phẩm có chứa chất hóa học, thay vào đó là sử dụng các chế phẩm sinh học không gây hại cho môi trường và các loại sinh vật có lợi, đảm bảo sức khỏe cho người sản xuất và người tiêu dùng.
Bảo tồn và lưu giữ nguồn gen cây nguyên liệu dầu và cây tinh dầu

Bảo tồn và lưu giữ nguồn gen cây nguyên liệu dầu và cây tinh dầu

Tài nguyên di truyền thực vật là một bộ phận của giống, là vật liệu ban đầu để lai tạo ra giống mới và là hạt nhân của đa dạng sinh học nên giữ vai trò rất quan trọng trong chiến lược phát triển nông nghiệp của mỗi quốc gia. Thực tế cho thấy quốc gia nào sở hữu nguồn tài nguyên di truyền sinh vật nói chung và nguồn tài nguyên thực vật nói riêng càng đa dạng và phong phú thì sẽ đạt được nhiều thành tựu nổi bật trong công tác chọn tạo giống mới phục vụ phát triển kinh tế đất nước.
Vai trò của vụ đông trong chiến lược an ninh lương thực quốc gia

Vai trò của vụ đông trong chiến lược an ninh lương thực quốc gia

Khi biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp trên phạm vi toàn cầu, dân số gia tăng, quỹ đất nông nghiệp bị thu hẹp và yêu cầu nâng cao chất lượng sống của người dân ngày càng cao, vấn đề an ninh lương thực không chỉ dừng lại ở việc “đủ ăn” mà còn hướng tới “ăn đủ dinh dưỡng, ăn an toàn và bền vững”.
Kinh tế dữ liệu là động lực tăng trưởng mới trong kỷ nguyên số

Kinh tế dữ liệu là động lực tăng trưởng mới trong kỷ nguyên số

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ, dữ liệu đã trở thành một loại “tài nguyên chiến lược” tương tự như đất đai, lao động hay vốn. Nếu như trước đây dữ liệu chỉ được xem là sản phẩm phụ của các hoạt động kinh tế - xã hội, thì ngày nay, dữ liệu được khai thác, phân tích và chuyển hóa thành giá trị kinh tế to lớn.
Giải "bài toán" hữu cơ và năng suất: Từ tranh luận đến cách tiếp cận khoa học

Giải "bài toán" hữu cơ và năng suất: Từ tranh luận đến cách tiếp cận khoa học

Trong nhiều năm qua, câu hỏi “nông nghiệp hữu cơ có bảo đảm năng suất hay không?” luôn là chủ đề gây tranh luận trong giới hoạch định chính sách, nhà khoa học, doanh nghiệp và nông dân.
Phát triển nông nghiệp hữu cơ: Cần giải pháp đồng bộ để mở rộng “cuộc chơi”

Phát triển nông nghiệp hữu cơ: Cần giải pháp đồng bộ để mở rộng “cuộc chơi”

Nông nghiệp hữu cơ tại Việt Nam đang có những bước phát triển tích cực, thể hiện qua diện tích canh tác mở rộng, số lượng chủ thể tham gia tăng và danh mục sản phẩm ngày càng đa dạng.
Khi đô thị hóa tăng tốc, đất đai trở thành “chìa khóa xanh” của tương lai

Khi đô thị hóa tăng tốc, đất đai trở thành “chìa khóa xanh” của tương lai

Đất khỏe mạnh chính là nền tảng cốt lõi xây dựng các đô thị xanh, kiên cường và bền vững. Hãy cùng khám phá vai trò của đất trong việc bảo đảm an ninh lương thực đô thị và nâng cao chất lượng sống cư dân thành thị.
Kinh tế tuần hoàn ở ĐBSCL: Tiềm năng lớn nhưng chỉ "dám" đầu tư nhỏ

Kinh tế tuần hoàn ở ĐBSCL: Tiềm năng lớn nhưng chỉ "dám" đầu tư nhỏ

Kinh tế tuần hoàn (KTTH) được xem là hướng đi tất yếu giúp Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu, song thực tiễn triển khai gặp nhiều rào cản, khiến doanh nghiệp chưa 'dám' đầu tư quy mô lớn.
Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam cần thu hẹp khoảng cách với "sân chơi" toàn cầu

Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam cần thu hẹp khoảng cách với "sân chơi" toàn cầu

Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam đang có tốc độ phát triển sản xuất nhanh hơn so với bình quân của thế giới. Thế nhưng, quy mô sản xuất theo hướng an toàn và bền vững này của Việt Nam vẫn rất nhỏ so với thế giới.
Nông nghiệp và Môi trường: Bản lĩnh vượt thách thức, giữ vững trụ đỡ phát triển bền vững

Nông nghiệp và Môi trường: Bản lĩnh vượt thách thức, giữ vững trụ đỡ phát triển bền vững

Năm 2025, dù bối cảnh thế giới nhiều biến động, kinh tế phục hồi chậm và biến đổi khí hậu ngày càng khốc liệt, ngành nông nghiệp và môi trường (NN&MT) Việt Nam vẫn khẳng định vai trò trụ đỡ của nền kinh tế, góp phần ổn định vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội.
Thị trường hữu cơ hướng tới mốc nghìn tỷ USD - cơ hội cho Việt Nam

Thị trường hữu cơ hướng tới mốc nghìn tỷ USD - cơ hội cho Việt Nam

Dự báo giai đoạn 2025 - 2034 cho thấy thị trường thực phẩm hữu cơ toàn cầu có thể đạt 1,05 nghìn tỷ USD vào năm 2034. Tại Việt Nam, sản xuất hữu cơ đã mở rộng trên 174.000ha với 17.200 chủ thể tham gia và gần 600 cơ sở chế biến; nhiều địa phương như Nghệ An, Hải Phòng đang cụ thể hóa mục tiêu bằng đề án, lộ trình và định hướng mở rộng vùng sản xuất theo lợi thế sinh thái.
XEM THÊM
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2025 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính