Thứ tư 04/03/2026 12:08Thứ tư 04/03/2026 12:08 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Dong riềng “rớt giá” - nông dân gặp khó trong tiêu thụ sản phẩm

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Những năm qua, cây dong riềng được xem là cây giảm nghèo bền vững và làm giàu của nhiều hộ nông dân tại các xã vùng trồng tỉnh Cao Bằng. Thế nhưng, niên vụ 2025, giá dong riềng bất ngờ “lao dốc”, từ mức 2.800 - 3.000 đồng/kg củ vào năm 2024, xuống chỉ còn 1.200 – 1.400 đồng/kg. Dù chưa rơi vào tình trạng thua lỗ, nhưng lợi nhuận giảm mạnh đã ảnh hưởng trực tiếp đến tâm lý người trồng. Nhiều hộ nông dân tỏ ra dè dặt trong việc tái sản xuất, thậm chí tính đến phương án thu hẹp diện tích trong vụ tới. Thực trạng này không chỉ tác động đến tính ổn định của sản xuất dong riềng, mà còn đặt ra yêu cầu cấp thiết về liên kết tiêu thụ, định hướng thị trường và phát triển bền vững vùng trồng trong thời gian tới.
Dong riềng “rớt giá” - nông dân gặp khó trong tiêu thụ sản phẩm

Gia đình bà Phùng Thị Lành, xóm Bản Quang, xã Trà Lĩnh, trồng gần 5.000 m2 dong riềng, do giá thu mua năm nay giảm sâu nên thu nhập sụt giảm đáng kể. Ảnh Quốc Sơn.

Người trồng thấp thỏm đầu ra giữa mùa thu hoạch

Trong những năm qua, cây dong riềng đã mang lại giá trị kinh tế đáng kể, giúp nông dân tại các xã vùng trồng của Cao Bằng có nguồn thu nhập tương đối ổn định, tạo thêm cơ hội giảm nghèo. Nhờ hiệu quả kinh tế cao, nhiều hộ nông dân đã mở rộng diện tích trồng dong riềng, với giá trị sản xuất cao gấp 3 – 4 lần so với trồng các cây ngô, sắn, lạc và một số cây trồng khác trên cùng diện tích canh tác.

Tuy nhiên, trái ngược với những lợi ích từng mang lại, hiện nay người trồng dong riềng tại Cao Bằng đang gặp khó khăn trong khâu tiêu thụ do giá bán giảm sâu. Việc giá dong riềng “lao dốc” đã và đang tác động trực tiếp đến thu nhập, tâm lý sản xuất của người nông dân ở các vùng trồng trọng điểm.

Xóm Bản Quang, xã Trà Lĩnh có hơn 100 hộ dân, tất cả các hộ đều trồng dong riềng; hộ trồng ít cũng trên 1.000 m2, hộ trồng nhiều lên tới 6.000 – 7.000 m2. Những năm trước, giá thu mua dong riềng ổn định ở mức 2.800 – 3.000 đồng/kg củ tươi, sau khi trừ chi phí sản xuất, mỗi hộ vẫn có thu nhập từ vài chục triệu đến gần trăm triệu đồng mỗi năm. Thế nhưng, năm nay, giá bán giảm mạnh, chỉ còn 1.200 – 1.400 đồng/kg củ tươi, khiến thu nhập của các hộ trồng sụt giảm đáng kể.

Nhiều diện tích dong riềng đã thu hoạch, củ được đóng bao, tập kết ven ruộng hoặc dọc các tuyến đường nhưng chưa có thương lái đến thu mua, khiến người dân không khỏi thấp thỏm lo lắng. Bà Phùng Thị Lành, Trưởng ban Mặt trận xóm Bản Quang, dừng tay thu hoạch dong riềng, cho biết, những năm trước, dong riềng mang lại nguồn thu nhập ổn định cho người dân, góp phần quan trọng vào phát triển sinh kế. “Nhưng không rõ nguyên nhân vì sao năm nay giá thu mua chỉ còn 1.200 – 1.400 đồng/kg củ tươi. Trừ các khoản chi phí sản xuất, người trồng gần như không có lãi”, bà Lành chia sẻ.

Theo bà Lành, gia đình bà hàng năm trồng gần 5.000 m2 dong riềng. Năm 2024, sản lượng đạt gần 25 tấn củ, bán với giá 2.800 – 3.000 đồng/kg củ tươi, mang lại doanh thu khoảng 76 triệu đồng. Sau khi trừ chi phí sản xuất vẫn thu lãi gần 50 triệu đồng. Tuy nhiên, năm nay, với mức giá chỉ còn 1.200 – 1.400 đồng/kg củ tươi, nếu bán hết cũng chỉ thu về gần 30 triệu đồng. Sau khi trừ chi phí sản xuất, lợi nhuận chỉ còn vài triệu đồng và nếu phải thuê thêm nhân công thu hoạch, gia đình không những không có lãi mà còn có nguy cơ thua lỗ. Song năm nay, gia đình vẫn tiếp tục duy trì trồng dong riềng vì so với trồng ngô vẫn cho thu nhập cao hơn trên cùng diện tích canh tác”, bà Lành cho biết thêm.

Dong riềng “rớt giá” - nông dân gặp khó trong tiêu thụ sản phẩm

Ông Trương Phú, xóm Cô Tó B, xã Quang Hán thấp thỏm ngóng chờ thương lái đến thu mua dong riềng. Ảnh Quốc Sơn.

Không chỉ ở xã Trà Lĩnh, tại xóm Bản Tò B và xóm Vững Bền, xã Quang Hán, nhiều nông dân vẫn đang hối hả thu hoạch dong riềng trong không khí trầm lắng. Gia đình ông Trương Phú, xóm Cô Tó B đã trồng dong riềng liên tục 3 năm nay trên diện tích 5.000 m2, với sản lượng bình quân khoảng 28 tấn củ/năm. Trước đây, với giá bán 2.800 – 3.000 đồng/kg củ, sau khi trừ các chi phí phân bón, thuê nhân công thu hoạch, gia đình vẫn còn thu lợi khoảng 50 triệu đồng. “Thế nhưng năm nay, giá dong riềng giảm còn 1.200 – 1.400 đồng/kg, trong khi gia đình phải thuê thêm nhân công để thu hoạch, nên sau khi trừ các khoản chi phí, mặc dù không thua lỗ nhưng lợi nhuận hầu như chẳng còn bao nhiêu”, ông Phú chia sẻ.

Còn ở xóm Vững Bền, gia đình ông Bế Trọng Huân là một trong những hộ mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu cây trồng để thích ứng với điều kiện thực tế. Trước đây, trên diện tích 6.000 m2 đất canh tác, gia đình trồng gần 200 cây quýt, mỗi năm doanh thu gần 20 triệu đồng. Tuy nhiên, đến năm 2019, vườn quýt bị nhiễm bệnh, chết hàng loạt, buộc gia đình phải chặt bỏ toàn bộ và chuyển sang trồng ngô. Dù canh tác 2 vụ ngô/năm, nhưng mỗi vụ chỉ mang lại khoảng 7 triệu đồng, hiệu quả kinh tế không cao.

Trước thực tế đó, năm 2024, gia đình ông Huân tiếp tục tìm hướng đi mới khi chuyển 2.000 m2đất trồng ngô sang trồng dong riềng. Nhờ phù hợp với thổ nhưỡng, diện tích này cho thu hoạch gần 15 tấn củ, mang lại doanh thu hơn 40 triệu đồng. Thấy hiệu quả rõ rệt nên năm 2025, gia đình quyết định chuyển toàn bộ diện tích 6.000 m2 sang trồng dong riềng.

Tuy nhiên, hiệu quả kinh tế không như kỳ vọng. Ông Huân cho biết, đến nay gia đình mới thu hoạch được hơn một nửa diện tích, đã bán ra khoảng 12 tấn củ với giá 1.200 đồng/kg. Dự ước tổng sản lượng đạt hơn 30 tấn củ, song do giá dong riềng giảm mạnh nên doanh thu ước chỉ đạt hơn 40 triệu đồng, tương đương với mức thu của 2.000 m2 trong năm trước. Sau khi trừ chi phí đầu tư hơn 25 triệu đồng, lợi nhuận chỉ còn khoảng gần 15 triệu đồng, nếu phải thuê nhân công thu hoạch thì lãi chỉ còn vài triệu đồng. Vì vậy, dự kiến năm 2026, gia đình ông chỉ trồng 3.000 – 4.000 m2 dong riềng, phần diện tích còn lại quay về trồng ngô kết hợp chăn nuôi để ổn định thu nhập.

Theo Bí thư Đảng uỷ xã Quang Hán, ông Hà Minh Hải, năm 2025, toàn xã trồng hơn 100 ha dong riềng ở hầu hết các xóm, trong đó tập trung trồng nhiều nhất tại khu vực Quang Vinh. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của mưa lũ từ cơn bão số 10 và 11 cuối tháng 9, đầu tháng 10/2025, khoảng 60 ha dong riềng bị ngập úng kéo dài, khiến một phần diện tích bị hư hỏng, phần còn lại giảm năng suất, chất lượng củ.

Sau thiên tai, giá dong riềng tiếp tục giảm sâu, khiến thiệt hại của người trồng càng thêm chồng chất, tác động lớn đến thu nhập và đời sống. Ông Hà Minh Hải cho biết: “Mặc dù giá dong riềng giảm xuống chỉ còn 1.200 – 1.400 đồng/kg củ thì người trồng vẫn có lãi và giá trị sản xuất vẫn cao hơn so với trồng ngô trên cùng diện tích canh tác. Trước những khó khăn về đầu ra và giá cả, xã cũng đã tích cực kết nối với các cơ sở thu mua nhằm tìm giải pháp tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ cho các hộ trồng dong riềng”.

Dong riềng “rớt giá” - nông dân gặp khó trong tiêu thụ sản phẩm

Gia đình ông Bế Trọng Huân, xóm Vững Bền, xã Quang Hán khẩn trương thu hoạch dong riềng trên diện tích còn lại. Ảnh Quốc Sơn.

Triển khai các giải pháp để ổn định sản xuất

Niên vụ 2025, sản xuất dong riềng trên địa bàn tỉnh Cao Bằng tiếp tục phát triển mạnh, với diện tích trồng được mở rộng tại 26 xã, phường trong tổng số 56 xã, phường toàn tỉnh. So với niên vụ 2024, tổng diện tích dong riềng đạt 1.582,31 ha, tăng 70,2%. Diện tích trồng tập trung chủ yếu tại các xã trọng điểm như Nguyễn Huệ, Ca Thành, Phan Thanh, Thành Công, Hà Quảng, Quảng Uyên, Hạnh Phúc, Quang Hán, Trà Lĩnh, Quang Trung và một số địa phương khác. Năng suất bình quân đạt 554 tạ/ha, tăng gần 12%; sản lượng ước đạt 87.660 tấn, tăng 90,4% so với niên vụ 2024, qua đó góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế nông nghiệp địa phương và nâng cao thu nhập cho người dân.

Tuy nhiên, đi cùng với sự gia tăng nhanh về diện tích và sản lượng là những bất cập trong khâu tiêu thụ, thể hiện rõ qua việc giá dong riềng niên vụ 2025 giảm mạnh. Theo ngành nông nghiệp Cao Bằng nguyên nhân chủ yếu là do người dân phát triển diện tích mang tính tự phát, chưa gắn với quy hoạch vùng nguyên liệu, hợp đồng tiêu thụ hay định hướng điều tiết của cơ quan quản lý. Việc thiếu sự liên kết tiêu thụ bền vững đã dẫn đến tình trạng cung vượt cầu, khiến giá cả sụt giảm mạnh.

Bên cạnh đó, củ dong riềng hiện nay trên địa bàn tỉnh chủ yếu được tiêu thụ dưới dạng nguyên liệu thô, phụ thuộc lớn vào thương lái, chiếm khoảng 60 – 70% tổng sản lượng dong riềng, đồng thời phụ thuộc vào thị trường ngoài tỉnh. Do vậy, khi thị trường có biến động, giá cả lập tức “lao dốc”. Việc phụ thuộc vào thương lái cũng khiến người trồng phải chờ thu mua trong thời điểm chính vụ, dẫn đến chất lượng củ dong riềng bị ảnh hưởng, làm hàm lượng tinh bột thấp, gia tăng rủi ro tiêu thụ sản phẩm.

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng rớt giá dong riềng không chỉ xuất phát từ yếu tố thị trường mà còn bắt nguồn từ đặc điểm sản xuất manh mún, quy mô hộ nhỏ lẻ và hạn chế trong năng lực sơ chế, chế biến. Toàn tỉnh hiện có khoảng 300 hộ gia đình, 6 hợp tác xã và 1 cơ sở chế biến miền dong, tinh bột dong riềng, song phần lớn vẫn sản xuất theo phương pháp thủ công, thiết bị máy móc thiếu đồng bộ, năng lực sản xuất thấp, chưa đa dạng hoá được các sản phẩm từ dong riềng.

Dong riềng “rớt giá” - nông dân gặp khó trong tiêu thụ sản phẩm
Nhiều diện tích dong riềng đã thu hoạch, củ dong được đóng bao, tập kết dọc các tuyến đường nhưng chưa có thương lái đến thu mua. Ảnh Quốc Sơn.

Bên cạnh đó, công tác xây dựng thương hiệu, mở rộng thị trường và xúc tiến thương mại chưa được triển khai đồng bộ. Hệ thống bảo quản sau thu hoạch còn hạn chế khiến nông dân phải bán nhanh, bán rẻ. Ngoài ra, quy hoạch vùng nguyên liệu gắn với chế biến và thu hút đầu tư vào chế biến sâu chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, trong khi việc thiếu thông tin thị trường cũng khiến người trồng dong riềng rơi vào thế bị động trong sản xuất và tiêu thụ.

Trước thực trạng đó, tỉnh Cao Bằng đã và đang triển khai nhiều giải pháp nhằm ổn định sản xuất dong riềng. Trước mắt, tỉnh tiến hành rà soát diện tích, sản lượng dong riềng theo từng xã, đánh giá khả năng tiêu thụ làm cơ sở định hướng quy mô sản xuất và quy hoạch vùng trồng dong riềng phù hợp.

Cùng với đó, tỉnh đẩy mạnh phát triển các mô hình liên kết sản xuất – thu mua – chế biến – tiêu thụ dong riềng theo chuỗi giá trị; khuyến khích đầu tư vào chế biến tinh bột, miến dong và đa dạng hoá sản phẩm nhằm giảm áp lực tiêu thụ nguyên liệu thô, nâng cao giá trị gia tăng. Người dân được khuyến cáo không mở rộng diện tích trồng dong riềng tại các khu vực đất dốc, bạc màu, vùng trũng thấp dễ bị ngập úng để đảm bảo chất lượng nguyên liệu và hiệu quả chế biến.

Tỉnh Cao Bằng lựa chọn các hợp tác xã có năng lực làm đầu mối thu mua, sơ chế, chế biến dong riềng tại địa phương; đồng thời đẩy mạnh xây dựng thương hiệu dong riềng Cao Bằng gắn với truy xuất nguồn gốc nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Công tác cung cấp thông tin thị trường, tình hình sản xuất, thời điểm thu hoạch và năng lực chế biến được tăng cường để phục vụ kết nối tiêu thụ và điều hành chung. Cùng với đó, tỉnh tập trung hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút đầu tư chế biến sâu, phát triển vùng nguyên liệu gắn với thị trường tiêu thụ, qua đó tháo gỡ khó khăn cho nông dân, từng bước ổn định sản xuất, hạn chế tình trạng “được mùa, mất giá’, hướng tới phát triển bền vững.

Dù giá thu mua dong riềng năm 2025 giảm mạnh, hiện phổ biến ở mức 1.200 – 1.400 đồng/kg củ và giá tinh bột dong dao động ở mức 11.000 – 14.000 đồng/kg, song giá trị sản xuất vẫn đạt khoảng 70 – 80 triệu đồng/ha, cao hơn 10 – 20 triệu đồng/ha so với trồng ngô, sắn, lạc và một số cây trồng khác trên cùng diện tích canh tác. Ngành nông nghiệp Cao Bằng tiếp tục phối hợp với chính quyền cơ sở tuyên truyền, khuyến cáo người dân ổn định diện tích dong riềng hiện có; khuyến khích các hợp tác xã tham gia liên kết theo chuỗi giá trị, phát triển vùng nguyên liệu dong riềng theo hướng bền vững. Mục tiêu đến năm 2030, toàn tỉnh đạt khoảng 2.000 ha dong riềng, gắn với nâng cao năng lực chế biến và ổn định thị trường tiêu thụ.

Bài liên quan

Từ sản vật vùng cao đến biểu tượng OCOP vươn ra thế giới

Từ sản vật vùng cao đến biểu tượng OCOP vươn ra thế giới

Không chỉ là món ăn truyền thống quen thuộc với người dân miền núi sản phẩm miến dong của Hợp tác xã (HTX) Tài Hoan, xã Côn Minh (Thái Nguyên) đang trở thành một trong những sản phẩm nông sản bản địa tiêu biểu nỗ lực vươn ra thị trường quốc tế.
Cây dong riềng mở hướng phát triển kinh tế nông thôn

Cây dong riềng mở hướng phát triển kinh tế nông thôn

Những ngày cuối tháng Mười, khi cái nắng hanh hao cuối thu nhuộm vàng cây cỏ, cũng là lúc các bản làng của xã Nguyễn Huệ, tỉnh Cao Bằng lại rộn rã bước vào mùa thu hoạch củ dong riềng. Sau một năm trở lại xã Nguyễn Huệ, chúng tôi chứng kiến trên những triền đồi dốc đứng, nơi đất đai khô cằn sỏi đá trước đây, giờ một màu xanh của cây dong riềng đang vươn mình mạnh mẽ. Từ một loại cây trồng lấy củ để nấu rượu, chăn nuôi, giờ cây dong riềng đang mở ra hướng phát triển thành vùng liệu, tạo sinh kế, tăng thu nhập cho người dân.
Miến dong Tân Việt Á vươn ra “biển lớn”

Miến dong Tân Việt Á vươn ra “biển lớn”

Chú trọng đầu tư máy móc hiện đại, xây dựng chuỗi liên kết sản xuất chặt chẽ với nông dân để phát triển vùng nguyên liệu và không ngừng gia tăng giá trị thương hiệu sản phẩm, HTX Nông sản Tân Việt Á, xã Minh Tâm (Cao Bằng) không chỉ đưa sản phẩm miến dong đạt OCOP 4 sao chinh phục thị trường trong nước mà còn xuất khẩu sang thị trường Mỹ, mở ra hướng làm giàu bền vững từ chính đặc sản quê hương.
Cây dong riềng khẳng định vị thế trong phát triển kinh tế của Hoà An

Cây dong riềng khẳng định vị thế trong phát triển kinh tế của Hoà An

Từ lâu, cây dong riềng không còn xa lạ với người dân các xã của huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Là cây trồng phù hợp khí hậu, thổ nhưỡng và sản phẩm có đầu ra ổn định thông qua nghề làm miến dong truyền thống, cây dong riềng trở thành cây trồng chủ lực cho nông dân vùng trồng cơ hội thoát nghèo và đang từng bước khẳng định vị thế vững chắc trong cơ cấu cây trồng và phát triển kinh tế của Hòa An.

CÁC TIN BÀI KHÁC

Phát triển kinh tế biển Nghệ An theo hướng hiện đại, bền vững và đa ngành

Phát triển kinh tế biển Nghệ An theo hướng hiện đại, bền vững và đa ngành

Với đường bờ biển dài hơn 82 km, vùng biển Nghệ An có vị trí chiến lược quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh và hội nhập kinh tế quốc tế. Khi kinh tế biển ngày càng được xác định là động lực tăng trưởng mới,
Hà Nội: Xã Quảng Oai kiểm tra tình hình sản xuất vụ Xuân, tạo động lực phát triển kinh tế địa phương

Hà Nội: Xã Quảng Oai kiểm tra tình hình sản xuất vụ Xuân, tạo động lực phát triển kinh tế địa phương

Những ngày đầu xuân Bính Ngọ 2026, lãnh đạo xã Quảng Oai đã trực tiếp xuống đồng nắm bắt tình hình sản xuất vụ Xuân, kịp thời chỉ đạo tháo gỡ khó khăn cho nông dân, đồng thời khảo sát các mô hình kinh tế tiêu biểu nhằm định hướng phát triển nông nghiệp theo hướng hàng hóa, bền vững.
“Vàng xanh” hữu cơ giữa đại ngàn

“Vàng xanh” hữu cơ giữa đại ngàn

Những năm gần đây, việc trồng quế an toàn, hữu cơ đã được đông đảo người dân ở xã Bảo Nhai, tỉnh Lào Cai triển khai, áp dụng. Việc trồng quế hữu cơ giúp nâng cao giá trị cây quế, tạo đầu ra cho sản phẩm ổn định và bảo vệ môi trường. Quan trọng hơn, hướng người dân đến một nền nông nghiệp xanh, bền vững, thân thiện với môi trường.
Chú trọng phát triển các mô hình sản xuất đạt chứng nhận hữu cơ gắn với liên kết tiêu thụ sản phẩm

Chú trọng phát triển các mô hình sản xuất đạt chứng nhận hữu cơ gắn với liên kết tiêu thụ sản phẩm

Quảng Trị là một tỉnh có nhiều lợi thế về điều kiện tự nhiên, đất đai để phát triển sản xuất nông nghiệp hữu cơ… Bên cạnh đó, chính quyền địa phương các cấp nơi đây luôn chỉ đạo sát sao, khuyến khích việc phát triển nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp xanh trên địa bàn tỉnh. Phóng viên Tạp chí Hữu cơ Việt Nam đã có cuộc trao đổi với ông Trần Thanh Hải - Giám đốc Trung tâm Khuyến nông tỉnh Quảng Trị xoay quanh vấn đề phát triển các mô hình sản xuất đạt chứng nhận hữu cơ trên địa bàn tỉnh.
Kỳ vọng trên những cánh đồng thu tín chỉ carbon

Kỳ vọng trên những cánh đồng thu tín chỉ carbon

Từ những cánh đồng lúa hay diện tích rừng sản xuất quen thuộc, người dân trên địa bàn Thanh Hóa đã bắt đầu làm quen với khái niệm 'giảm phát thải' và 'tín chỉ carbon'. Mỗi hạt lúa, khoảnh rừng được cấp tín chỉ carbon chính là 'biểu tượng' cho nền nông nghiệp xanh, hiện đại và có trách nhiệm với khí hậu. Đồng thời, mở ra hướng sản xuất nông nghiệp giá trị kinh tế cao, có sức cạnh tranh trên thị trường.
Nuôi ngao theo tiêu chuẩn quốc tế, tạo bứt phá cho kinh tế ven biển

Nuôi ngao theo tiêu chuẩn quốc tế, tạo bứt phá cho kinh tế ven biển

Việc các hộ dân ở Kim Sơn, Kim Đông (Ninh Bình) chủ động nguồn giống kết hợp áp dụng nuôi ngao theo tiêu chuẩn ASC đã góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập, nâng cao đời sống người dân ven biển; đồng thời bảo vệ hệ sinh thái bãi bồi, giảm thiểu rác thải và tạo điều kiện cho các loài sinh vật khác phát triển.
Tìm hướng phát triển cho "thủ phủ" hành, tỏi ở miền Bắc

Tìm hướng phát triển cho "thủ phủ" hành, tỏi ở miền Bắc

Tại các phường Kinh Môn, Nguyễn Đại Năng, Bắc An Phụ, Nam An Phụ, Nhị Chiểu, Phạm Sư Mạnh... (thành phố Hải Phòng) có hơn 4.000 ha trồng hành, tỏi nên vốn được mệnh danh là 'thủ phủ' hành, tỏi của miền Bắc. Đất đai dần thoái hóa, đầu ra phụ thuộc thương lái là những 'nút thắt' mà Hải Phòng đang tìm cách tháo gỡ, nhằm định hướng phát triển bền vững cho 'thủ phủ' hành, tỏi này.
Người dân xã Chấn Thịnh nô nức xuống đồng gieo cấy vụ xuân

Người dân xã Chấn Thịnh nô nức xuống đồng gieo cấy vụ xuân

Ngay từ những ngày đầu năm mới Bính Ngọ, nông dân xã Chấn Thịnh đã khẩn trương xuống đồng gieo cấy vụ xuân. Trên những cánh đồng màu mỡ, không khí lao động diễn ra sôi nổi, hứa hẹn một mùa sản xuất bội thu.
Nông nghiệp xanh trong chuỗi cung ứng tôm

Nông nghiệp xanh trong chuỗi cung ứng tôm

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt, tài nguyên thiên nhiên chịu áp lực lớn và thị trường thế giới liên tục nâng cao các tiêu chuẩn môi trường - xã hội - quản trị (ESG), nông nghiệp xanh không còn là một lựa chọn, mà đã trở thành con đường phát triển tất yếu của ngành thủy sản Việt nói chung, ngành tôm nói riêng.
Phấn đấu giá trị sản phẩm trên đất trồng trọt đạt 126 triệu đồng/ha

Phấn đấu giá trị sản phẩm trên đất trồng trọt đạt 126 triệu đồng/ha

Năm 2026, Thái Nguyên đặt mục tiêu phát triển nông nghiệp ở mức cao trong bối cảnh trình độ canh tác giữa các địa bàn sau sáp nhập đơn vị hành chính còn chênh lệch. Tại một số xã khu vực phía Bắc, việc tiếp cận và áp dụng các phương thức sản xuất tiên tiến, hiện đại còn chậm, ảnh hưởng đến hiệu quả chung của toàn ngành.
Xây dựng thương hiệu: “Đòn bẩy” để nông nghiệp hữu cơ Việt Nam vươn xa

Xây dựng thương hiệu: “Đòn bẩy” để nông nghiệp hữu cơ Việt Nam vươn xa

Trong bối cảnh người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến sức khỏe và môi trường, nông nghiệp hữu cơ được xem là xu hướng tất yếu của phát triển bền vững. Tại Việt Nam, sản xuất nông nghiệp hữu cơ đã có những bước tiến đáng kể, với hàng nghìn hecta canh tác và hàng trăm doanh nghiệp, hợp tác xã tham gia. Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhiều sản phẩm hữu cơ vẫn loay hoay tìm chỗ đứng trên thị trường. Một trong những “nút thắt” lớn nhất chính là truyền thông và xây dựng thương hiệu chưa tương xứng với tiềm năng.
Trồng táo Đại Mật 06 trong nhà lưới thích ứng biến đổi khí hậu

Trồng táo Đại Mật 06 trong nhà lưới thích ứng biến đổi khí hậu

Không chỉ dừng lại ở việc chuyển giao giống mới, Trung tâm Khuyến nông quốc gia còn thể hiện rõ vai trò định hướng, dẫn dắt và kết nối giữa khoa học công nghệ người nông dân thị trường trong xây dựng mô hình sản xuất nông nghiệp hiện đại, từ việc lựa chọn giống cây trồng có đầy đủ cơ sở pháp lý và khoa học, đến việc tổ chức trình diễn, hướng dẫn kỹ thuật, hoàn thiện quy trình sản xuất đạt chuẩn VietGAP.
XEM THÊM
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2025 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính