ki-niem-15-voaa
Thứ ba 07/07/2026 22:07Thứ ba 07/07/2026 22:07 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Đồng Nai quy hoạch vùng sản xuất và định hướng phát triển Nông nghiệp Hữu cơ

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Tỉnh Đồng Nai đã ban hành Quyết định số 2327/QĐ-UBND về việc phê duyệt Đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ (NNHC) trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2021-2030, đồng thời có quy hoạch vùng sản xuất và định hướng phát triển NNHC.
Đồng Nai tập trung phát triển NNHC
Đồng Nai tập trung phát triển NNHC

Phát triển NNHC được Nghị quyết số 19-NQ/TW Hội nghị lần thứ V, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII xác định “…khuyến khích phát triển nông nghiệp xanh, hữu cơ, tuần hoàn;....; Phát huy lợi thế vùng, miền, địa phương, tổ chức sản xuất kinh doanh nông nghiệp theo chuỗi giá trị, dựa trên nền tảng khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo”.

Chính vì thế, tại Đại hội đại biểu lần thứ XI Đảng bộ tỉnh Đồng Nai nhiệm kỳ 2020-2025 đã xác định một trong các khâu đột phá, đó là: “Tập trung phát triển nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao theo hướng sản xuất hàng hóa, gắn với thị trường tiêu thụ sản phẩm; công nghiệp chế biến sâu nông sản và các dịch vụ nông nghiệp để nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững”.

Tỉnh Đồng Nai đã ban hành Nghị quyết số 05/2023/NQ-HĐND ngày 14/7/2023 của Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Nai quy định về chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đến năm 2030; Ø Phê duyệt Đề án phát triển sản xuất nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2021-2030 tại Quyết định số 2327/QĐ-UBND ngày 28/9/2023; Ø Tỉnh đã triển khai thực hiện chương trình nông nghiệp hữu cơ bằng các kế hoạch 5 năm, kế hoạch hàng năm.

Thực trạng phát triển NNHC tỉnh Đồng Nai

Tính đến cuối năm 2022, trên địa bàn tỉnh Đồng Nai có 76 cơ sở sản xuất NNHC và hướng hữu cơ; trong đó, sản xuất hữu cơ có 3 cơ sở với tổng diện tích 8,2 ha (rau 2 cơ sở, 3,8 ha; hồ tiêu 1 cơ sở 3,5 ha; bưởi 1 cơ sở 0,9 ha) và sản xuất hướng theo hữu cơ 72 cơ sở (cây ăn quả 39 cơ sở 1.077,49 ha; rau 11 cơ sở 81,2 ha; lúa 3 cơ sở 33,7 ha; hồ tiêu 2 cơ sở 27,28 ha; nuôi heo 5 cơ sở 540 con; nuôi gà 1 cơ sở 3.000 con; nuôi tôm nước lợ 1 cơ sở 2,5 ha; các loại sản phẩm khác 11 cơ sở 419,36 ha).

Theo đánh giá chung, quy mô phát triển NNHC tại tỉnh Đồng Nai còn rất nhỏ, các mô hình NNHC và hướng theo Hữu cơ chưa thực hiện đúng quy định, tập trung ở các khu đông dân cư, khu công nghiệp nên nguy cơ ô nhiễm cao và rất nhiều vấn đề khác.

Định hướng phát triển NNHC trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

Dựa trên việc đánh giá nguồn lực, các điều kiện tự nhiên thuận lợi cũng như khó khăn; hiện trạng và dự báo về quy mô dân số và mật độ dân số; hiện trạng và quy hoạch các khu, cụm công nghiệp, hiện trạng và quy hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn; kết quả khảo sát môi trường đất, nước; kết quả xây dựng bản đồ các đơn vị đất đai và đánh giá thích nghi cây trồng; tiêu chí lựa chọn vùng sản xuất NNHC tập trung và các điểm sản xuất NNHC không tập trung… tỉnh Đồng Nai đã đưa ra định hướng phát triển NNHC cụ thể như sau”

Mục tiêu tổng quát: Phát triển NNHC trên địa bàn tỉnh Đồng Nai nhằm tạo ra sản phẩm có giá trị và chất lượng cao, an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường để thích ứng với biến đổi khí hậu, nâng cao thu nhập cho người sản xuất và bảo đảm sức khỏe cho cả cộng đồng.

Mục tiêu cụ thể:

  • Xác định đối tượng ưu tiên phát triển NNHC trong giai đoạn 2021 – 2030 như những mô hình điểm để nhân ra diện rộng trong các giai đoạn sau năm 2030; theo đó, các đối tượng phát triển NNHC giai đoạn 2021 – 2030 là: cây lúa, cây rau thực phẩm, cây công nghiệp lâu năm (hồ tiêu, điều); cây ăn quả (bưởi, sầu riêng, xoài, chuối, chôm chôm); chăn nuôi (bò, heo, gia cầm); phát huy lợi thế nuôi trồng thủy sản hướng hữu cơ theo hình thức quảng canh dưới tán rừng (tôm sú, cá chẽm, cua biển, hàu và một số đối tượng nước lợ khác).
  • Đến năm 2025, tổng diện tích gieo trồng hữu cơ và hướng hữu cơ trên địa bàn tỉnh là 1.322 ha, chiếm 0,29% diện tích đất sản xuất nông nghiệp toàn tỉnh; trong đó diện tích gieo trồng hướng hữu cơ 1.250 ha, chiếm 0,27% diện tích đất sản xuất nông nghiệp toàn tỉnh; diện tích gieo trồng hữu cơ 72 ha, chiếm 0,02% diện tích đất sản xuất nông nghiệp toàn tỉnh. Chăn nuôi bước đầu chỉ có chăn nuôi hướng hữu cơ; trong đó, đàn bò 290 con; đàn heo 1.700 con, đàn gia cầm 100.000 con. Thủy sản nuôi hướng hữu cơ theo hình thức quảng canh dưới tán rừng (tôm sú, cá chẽm, cua biển, hàu và một số đối tượng nước lợ khác) với diện tích là 200 ha.
  • Đến năm 2030, tổng diện tích gieo trồng hữu cơ và hướng hữu cơ trên địa bàn tỉnh là 4.400 ha, chiếm 2,13% diện tích đất sản xuất nông nghiệp toàn tỉnh; trong đó diện tích gieo trồng hướng hữu cơ 3.242 ha, chiếm 1,57% diện tích đất sản xuất nông nghiệp toàn tỉnh; diện tích gieo trồng hữu cơ 1.158 ha, chiếm 0,56% diện tích đất sản xuất nông nghiệp toàn tỉnh. Đàn bò 1.030 con trong đó, hướng hữu cơ 680 con, hữu cơ 350 con; đàn heo 10.200 con; trong đó hướng hữu cơ 7.850 con, hữu cơ 2.350 con; đàn gia cầm 507.500 con; trong đó, hướng hữu cơ 375.000 con, hữu cơ 132.500 con. Thủy sản nuôi hướng hữu cơ theo hình thức quảng canh dưới tán rừng với diện tích nuôi là 400 ha.

Giải pháp thực hiện

  • Nhóm giải pháp về tuyên truyền, vận động và chỉ đạo điều hành đối với phát triển NNHC với mục tiêu để cả người sản xuất và người tiêu dùng thấy rõ vai trò, ý nghĩa của NNHC; đồng thời tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với sản xuất với NNHC.
  • Nhóm giải pháp về đào tạo, tập huấn và phát triển nguồn nhân lực: Tập huấn cho cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng lao động trong ngành.
  • Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển NNHC để có cơ chế, chính sách đặc thù hỗ trợ sản xuất NNHC.
  • Nhóm giải pháp về thành lập các hợp tác xã để liên kết với doanh nghiệp, hình thành và nâng cấp chuỗi giá trị sản phẩm NNHC.
  • Giải pháp về chuyển đổi số trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ.
  • Nhóm giải pháp về ứng dụng và chuyển giao công nghệ trong NNHC.
  • Nhóm giải pháp về xây dựng thương hiệu, XTTM và mở rộng thị trường.
  • Các dự án ưu tiên đầu tư trong sản xuất NNHC.

Bài liên quan

Đồng Nai đẩy mạnh phát triển nông nghiệp hữu cơ

Đồng Nai đẩy mạnh phát triển nông nghiệp hữu cơ

Đồng Nai đặt mục tiêu đến năm 2030 sẽ có 4.400 ha đất trồng trọt và chăn nuôi hữu cơ, tập trung vào các loại cây trồng chủ lực như lúa, rau, hồ tiêu, bưởi, sầu riêng, xoài, chuối và điều.
Bứt phá phát triển nông nghiệp hữu cơ

Bứt phá phát triển nông nghiệp hữu cơ

Đồng Nai đạt nhiều thành tựu vượt bậc trong phát triển nông nghiệp hữu cơ, hướng tới một nền nông nghiệp xanh.

CÁC TIN BÀI KHÁC

Phát động bình chọn các điển hình tiên tiến phát triển nông nghiệp hữu cơ Việt Nam năm 2026

Phát động bình chọn các điển hình tiên tiến phát triển nông nghiệp hữu cơ Việt Nam năm 2026

Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam (VOAA) vừa có Công văn đề nghị Ủy ban nhân dân, Sở Nông nghiệp và Môi trường các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phối hợp giới thiệu, đề cử các tập thể, cá nhân tiêu biểu tham gia Chương trình “Lễ tôn vinh điển hình tiên tiến phát triển nông nghiệp hữu cơ Việt Nam lần thứ III – 2026”.
Nuôi trùn quế dưới điện mặt trời: Lợi ích “kép” trên một diện tích

Nuôi trùn quế dưới điện mặt trời: Lợi ích “kép” trên một diện tích

Tận dụng phần diện tích bên dưới các tấm pin để nuôi trùn quế đang mở ra hướng kết hợp giữa sản xuất năng lượng tái tạo và nông nghiệp hữu cơ tuần hoàn. Tuy nhiên, để mô hình phát huy hiệu quả, chủ đầu tư phải giải quyết đồng thời các yêu cầu về kỹ thuật nuôi, an toàn điện, môi trường, đất đai và đầu ra sản phẩm.
Lợi ích của thị trường carbon đối với Việt Nam

Lợi ích của thị trường carbon đối với Việt Nam

Biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp, việc cắt giảm phát thải khí nhà kính đã trở thành ưu tiên hàng đầu của nhiều quốc gia. Tuy nhiên, giảm phát thải không chỉ là vấn đề môi trường mà còn liên quan mật thiết đến tăng trưởng kinh tế, năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững.
Một số vấn đề về phát triển nông nghiệp xanh ở Việt Nam

Một số vấn đề về phát triển nông nghiệp xanh ở Việt Nam

Phát triển nông nghiệp xanh đang trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm hướng tới tăng trưởng bền vững ở Việt Nam. Tuy nhiên, quá trình này vẫn đối mặt với nhiều khó khăn như quy mô sản xuất nhỏ lẻ, hạn chế về công nghệ, nguồn vốn và thị trường. Việc tháo gỡ các rào cản sẽ tạo động lực cho nông nghiệp xanh phát triển hiệu quả.
Bảo tồn và phát huy giá trị vườn quốc gia Cát Bà - di sản thiên nhiên thế giới thực trạng và giải pháp

Bảo tồn và phát huy giá trị vườn quốc gia Cát Bà - di sản thiên nhiên thế giới thực trạng và giải pháp

Vườn quốc gia Cát Bà, thành phần của Di sản Thiên nhiên Thế giới Vịnh Hạ Long - Quần đảo Cát Bà, đang đối mặt với áp lực từ du lịch và biến đổi môi trường. Bài viết phân tích thực trạng bảo tồn, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm phát huy giá trị di sản theo hướng bền vững.
Ứng dụng phân hữu cơ vi sinh trong canh tác lúa để giảm sử dụng phân hóa học

Ứng dụng phân hữu cơ vi sinh trong canh tác lúa để giảm sử dụng phân hóa học

Nghiên cứu đánh giá hiệu quả ứng dụng phân hữu cơ vi sinh trong canh tác lúa nhằm giảm sử dụng phân hóa học. Kết quả cho thấy có thể giảm 20–30% lượng phân hóa học mà vẫn duy trì hoặc tăng năng suất, đồng thời cải thiện độ phì đất, bảo vệ môi trường và nâng cao hiệu quả kinh tế cho nông dân.
Cấu trúc quản trị rừng và tác động đến hiệu quả môi trường - bằng chứng từ dữ liệu cấp tỉnh tại Việt Nam

Cấu trúc quản trị rừng và tác động đến hiệu quả môi trường - bằng chứng từ dữ liệu cấp tỉnh tại Việt Nam

Nghiên cứu này phân tích mối quan hệ giữa cấu trúc quản trị rừng và hiệu quả môi trường tại Việt Nam, dựa trên dữ liệu tổng hợp từ 12 tỉnh theo báo cáo của các địa phương năm 2025. Kết quả cho thấy, hiệu quả môi trường (được phản ánh thông qua số vụ vi phạm lâm nghiệp và tiềm năng hấp thụ carbon) không phụ thuộc đơn thuần vào quy mô tài nguyên rừng, mà chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi cấu trúc quản trị, đặc biệt là mức độ phân cấp và xác lập quyền sở hữu rừng
Xây dựng thương hiệu quốc gia giúp nông sản Việt gia tăng giá trị bền vững

Xây dựng thương hiệu quốc gia giúp nông sản Việt gia tăng giá trị bền vững

Việc xây dựng thương hiệu quốc gia không chỉ nhằm giúp nông sản Việt bán được nhiều sản phẩm hơn, mà là để bán được giá cao hơn, đem về nhiều giá trị hơn cho đất nước, cho doanh nghiệp và đặc biệt là mang lại giá trị bền vững cho người nông dân.
Hiện trạng và giải pháp phát triển bền vững cây mắc ca tại tỉnh Đắk Lắk

Hiện trạng và giải pháp phát triển bền vững cây mắc ca tại tỉnh Đắk Lắk

Tỉnh Đắk Lắk có điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển cây mắc ca, các nghiên cứu trồng khảo nghiệm mắc ca được thực hiện từ đầu những năm 2000 (năm 2002, 2004), kết quả cho thấy cây mắc ca có sự thích nghi tốt và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người trồng.
Tác động của nông nghiệp hữu cơ đối với sức khỏe đất và đa dạng sinh học

Tác động của nông nghiệp hữu cơ đối với sức khỏe đất và đa dạng sinh học

Đất là nền tảng quan trọng của nông nghiệp hữu cơ. Canh tác hữu cơ chú trọng bảo vệ độ phì nhiêu của đất bằng phân hữu cơ, phân xanh và các biện pháp sinh học. Đất khỏe giúp cây trồng phát triển bền vững, nâng cao chất lượng nông sản, bảo vệ môi trường và hệ sinh thái.
Nông nghiệp, nông dân, nông thôn - mối quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước

Nông nghiệp, nông dân, nông thôn - mối quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước

Nông dân là lực lượng lao động chủ yếu ở nông thôn, sống bằng sản xuất nông nghiệp và các ngành nghề liên quan đến đất đai. Họ hình thành giai cấp nông dân với vai trò quan trọng trong xã hội, quyền sở hữu ruộng đất khác nhau tùy theo lịch sử và quốc gia.
Nghiên cứu chọn lọc cặp lai tằm thầu dầu lá sắn thích hợp nuôi ở vùng Tây Nguyên

Nghiên cứu chọn lọc cặp lai tằm thầu dầu lá sắn thích hợp nuôi ở vùng Tây Nguyên

Để lựa chọn được cặp lai tằm thầu dầu lá sắn (viết tắt là tằm sắn) thích ứng với điều kiện nóng ẩm vào mùa mưa của các tỉnh Tây Nguyên, thí nghiệm đã tiến hành đánh giá 6 cặp lai tằm sắn trong điều kiện nhiệt ẩm độ cao.
XEM THÊM
dam-ca-mau-chi-vi-hoa
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2025 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính