ki-niem-15-voaa
Thứ tư 14/10/2026 12:15Thứ tư 14/10/2026 12:15 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Đồng Nai quy hoạch vùng sản xuất và định hướng phát triển Nông nghiệp Hữu cơ

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Tỉnh Đồng Nai đã ban hành Quyết định số 2327/QĐ-UBND về việc phê duyệt Đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ (NNHC) trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2021-2030, đồng thời có quy hoạch vùng sản xuất và định hướng phát triển NNHC.
Đồng Nai tập trung phát triển NNHC
Đồng Nai tập trung phát triển NNHC

Phát triển NNHC được Nghị quyết số 19-NQ/TW Hội nghị lần thứ V, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII xác định “…khuyến khích phát triển nông nghiệp xanh, hữu cơ, tuần hoàn;....; Phát huy lợi thế vùng, miền, địa phương, tổ chức sản xuất kinh doanh nông nghiệp theo chuỗi giá trị, dựa trên nền tảng khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo”.

Chính vì thế, tại Đại hội đại biểu lần thứ XI Đảng bộ tỉnh Đồng Nai nhiệm kỳ 2020-2025 đã xác định một trong các khâu đột phá, đó là: “Tập trung phát triển nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao theo hướng sản xuất hàng hóa, gắn với thị trường tiêu thụ sản phẩm; công nghiệp chế biến sâu nông sản và các dịch vụ nông nghiệp để nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững”.

Tỉnh Đồng Nai đã ban hành Nghị quyết số 05/2023/NQ-HĐND ngày 14/7/2023 của Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Nai quy định về chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đến năm 2030; Ø Phê duyệt Đề án phát triển sản xuất nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2021-2030 tại Quyết định số 2327/QĐ-UBND ngày 28/9/2023; Ø Tỉnh đã triển khai thực hiện chương trình nông nghiệp hữu cơ bằng các kế hoạch 5 năm, kế hoạch hàng năm.

Thực trạng phát triển NNHC tỉnh Đồng Nai

Tính đến cuối năm 2022, trên địa bàn tỉnh Đồng Nai có 76 cơ sở sản xuất NNHC và hướng hữu cơ; trong đó, sản xuất hữu cơ có 3 cơ sở với tổng diện tích 8,2 ha (rau 2 cơ sở, 3,8 ha; hồ tiêu 1 cơ sở 3,5 ha; bưởi 1 cơ sở 0,9 ha) và sản xuất hướng theo hữu cơ 72 cơ sở (cây ăn quả 39 cơ sở 1.077,49 ha; rau 11 cơ sở 81,2 ha; lúa 3 cơ sở 33,7 ha; hồ tiêu 2 cơ sở 27,28 ha; nuôi heo 5 cơ sở 540 con; nuôi gà 1 cơ sở 3.000 con; nuôi tôm nước lợ 1 cơ sở 2,5 ha; các loại sản phẩm khác 11 cơ sở 419,36 ha).

Theo đánh giá chung, quy mô phát triển NNHC tại tỉnh Đồng Nai còn rất nhỏ, các mô hình NNHC và hướng theo Hữu cơ chưa thực hiện đúng quy định, tập trung ở các khu đông dân cư, khu công nghiệp nên nguy cơ ô nhiễm cao và rất nhiều vấn đề khác.

Định hướng phát triển NNHC trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

Dựa trên việc đánh giá nguồn lực, các điều kiện tự nhiên thuận lợi cũng như khó khăn; hiện trạng và dự báo về quy mô dân số và mật độ dân số; hiện trạng và quy hoạch các khu, cụm công nghiệp, hiện trạng và quy hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn; kết quả khảo sát môi trường đất, nước; kết quả xây dựng bản đồ các đơn vị đất đai và đánh giá thích nghi cây trồng; tiêu chí lựa chọn vùng sản xuất NNHC tập trung và các điểm sản xuất NNHC không tập trung… tỉnh Đồng Nai đã đưa ra định hướng phát triển NNHC cụ thể như sau”

Mục tiêu tổng quát: Phát triển NNHC trên địa bàn tỉnh Đồng Nai nhằm tạo ra sản phẩm có giá trị và chất lượng cao, an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường để thích ứng với biến đổi khí hậu, nâng cao thu nhập cho người sản xuất và bảo đảm sức khỏe cho cả cộng đồng.

Mục tiêu cụ thể:

  • Xác định đối tượng ưu tiên phát triển NNHC trong giai đoạn 2021 – 2030 như những mô hình điểm để nhân ra diện rộng trong các giai đoạn sau năm 2030; theo đó, các đối tượng phát triển NNHC giai đoạn 2021 – 2030 là: cây lúa, cây rau thực phẩm, cây công nghiệp lâu năm (hồ tiêu, điều); cây ăn quả (bưởi, sầu riêng, xoài, chuối, chôm chôm); chăn nuôi (bò, heo, gia cầm); phát huy lợi thế nuôi trồng thủy sản hướng hữu cơ theo hình thức quảng canh dưới tán rừng (tôm sú, cá chẽm, cua biển, hàu và một số đối tượng nước lợ khác).
  • Đến năm 2025, tổng diện tích gieo trồng hữu cơ và hướng hữu cơ trên địa bàn tỉnh là 1.322 ha, chiếm 0,29% diện tích đất sản xuất nông nghiệp toàn tỉnh; trong đó diện tích gieo trồng hướng hữu cơ 1.250 ha, chiếm 0,27% diện tích đất sản xuất nông nghiệp toàn tỉnh; diện tích gieo trồng hữu cơ 72 ha, chiếm 0,02% diện tích đất sản xuất nông nghiệp toàn tỉnh. Chăn nuôi bước đầu chỉ có chăn nuôi hướng hữu cơ; trong đó, đàn bò 290 con; đàn heo 1.700 con, đàn gia cầm 100.000 con. Thủy sản nuôi hướng hữu cơ theo hình thức quảng canh dưới tán rừng (tôm sú, cá chẽm, cua biển, hàu và một số đối tượng nước lợ khác) với diện tích là 200 ha.
  • Đến năm 2030, tổng diện tích gieo trồng hữu cơ và hướng hữu cơ trên địa bàn tỉnh là 4.400 ha, chiếm 2,13% diện tích đất sản xuất nông nghiệp toàn tỉnh; trong đó diện tích gieo trồng hướng hữu cơ 3.242 ha, chiếm 1,57% diện tích đất sản xuất nông nghiệp toàn tỉnh; diện tích gieo trồng hữu cơ 1.158 ha, chiếm 0,56% diện tích đất sản xuất nông nghiệp toàn tỉnh. Đàn bò 1.030 con trong đó, hướng hữu cơ 680 con, hữu cơ 350 con; đàn heo 10.200 con; trong đó hướng hữu cơ 7.850 con, hữu cơ 2.350 con; đàn gia cầm 507.500 con; trong đó, hướng hữu cơ 375.000 con, hữu cơ 132.500 con. Thủy sản nuôi hướng hữu cơ theo hình thức quảng canh dưới tán rừng với diện tích nuôi là 400 ha.

Giải pháp thực hiện

  • Nhóm giải pháp về tuyên truyền, vận động và chỉ đạo điều hành đối với phát triển NNHC với mục tiêu để cả người sản xuất và người tiêu dùng thấy rõ vai trò, ý nghĩa của NNHC; đồng thời tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với sản xuất với NNHC.
  • Nhóm giải pháp về đào tạo, tập huấn và phát triển nguồn nhân lực: Tập huấn cho cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng lao động trong ngành.
  • Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển NNHC để có cơ chế, chính sách đặc thù hỗ trợ sản xuất NNHC.
  • Nhóm giải pháp về thành lập các hợp tác xã để liên kết với doanh nghiệp, hình thành và nâng cấp chuỗi giá trị sản phẩm NNHC.
  • Giải pháp về chuyển đổi số trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ.
  • Nhóm giải pháp về ứng dụng và chuyển giao công nghệ trong NNHC.
  • Nhóm giải pháp về xây dựng thương hiệu, XTTM và mở rộng thị trường.
  • Các dự án ưu tiên đầu tư trong sản xuất NNHC.

Bài liên quan

Đồng Nai đẩy mạnh phát triển nông nghiệp hữu cơ

Đồng Nai đẩy mạnh phát triển nông nghiệp hữu cơ

Đồng Nai đặt mục tiêu đến năm 2030 sẽ có 4.400 ha đất trồng trọt và chăn nuôi hữu cơ, tập trung vào các loại cây trồng chủ lực như lúa, rau, hồ tiêu, bưởi, sầu riêng, xoài, chuối và điều.
Bứt phá phát triển nông nghiệp hữu cơ

Bứt phá phát triển nông nghiệp hữu cơ

Đồng Nai đạt nhiều thành tựu vượt bậc trong phát triển nông nghiệp hữu cơ, hướng tới một nền nông nghiệp xanh.

CÁC TIN BÀI KHÁC

Ứng dụng công nghệ số trong quản lý sản xuất nông nghiệp hữu cơ và giải pháp phát triển bền vững

Ứng dụng công nghệ số trong quản lý sản xuất nông nghiệp hữu cơ và giải pháp phát triển bền vững

Nông nghiệp hữu cơ đối mặt nhiều thách thức về chi phí giám sát, rủi ro dịch bệnh và tính minh bạch. Việc ứng dụng công nghệ số như IoT, AI, Blockchain, Big Data và UAV tạo ra bước ngoặt giúp tối ưu hóa quản lý, kiểm soát tiêu chuẩn nghiêm ngặt và công khai chuỗi giá trị. Bài viết phân tích thực trạng, hạ tầng công nghệ, tác động kinh tế - sinh thái, rào cản cốt lõi và đề xuất giải pháp phát triển bền vững.
Nước tưới hoạt hóa bằng khoáng chất và ánh sáng mặt trời giúp năng suất cây trồng tăng tới hơn 100%

Nước tưới hoạt hóa bằng khoáng chất và ánh sáng mặt trời giúp năng suất cây trồng tăng tới hơn 100%

Các thử nghiệm đồng ruộng quy mô lớn trải dài từ Hắc Long Giang đến Hải Nam cho thấy nước tưới được xử lý bằng khoáng chất tự nhiên hoạt hóa dưới ánh nắng có thể nâng năng suất lúa tới 40,6%, mía 45,7% và khoai lang 109,5%, theo nhóm nhà khoa học thuộc Đại học Bắc Kinh.
Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 3: Từ nhận thức đến hành động

Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 3: Từ nhận thức đến hành động

Chuyển đổi hệ thống lương thực – thực phẩm không thể thành công nếu chỉ trông chờ vào một chính sách, một ngành, một doanh nghiệp hay một nhóm người. Việt Nam đã có Kế hoạch hành động quốc gia theo Quyết định 300/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, nhưng trong quá trình thực hiện vẫn gặp những khó khăn về nguồn lực, hướng dẫn, dữ liệu và năng lực của các bên. Điều quan trọng lúc này là biến mục tiêu lớn thành những việc cụ thể, để Nhà nước, địa phương, người sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp, nhà khoa học, truyền thông và người tiêu dùng cùng tạo ra thay đổi. Chuyển đổi chỉ thực sự xảy ra khi mỗi mắt xích nhận rõ trách nhiệm và cùng hành động.
Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 2: Từ cánh đồng đến thị trường

Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 2: Từ cánh đồng đến thị trường

Một nền nông nghiệp có thể tạo ra hàng triệu tấn lương thực, thực phẩm mỗi năm nhưng vẫn còn những điểm nghẽn trên hành trình từ cánh đồng đến bàn ăn. Người sản xuất có thể làm ra sản phẩm nhưng chưa chắc có thị trường ổn định, doanh nghiệp có thể có đơn hàng nhưng chưa chắc có vùng nguyên liệu bền vững, sản phẩm có chất lượng nhưng vẫn có thể mất giá trị nếu bảo quản, chế biến và logistics chưa đáp ứng. Vì vậy, bài toán của hệ thống lương thực - thực phẩm không chỉ là “sản xuất được bao nhiêu”, mà còn là sản xuất như thế nào, kết nối ra sao và giá trị được tạo ra, phân bổ như thế nào trong toàn chuỗi.
Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 1: Từ bàn ăn nhìn ra cả hệ thống

Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 1: Từ bàn ăn nhìn ra cả hệ thống

Mỗi ngày, một bữa cơm gia đình bắt đầu từ những điều rất quen thuộc: Hạt gạo, bó rau, con cá, quả trứng hay miếng thịt. Nhưng để những thực phẩm ấy xuất hiện trên bàn ăn là cả một hành trình dài, với sự tham gia của người sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp, nhà khoa học, cơ quan quản lý, hệ thống phân phối và chính người tiêu dùng. Phía sau mỗi món ăn còn là đất, nước, lao động, công nghệ, thị trường, chính sách và môi trường. Hiểu được hành trình ấy chính là bước đầu tiên để mỗi người nhận ra mình đang ở đâu và có thể làm gì để cùng xây dựng một hệ thống lương thực - thực phẩm minh bạch, trách nhiệm và bền vững.
Khả năng hấp thụ carbon của hệ thống nông nghiệp hữu cơ

Khả năng hấp thụ carbon của hệ thống nông nghiệp hữu cơ

Nông nghiệp hữu cơ đang mở ra hướng tiếp cận mới trong ứng phó biến đổi khí hậu khi không chỉ giảm phụ thuộc vào vật tư hóa học mà còn góp phần gia tăng carbon trong đất. Thông qua đa dạng hóa cây trồng, sử dụng phân hữu cơ, cây che phủ, luân canh và giảm làm đất, hệ thống này có thể nâng cao khả năng lưu giữ carbon, cải thiện sức khỏe đất và phát triển nông nghiệp bền vững.
Phát triển nông nghiệp sinh thái: Từ mô hình riêng lẻ đến chuyển đổi cả hệ thống

Phát triển nông nghiệp sinh thái: Từ mô hình riêng lẻ đến chuyển đổi cả hệ thống

Chuyển đổi sang nông nghiệp sinh thái, xanh, tuần hoàn cần được thực hiện đồng bộ từ tổ chức sản xuất, ứng dụng khoa học công nghệ đến liên kết thị trường và chia sẻ lợi ích. Tại hội thảo khoa học tổ chức ngày 30/9 ở Ninh Bình, các nhà quản lý, chuyên gia, doanh nghiệp và hợp tác xã nhấn mạnh yêu cầu để người nông dân được hưởng lợi xứng đáng từ những giá trị sinh thái mà họ tạo ra.
AOLC 2026: Lan tỏa những sáng kiến nông nghiệp sinh thái và hữu cơ

AOLC 2026: Lan tỏa những sáng kiến nông nghiệp sinh thái và hữu cơ

Ngày 30/9, tại Hà Nội, Khóa tập huấn Lãnh đạo Nông nghiệp Sinh thái và Hữu cơ năm 2026 (AOLC 2026) chính thức bế mạc, ghi nhận 27 học viên hoàn thành chương trình và vinh danh bốn đề án phát triển tiêu biểu. Từ những sáng kiến về thực phẩm học đường, sinh kế cộng đồng đến kết nối thị trường, khóa học mở ra kỳ vọng lan tỏa các thực hành nông nghiệp sinh thái, hữu cơ vào đời sống.
Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tiêu dùng thực phẩm hữu cơ

Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tiêu dùng thực phẩm hữu cơ

Quyết định tiêu dùng thực phẩm hữu cơ không chỉ chịu tác động bởi nhận thức về sức khỏe và an toàn thực phẩm mà còn liên quan đến giá cả, chất lượng, niềm tin, kiến thức, khả năng tiếp cận và các chuẩn mực xã hội. Việc nhận diện đầy đủ những yếu tố này có ý nghĩa quan trọng trong xây dựng chính sách, phát triển thị trường và thúc đẩy tiêu dùng thực phẩm hữu cơ bền vững tại Việt Nam.
Cần Thơ ban hành quy định mới về canh tác trên vùng hữu cơ

Cần Thơ ban hành quy định mới về canh tác trên vùng hữu cơ

Từ đất, nước, không khí, thời gian chuyển đổi đến vật tư đầu vào, phòng trừ sinh vật gây hại, thu hoạch, bảo quản và truy xuất nguồn gốc, từng khâu trong canh tác trên vùng hữu cơ tại Cần Thơ được quy định cụ thể.
Vai trò của Hợp tác xã trong phát triển nông nghiệp hữu cơ bền vững

Vai trò của Hợp tác xã trong phát triển nông nghiệp hữu cơ bền vững

Trong quá trình chuyển đổi sang nền nông nghiệp sinh thái, tuần hoàn và bền vững, hợp tác xã ngày càng giữ vai trò kết nối quan trọng giữa nông dân, doanh nghiệp và thị trường. Tổ chức sản xuất theo tiêu chuẩn, hỗ trợ kỹ thuật, xây dựng thương hiệu và liên kết chuỗi giá trị giúp nông nghiệp hữu cơ nâng cao giá trị, sức cạnh tranh.
Khẳng định vai trò khuyến nông trong canh tác lúa phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh

Khẳng định vai trò khuyến nông trong canh tác lúa phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh

Ngày 22/9, tại Nghệ An, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường Nghệ An tổ chức Diễn đàn Khuyến nông Nông nghiệp với chủ đề “Giải pháp nhân rộng mô hình canh tác lúa phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh”.
XEM THÊM
phu-my
cuoc-thi-viet
dam-ca-mau-chi-vi-hoa
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2026 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính