ki-niem-15-voaa
Thứ bảy 17/10/2026 07:48Thứ bảy 17/10/2026 07:48 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Doanh nghiệp vừa và nhỏ với cuộc Cách mạng công nghệ 4.0

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) chiếm 97,14% tổng số DN tại Việt Nam và đóng góp trực tiếp gần 50% GDP hàng năm, 33% thu ngân sách cả nước, 45% vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội. Như vậy DNNVV đang ngày một khẳng định vị trí quan trọng đối với nền kinh tế, góp phần giải quyết việc làm và đóng góp vào ngân sách quốc gia.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ với cuộc Cách mạng công nghệ 4.0
Ảnh minh họa.

Đứng trước cuộc cách mạng công nghệ 4.0, các DNVVN vừa mang đến nhiều cơ hội phát triển, hợp tác kinh doanh với các đối tác nước ngoài, song vừa đặt ra các thách thức về sức cạnh tranh và mặt yếu kém công nghệ sản xuất. Cơ hội và lợi ích lớn nhất dành cho các DNVVN Việt Nam khi tham gia vào Cách mạng công nghệ số chính là tăng năng suất và giảm chi phí trong sản xuất. Nhờ ứng dụng công nghệ cao, dây chuyền sản xuất hiện đại, giải pháp phần mềm mà các DNVVN có thể tạo ra sản phẩm sản xuất hàng loạt với các mô hình kinh doanh mới. Đồng thời tạo ra quá trình quản trị DN như quản trị nhân lực, tài chính, vốn được xử lý nhanh , chính xác và kịp thời hơn.

Cách mạng công nghệ 4.0, giúp việc kết nối giữa các DNVVN Việt Nam với đối tác nước ngoài trở nên đơn giản hơn nhờ ứng dụng các thành tựu công nghệ Internet of things, AI, Big data, cloud computing… Các giải pháp quản trị DN giúp tối thiểu sai sót, tiết kiệm chi phí, thời gian cho nhà quản trị. Các ứng dụng cảm biến thông minh giúp toàn bộ quá trình sản xuất của các DNVVN trở thành tự động hóa. Các hệ thống điều hành tập trung dành cho DNVVN như ERP, BI giúp việc điều hành và giải quyết các vấn đề nội bộ một cách nhanh chóng, chính xác.

Cuộc CMCN 4.0 mang đến cho các DNVVN Việt Nam những giải pháp công nghệ thông minh, có thể quản trị tại mọi nơi, mọi lúc giúp nâng cao hiệu suất lao động và tăng sức cạnh tranh trên thị trường. Trước những cơ hội, CMCN 4.0 đã mang đến không ít những thách thức cho DN Việt Nam nói chung và đặc biệt DNVVN nói riêng. Các DNVVN muốn đứng vững trong thời đại công nghệ 4.0 cần chuẩn bị cho mình những chiến lược dài hạn và bài bản về chiến lược kinh doanh, ứng dụng công nghệ, sản phẩm dịch vụ, nguồn nhân lực, chất lượng nhân sự… Tuy nhiên, hiện nay chưa có nhiều DNVVN sẵn sàng hoặc chưa biết cách hội nhập, thay đổi cho phù hợp với thời đại công nghệ số. Có rất nhiều DNVVN hoạt động theo hình thức truyền thống tại Việt Nam còn đang loay hoay tìm cách tồn tại và phát triển trong hiện tại.

Thực trạng phát triển về cơ sở hạ tầng dữ liệu còn non yếu cũng là một trong những thách thức không nhỏ mà các DNVVN Việt đang phải đối mặt trong thời đại công nghệ 4.0. Mặt khác so với các DNVVN trong khu vực và trên thế giới, tốc độ phát triển công nghệ của các DNVVN Việt còn hạn chế và yếu kém nhiều. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cạnh tranh và thu hút khách hàng tiềm năng cho các DNVVN Việt.Nam trong thời gian tới. Ngoài ra nguồn nhân lực còn thiếu và yếu cũng là khó khăn của các DNVVN trong việc phát triển công nghệ số hiện nay.

Khuyến cáo cho các DNVVN của Việt Nam trước cuộc cách mạng công nghiệp 4.0: Nếu không muốn là DN tụt hậu, bỏ lại phía sau hoặc dẫm chết bởi các DN lớn, các DNVVN Việt Nam cần phải thực hiện các bước chuyển mình. Thông qua các giải pháp công nghệ số để tiếp sức cho DNVVN Việt Nam hiện sẵn sàng xông pha, cạnh tranh với các đối thủ trong khu vực và thế giới.

Khuyến cáo về chính sách

Chính phủ cần hoàn thiện những chính sách và hành lang pháp lý mới để phù hợp với công nghệ số nói riêng và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 nói chung. Đồng thời Chính phủ cần tạo điều kiện để các DNVVN, start-up công nghệ phát triển, hỗ trợ DN truyền thống phát triển mạnh hơn. Các quy định của pháp luật và các cơ chế chính sách hoàn thiện nhằm để đảm bảo môi trường pháp lý, kinh doanh thuận lợi, bình đẳng cho ứng dụng cho công nghệ, đẩy mạnh phát triển hạ tầng tạo điều kiện cho các DNVVN phát triển.

Cần chuyển giao đột phá giữa các DN lớn và DNVVN

Các công nghệ mới như: Điện toán đám mây, trí tuệ nhân tạo, người máy, vật liệu mới,… cần được các DN lớn, các DN nước ngoài chuyển giao cho các DNVVN. Các công nghệ trên đều được tích hợp trong máy tính và thiết bị điện tử, giúp việc tiếp cận và xử lý dữ liệu trở nên nhanh chóng và đơn giản hơn. Nhờ các bước chuyển giao công nghệ bộ máy sản xuất, nhân sự của các DNVVN được phát triển lên một tầm cao mới. Việc giao tiếp giữa các phòng ban, bộ phận, nhân sự trong DNVVN trở nên nhanh và chính xác hơn, năng suất lao động nâng cao. Các phần mềm cũng giúp quy trình sản xuất được tự động hóa, tiết kiệm nhân lực, sức lao động và thời gian.

Khuyến cáo nội tại các DNVVN

Thay đổi văn hóa DNVVN, CMCN 4.0 cũng mang đến các tác động đến văn hóa phát triển, hợp tác của các DNVVN Việt Nam với các đối tác. Trong thời đại kinh tế số các nhà quản trị DN cần phải nói không với sự trì trệ, chậm chạp trong bộ máy quản lý, không ngừng đổi mới, linh hoạt trong việc tiếp cận khách hàng. Nhà quản trị DN ngoài chuyên môn, kinh nghiệm còn cần trang bị các giải pháp, công cụ phần mềm cho mình.

Đào tạo nguồn lao động có đủ khả năng và kiến thức về công nghệ số và triển khai tại DNVVN. Con người là một yếu tố vô cùng quan trọng trên con đường chinh phục thế giới số, thời đại số. Đầu tư vào con người chưa bao giờ là một sự đầu tư không có lợi nhuận. Do vậy các nhà quản trị DNVVN không ngừng học hỏi, tiếp thu, cập nhật các công nghệ nhằm ứng dụng vào quá trình sản xuất. DN cần tổ chức các buổi đào tạo, hướng dẫn công nghệ, giải pháp phần mềm đến các nhân sự của mình. Qua đó tạo nên bộ máy nhân sự có chuyên môn, trình độ và kỹ năng nhằm tạo dựng DN phát triển sức mạnh từ bên trong nội tại./.

Bài liên quan

CÁC TIN BÀI KHÁC

Quy trình chứng nhận hữu cơ - Bài 1: Hiểu đúng tiêu chuẩn, lựa chọn đúng hệ thống

Quy trình chứng nhận hữu cơ - Bài 1: Hiểu đúng tiêu chuẩn, lựa chọn đúng hệ thống

Chứng nhận hữu cơ là căn cứ quan trọng để xác nhận sự phù hợp của quá trình sản xuất với tiêu chuẩn được áp dụng. Tuy nhiên, không phải sản phẩm sạch nào cũng là sản phẩm hữu cơ được chứng nhận. Hiểu đúng khái niệm, lựa chọn đúng tiêu chuẩn và nhu cầu thị trường là những việc doanh nghiệp cần làm trước khi triển khai.
Kết nối tri thức, hành động vì mục tiêu Net Zero năm 2050

Kết nối tri thức, hành động vì mục tiêu Net Zero năm 2050

Hội thảo COP26 kết nối cơ quan quản lý, đại học và sinh viên, thúc đẩy ứng phó biến đổi khí hậu, lan tỏa trách nhiệm cộng đồng, phát triển xanh và Net Zero 2050
Cà phê Sơn La: Nâng tầm Arabica từ canh tác sinh thái

Cà phê Sơn La: Nâng tầm Arabica từ canh tác sinh thái

Từ vùng nguyên liệu Arabica lớn nhất cả nước, Sơn La đang đặt ra yêu cầu phát triển cà phê gắn với bảo vệ hệ sinh thái, nâng chất lượng và gia tăng giá trị. Hội thảo ngày 11/10/2026 đã làm rõ những việc cần triển khai, từ giống, canh tác hữu cơ, chuyển đổi số đến chế biến sâu và liên kết thị trường.
Kết nối nghiên cứu ứng dụng cơ giới hóa thông minh và công nghệ xanh, nâng cao giá trị nông sản

Kết nối nghiên cứu ứng dụng cơ giới hóa thông minh và công nghệ xanh, nâng cao giá trị nông sản

ĐH Nông Lâm, ĐH Huế kết nối nghiên cứu ứng dụng, cơ giới hóa thông minh và công nghệ xanh, nâng cao giá trị nông sản, sử dụng hiệu quả tài nguyên...
Đưa khoa học nông nghiệp từ phòng thí nghiệm ra đồng ruộng

Đưa khoa học nông nghiệp từ phòng thí nghiệm ra đồng ruộng

Từ kết quả nghiên cứu đến ứng dụng trong sản xuất vẫn còn khoảng cách đáng kể. Thu hẹp khoảng cách ấy không chỉ đòi hỏi công nghệ tiên tiến, mà còn cần cơ chế phù hợp, sự tham gia của doanh nghiệp và người nông dân, cùng những giải pháp bảo đảm hiệu quả kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
10 năm Chương trình FFF: Gắn phát triển rừng, sản xuất hữu cơ với sinh kế bền vững

10 năm Chương trình FFF: Gắn phát triển rừng, sản xuất hữu cơ với sinh kế bền vững

Hơn 20.000 người hưởng lợi, thu nhập thành viên tăng 15 - 30% là những kết quả nổi bật của Chương trình Hỗ trợ Rừng và Trang trại (FFF) tại Việt Nam. Hội thảo tổng kết 10 năm chương trình đặt trọng tâm vào nâng cao năng lực tổ chức của nông dân, phát triển sản xuất hữu cơ và kết nối nguồn lực cho sinh kế bền vững.
Làm thế nào khơi thông nguồn lực để phát triển nông nghiệp?

Làm thế nào khơi thông nguồn lực để phát triển nông nghiệp?

Nông nghiệp Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn chuyển đổi quan trọng. Từ nền sản xuất dựa nhiều vào đất đai, lao động và kinh nghiệm truyền thống, ngành nông nghiệp đang từng bước chuyển sang mô hình dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, dữ liệu, liên kết chuỗi và kinh tế xanh. Trong quá trình đó, khơi thông và huy động hiệu quả các nguồn lực trở thành yếu tố quyết định để nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam.
Ứng dụng công nghệ số trong quản lý sản xuất nông nghiệp hữu cơ và giải pháp phát triển bền vững

Ứng dụng công nghệ số trong quản lý sản xuất nông nghiệp hữu cơ và giải pháp phát triển bền vững

Nông nghiệp hữu cơ đối mặt nhiều thách thức về chi phí giám sát, rủi ro dịch bệnh và tính minh bạch. Việc ứng dụng công nghệ số như IoT, AI, Blockchain, Big Data và UAV tạo ra bước ngoặt giúp tối ưu hóa quản lý, kiểm soát tiêu chuẩn nghiêm ngặt và công khai chuỗi giá trị. Bài viết phân tích thực trạng, hạ tầng công nghệ, tác động kinh tế - sinh thái, rào cản cốt lõi và đề xuất giải pháp phát triển bền vững.
Nước tưới hoạt hóa bằng khoáng chất và ánh sáng mặt trời giúp năng suất cây trồng tăng tới hơn 100%

Nước tưới hoạt hóa bằng khoáng chất và ánh sáng mặt trời giúp năng suất cây trồng tăng tới hơn 100%

Các thử nghiệm đồng ruộng quy mô lớn trải dài từ Hắc Long Giang đến Hải Nam cho thấy nước tưới được xử lý bằng khoáng chất tự nhiên hoạt hóa dưới ánh nắng có thể nâng năng suất lúa tới 40,6%, mía 45,7% và khoai lang 109,5%, theo nhóm nhà khoa học thuộc Đại học Bắc Kinh.
Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 3: Từ nhận thức đến hành động

Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 3: Từ nhận thức đến hành động

Chuyển đổi hệ thống lương thực – thực phẩm không thể thành công nếu chỉ trông chờ vào một chính sách, một ngành, một doanh nghiệp hay một nhóm người. Việt Nam đã có Kế hoạch hành động quốc gia theo Quyết định 300/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, nhưng trong quá trình thực hiện vẫn gặp những khó khăn về nguồn lực, hướng dẫn, dữ liệu và năng lực của các bên. Điều quan trọng lúc này là biến mục tiêu lớn thành những việc cụ thể, để Nhà nước, địa phương, người sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp, nhà khoa học, truyền thông và người tiêu dùng cùng tạo ra thay đổi. Chuyển đổi chỉ thực sự xảy ra khi mỗi mắt xích nhận rõ trách nhiệm và cùng hành động.
Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 2: Từ cánh đồng đến thị trường

Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 2: Từ cánh đồng đến thị trường

Một nền nông nghiệp có thể tạo ra hàng triệu tấn lương thực, thực phẩm mỗi năm nhưng vẫn còn những điểm nghẽn trên hành trình từ cánh đồng đến bàn ăn. Người sản xuất có thể làm ra sản phẩm nhưng chưa chắc có thị trường ổn định, doanh nghiệp có thể có đơn hàng nhưng chưa chắc có vùng nguyên liệu bền vững, sản phẩm có chất lượng nhưng vẫn có thể mất giá trị nếu bảo quản, chế biến và logistics chưa đáp ứng. Vì vậy, bài toán của hệ thống lương thực - thực phẩm không chỉ là “sản xuất được bao nhiêu”, mà còn là sản xuất như thế nào, kết nối ra sao và giá trị được tạo ra, phân bổ như thế nào trong toàn chuỗi.
Hỗ trợ doanh nghiệp khảo sát, đầu tư lĩnh vực nông nghiệp, chế biến nông sản tại Campuchia

Hỗ trợ doanh nghiệp khảo sát, đầu tư lĩnh vực nông nghiệp, chế biến nông sản tại Campuchia

Với 141 km đường biên giới giáp tỉnh Mondulkiri của Campuchia, khu vực phía Tây tỉnh Lâm Đồng có nhiều điều kiện để phát triển thương mại biên giới, kết nối giao thương và mở rộng thị trường hàng hóa. Trong giai đoạn 2026-2030, tỉnh định hướng tiếp tục hoàn thiện hạ tầng cửa khẩu, phát triển logistics, kho bãi và các dịch vụ hỗ trợ, từng bước khai thác tốt hơn tiềm năng kinh tế khu vực biên giới.
XEM THÊM
phu-my
cuoc-thi-viet
dam-ca-mau-chi-vi-hoa
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2026 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính