ki-niem-15-voaa
Thứ sáu 09/10/2026 03:23Thứ sáu 09/10/2026 03:23 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Doanh nghiệp vừa và nhỏ với cuộc Cách mạng công nghệ 4.0

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) chiếm 97,14% tổng số DN tại Việt Nam và đóng góp trực tiếp gần 50% GDP hàng năm, 33% thu ngân sách cả nước, 45% vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội. Như vậy DNNVV đang ngày một khẳng định vị trí quan trọng đối với nền kinh tế, góp phần giải quyết việc làm và đóng góp vào ngân sách quốc gia.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ với cuộc Cách mạng công nghệ 4.0
Ảnh minh họa.

Đứng trước cuộc cách mạng công nghệ 4.0, các DNVVN vừa mang đến nhiều cơ hội phát triển, hợp tác kinh doanh với các đối tác nước ngoài, song vừa đặt ra các thách thức về sức cạnh tranh và mặt yếu kém công nghệ sản xuất. Cơ hội và lợi ích lớn nhất dành cho các DNVVN Việt Nam khi tham gia vào Cách mạng công nghệ số chính là tăng năng suất và giảm chi phí trong sản xuất. Nhờ ứng dụng công nghệ cao, dây chuyền sản xuất hiện đại, giải pháp phần mềm mà các DNVVN có thể tạo ra sản phẩm sản xuất hàng loạt với các mô hình kinh doanh mới. Đồng thời tạo ra quá trình quản trị DN như quản trị nhân lực, tài chính, vốn được xử lý nhanh , chính xác và kịp thời hơn.

Cách mạng công nghệ 4.0, giúp việc kết nối giữa các DNVVN Việt Nam với đối tác nước ngoài trở nên đơn giản hơn nhờ ứng dụng các thành tựu công nghệ Internet of things, AI, Big data, cloud computing… Các giải pháp quản trị DN giúp tối thiểu sai sót, tiết kiệm chi phí, thời gian cho nhà quản trị. Các ứng dụng cảm biến thông minh giúp toàn bộ quá trình sản xuất của các DNVVN trở thành tự động hóa. Các hệ thống điều hành tập trung dành cho DNVVN như ERP, BI giúp việc điều hành và giải quyết các vấn đề nội bộ một cách nhanh chóng, chính xác.

Cuộc CMCN 4.0 mang đến cho các DNVVN Việt Nam những giải pháp công nghệ thông minh, có thể quản trị tại mọi nơi, mọi lúc giúp nâng cao hiệu suất lao động và tăng sức cạnh tranh trên thị trường. Trước những cơ hội, CMCN 4.0 đã mang đến không ít những thách thức cho DN Việt Nam nói chung và đặc biệt DNVVN nói riêng. Các DNVVN muốn đứng vững trong thời đại công nghệ 4.0 cần chuẩn bị cho mình những chiến lược dài hạn và bài bản về chiến lược kinh doanh, ứng dụng công nghệ, sản phẩm dịch vụ, nguồn nhân lực, chất lượng nhân sự… Tuy nhiên, hiện nay chưa có nhiều DNVVN sẵn sàng hoặc chưa biết cách hội nhập, thay đổi cho phù hợp với thời đại công nghệ số. Có rất nhiều DNVVN hoạt động theo hình thức truyền thống tại Việt Nam còn đang loay hoay tìm cách tồn tại và phát triển trong hiện tại.

Thực trạng phát triển về cơ sở hạ tầng dữ liệu còn non yếu cũng là một trong những thách thức không nhỏ mà các DNVVN Việt đang phải đối mặt trong thời đại công nghệ 4.0. Mặt khác so với các DNVVN trong khu vực và trên thế giới, tốc độ phát triển công nghệ của các DNVVN Việt còn hạn chế và yếu kém nhiều. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cạnh tranh và thu hút khách hàng tiềm năng cho các DNVVN Việt.Nam trong thời gian tới. Ngoài ra nguồn nhân lực còn thiếu và yếu cũng là khó khăn của các DNVVN trong việc phát triển công nghệ số hiện nay.

Khuyến cáo cho các DNVVN của Việt Nam trước cuộc cách mạng công nghiệp 4.0: Nếu không muốn là DN tụt hậu, bỏ lại phía sau hoặc dẫm chết bởi các DN lớn, các DNVVN Việt Nam cần phải thực hiện các bước chuyển mình. Thông qua các giải pháp công nghệ số để tiếp sức cho DNVVN Việt Nam hiện sẵn sàng xông pha, cạnh tranh với các đối thủ trong khu vực và thế giới.

Khuyến cáo về chính sách

Chính phủ cần hoàn thiện những chính sách và hành lang pháp lý mới để phù hợp với công nghệ số nói riêng và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 nói chung. Đồng thời Chính phủ cần tạo điều kiện để các DNVVN, start-up công nghệ phát triển, hỗ trợ DN truyền thống phát triển mạnh hơn. Các quy định của pháp luật và các cơ chế chính sách hoàn thiện nhằm để đảm bảo môi trường pháp lý, kinh doanh thuận lợi, bình đẳng cho ứng dụng cho công nghệ, đẩy mạnh phát triển hạ tầng tạo điều kiện cho các DNVVN phát triển.

Cần chuyển giao đột phá giữa các DN lớn và DNVVN

Các công nghệ mới như: Điện toán đám mây, trí tuệ nhân tạo, người máy, vật liệu mới,… cần được các DN lớn, các DN nước ngoài chuyển giao cho các DNVVN. Các công nghệ trên đều được tích hợp trong máy tính và thiết bị điện tử, giúp việc tiếp cận và xử lý dữ liệu trở nên nhanh chóng và đơn giản hơn. Nhờ các bước chuyển giao công nghệ bộ máy sản xuất, nhân sự của các DNVVN được phát triển lên một tầm cao mới. Việc giao tiếp giữa các phòng ban, bộ phận, nhân sự trong DNVVN trở nên nhanh và chính xác hơn, năng suất lao động nâng cao. Các phần mềm cũng giúp quy trình sản xuất được tự động hóa, tiết kiệm nhân lực, sức lao động và thời gian.

Khuyến cáo nội tại các DNVVN

Thay đổi văn hóa DNVVN, CMCN 4.0 cũng mang đến các tác động đến văn hóa phát triển, hợp tác của các DNVVN Việt Nam với các đối tác. Trong thời đại kinh tế số các nhà quản trị DN cần phải nói không với sự trì trệ, chậm chạp trong bộ máy quản lý, không ngừng đổi mới, linh hoạt trong việc tiếp cận khách hàng. Nhà quản trị DN ngoài chuyên môn, kinh nghiệm còn cần trang bị các giải pháp, công cụ phần mềm cho mình.

Đào tạo nguồn lao động có đủ khả năng và kiến thức về công nghệ số và triển khai tại DNVVN. Con người là một yếu tố vô cùng quan trọng trên con đường chinh phục thế giới số, thời đại số. Đầu tư vào con người chưa bao giờ là một sự đầu tư không có lợi nhuận. Do vậy các nhà quản trị DNVVN không ngừng học hỏi, tiếp thu, cập nhật các công nghệ nhằm ứng dụng vào quá trình sản xuất. DN cần tổ chức các buổi đào tạo, hướng dẫn công nghệ, giải pháp phần mềm đến các nhân sự của mình. Qua đó tạo nên bộ máy nhân sự có chuyên môn, trình độ và kỹ năng nhằm tạo dựng DN phát triển sức mạnh từ bên trong nội tại./.

Bài liên quan

CÁC TIN BÀI KHÁC

Hỗ trợ doanh nghiệp khảo sát, đầu tư lĩnh vực nông nghiệp, chế biến nông sản tại Campuchia

Hỗ trợ doanh nghiệp khảo sát, đầu tư lĩnh vực nông nghiệp, chế biến nông sản tại Campuchia

Với 141 km đường biên giới giáp tỉnh Mondulkiri của Campuchia, khu vực phía Tây tỉnh Lâm Đồng có nhiều điều kiện để phát triển thương mại biên giới, kết nối giao thương và mở rộng thị trường hàng hóa. Trong giai đoạn 2026-2030, tỉnh định hướng tiếp tục hoàn thiện hạ tầng cửa khẩu, phát triển logistics, kho bãi và các dịch vụ hỗ trợ, từng bước khai thác tốt hơn tiềm năng kinh tế khu vực biên giới.
Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 1: Từ bàn ăn nhìn ra cả hệ thống

Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 1: Từ bàn ăn nhìn ra cả hệ thống

Mỗi ngày, một bữa cơm gia đình bắt đầu từ những điều rất quen thuộc: Hạt gạo, bó rau, con cá, quả trứng hay miếng thịt. Nhưng để những thực phẩm ấy xuất hiện trên bàn ăn là cả một hành trình dài, với sự tham gia của người sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp, nhà khoa học, cơ quan quản lý, hệ thống phân phối và chính người tiêu dùng. Phía sau mỗi món ăn còn là đất, nước, lao động, công nghệ, thị trường, chính sách và môi trường. Hiểu được hành trình ấy chính là bước đầu tiên để mỗi người nhận ra mình đang ở đâu và có thể làm gì để cùng xây dựng một hệ thống lương thực - thực phẩm minh bạch, trách nhiệm và bền vững.
Khả năng hấp thụ carbon của hệ thống nông nghiệp hữu cơ

Khả năng hấp thụ carbon của hệ thống nông nghiệp hữu cơ

Nông nghiệp hữu cơ đang mở ra hướng tiếp cận mới trong ứng phó biến đổi khí hậu khi không chỉ giảm phụ thuộc vào vật tư hóa học mà còn góp phần gia tăng carbon trong đất. Thông qua đa dạng hóa cây trồng, sử dụng phân hữu cơ, cây che phủ, luân canh và giảm làm đất, hệ thống này có thể nâng cao khả năng lưu giữ carbon, cải thiện sức khỏe đất và phát triển nông nghiệp bền vững.
Cần Thơ đẩy mạnh mô hình sử dụng phân bón hữu cơ

Cần Thơ đẩy mạnh mô hình sử dụng phân bón hữu cơ

Cần Thơ đặt mục tiêu đến năm 2030, ít nhất 80% số xã, phường có sản xuất chủ lực lúa, cây ăn quả và rau màu xây dựng mô hình sử dụng phân bón hữu cơ gắn với chuỗi giá trị. Đến năm 2050, thành phố phấn đấu có 50% diện tích trồng trọt sử dụng phân bón hữu cơ và 80% nguồn nguyên liệu sẵn có được sử dụng để sản xuất phân bón hữu cơ.
Phát triển nông nghiệp sinh thái: Từ mô hình riêng lẻ đến chuyển đổi cả hệ thống

Phát triển nông nghiệp sinh thái: Từ mô hình riêng lẻ đến chuyển đổi cả hệ thống

Chuyển đổi sang nông nghiệp sinh thái, xanh, tuần hoàn cần được thực hiện đồng bộ từ tổ chức sản xuất, ứng dụng khoa học công nghệ đến liên kết thị trường và chia sẻ lợi ích. Tại hội thảo khoa học tổ chức ngày 30/9 ở Ninh Bình, các nhà quản lý, chuyên gia, doanh nghiệp và hợp tác xã nhấn mạnh yêu cầu để người nông dân được hưởng lợi xứng đáng từ những giá trị sinh thái mà họ tạo ra.
AOLC 2026: Lan tỏa những sáng kiến nông nghiệp sinh thái và hữu cơ

AOLC 2026: Lan tỏa những sáng kiến nông nghiệp sinh thái và hữu cơ

Ngày 30/9, tại Hà Nội, Khóa tập huấn Lãnh đạo Nông nghiệp Sinh thái và Hữu cơ năm 2026 (AOLC 2026) chính thức bế mạc, ghi nhận 27 học viên hoàn thành chương trình và vinh danh bốn đề án phát triển tiêu biểu. Từ những sáng kiến về thực phẩm học đường, sinh kế cộng đồng đến kết nối thị trường, khóa học mở ra kỳ vọng lan tỏa các thực hành nông nghiệp sinh thái, hữu cơ vào đời sống.
Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tiêu dùng thực phẩm hữu cơ

Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tiêu dùng thực phẩm hữu cơ

Quyết định tiêu dùng thực phẩm hữu cơ không chỉ chịu tác động bởi nhận thức về sức khỏe và an toàn thực phẩm mà còn liên quan đến giá cả, chất lượng, niềm tin, kiến thức, khả năng tiếp cận và các chuẩn mực xã hội. Việc nhận diện đầy đủ những yếu tố này có ý nghĩa quan trọng trong xây dựng chính sách, phát triển thị trường và thúc đẩy tiêu dùng thực phẩm hữu cơ bền vững tại Việt Nam.
Cần Thơ ban hành quy định mới về canh tác trên vùng hữu cơ

Cần Thơ ban hành quy định mới về canh tác trên vùng hữu cơ

Từ đất, nước, không khí, thời gian chuyển đổi đến vật tư đầu vào, phòng trừ sinh vật gây hại, thu hoạch, bảo quản và truy xuất nguồn gốc, từng khâu trong canh tác trên vùng hữu cơ tại Cần Thơ được quy định cụ thể.
Phát triển công nghiệp sinh học ngành nông nghiệp theo hướng ứng dụng, hiệu quả và bền vững

Phát triển công nghiệp sinh học ngành nông nghiệp theo hướng ứng dụng, hiệu quả và bền vững

Thực hiện Quyết định số 1466/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, UBND tỉnh Lâm Đồng vừa ban hành Kế hoạch phát triển công nghiệp sinh học ngành nông nghiệp và môi trường giai đoạn 2026 - 2035, tầm nhìn đến năm 2045. Đây được xem là bước đi chiến lược nhằm nâng tầm giá trị nông sản chủ lực, phát triển nông nghiệp tuần hoàn, hữu cơ và bền vững, phù hợp với lợi thế của thủ phủ rau, hoa, nông sản công nghệ cao của cả nước.
Vai trò của Hợp tác xã trong phát triển nông nghiệp hữu cơ bền vững

Vai trò của Hợp tác xã trong phát triển nông nghiệp hữu cơ bền vững

Trong quá trình chuyển đổi sang nền nông nghiệp sinh thái, tuần hoàn và bền vững, hợp tác xã ngày càng giữ vai trò kết nối quan trọng giữa nông dân, doanh nghiệp và thị trường. Tổ chức sản xuất theo tiêu chuẩn, hỗ trợ kỹ thuật, xây dựng thương hiệu và liên kết chuỗi giá trị giúp nông nghiệp hữu cơ nâng cao giá trị, sức cạnh tranh.
Khẳng định vai trò khuyến nông trong canh tác lúa phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh

Khẳng định vai trò khuyến nông trong canh tác lúa phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh

Ngày 22/9, tại Nghệ An, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường Nghệ An tổ chức Diễn đàn Khuyến nông Nông nghiệp với chủ đề “Giải pháp nhân rộng mô hình canh tác lúa phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh”.
Vận động doanh nghiệp đồng hành phát triển lâu dài - cơ hội mới cho nông nghiệp hữu cơ

Vận động doanh nghiệp đồng hành phát triển lâu dài - cơ hội mới cho nông nghiệp hữu cơ

Lâm Đồng đang triển khai đồng bộ các giải pháp cải thiện môi trường đầu tư, khuyến khích doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nông nghiệp, gắn bó lâu dài và làm thủ tục hải quan ngay tại địa phương.
XEM THÊM
phu-my
cuoc-thi-viet
dam-ca-mau-chi-vi-hoa
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2026 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính