Thứ bảy 11/04/2026 16:32Thứ bảy 11/04/2026 16:32 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Phép cộng bền vững cho nông nghiệp miền núi - Bài 4: Cơ chế đã mở cho sản xuất nông nghiệp hữu cơ

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Trong những năm đồng hành, sát cánh cùng người nông dân, GS.TS Đào Thanh Vân đã có nhiều đề tài nghiên cứu và dự án hỗ trợ bà con nông dân tại các tỉnh vùng Trung du và miền núi phía Bắc. Đánh giá về bức tranh nông nghiệp vùng Trung du và miền núi phía Bắc, GS.TS Đào Thanh Vân đã có nhiều chia sẻ về tiềm năng và hướng phát triển nông nghiệp hữu cơ tại vùng này.
Phép cộng bền vững cho nông nghiệp miền núi - Bài 4: Cơ chế đã mở cho sản xuất nông nghiệp hữu cơ

GS.TS Đào Thanh Vân, Phó Chủ tịch Hiệp Hội hữu cơ Việt Nam

Miền núi có nhiều lợi thế phát triển hữu cơ

PV: Là một chuyên gia trong lĩnh vực nông nghiệp hữu cơ, đã đồng hành và dành nhiều tâm huyết để phát triển các mô hình nông nghiệp, nông nghiệp hữu cơ tại vùng Trung du và miền núi phía Bắc, ông đánh giá như thế nào về tiềm năng phát triển nông nghiệp hữu cơ tại vùng này?

GS.TS Đào Thanh Vân: Vùng trung du và miền núi phía Bắc là một khu vực có diện tích rất lớn của nước ta. Nếu tính theo đơn vị hành chính cũ thì vùng này gồm có 14 tỉnh và 14 tỉnh đó phần lớn có địa hình chia cắt phức tạp. Tuy nhiên, các vùng này lại phát triển đa dạng các loại cây trồng, bao gồm cả cây nông nghiệp, công nghiệp, lâm nghiệp và nhiều trong số đó có thể tổ chức sản xuất về nông nghiệp hữu cơ. Có thể kể đến các loại cây địa phương như ở cây chè ở Thái Nguyên, quýt ở Bắc Giang, mận ở Bắc Hà, đào ở Sa Pa, cây dược liệu ở Lai Châu, Hà Giang…

Thứ hai, khu vực miền núi phía Bắc còn chưa chịu nhiều tác động của thâm canh nên có điều kiện tốt hơn để tiệm cận đến sản xuất nông nghiệp hữu cơ. Người dân tại vùng đó phần lớn đã quen canh tác theo phương pháp truyền thống, ít có sự tác động của các yếu tố bên ngoài như phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ cỏ, chất kích thích sinh trưởng so với những vùng khác. Do đó, khi chuyển đổi những diện tích cây trồng ở vùng này sang sản xuất hữu cơ sẽ thuận lợi hơn so với những địa phương đã thâm canh từ lâu, đất đai, môi trường, hệ sinh thái đã chịu tác động nặng nề.

PV: Xin ông giới thiệu một số mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ tiêu biểu tại vùng Trung du và miền núi phía Bắc? Theo ông, điểm chung của những mô hình thành công này là gì?

GS.TS Đào Thanh Vân: Ở khu vực Trung du và miền núi phía Bắc hiện nay có rất nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ tốt. Như ở tại Thái Nguyên vốn có lợi thế về chè với diện tích canh tác chè khoảng hơn 24.000 ha. Trong năm 2017, 2018, tỉnh Thái Nguyên đã xây dựng chiến lược phát triển sản phẩm nông nghiệp chủ lực; trong đó xác định chè là cây trồng chủ lực. Đồng thời, có nhiều hoạt động thúc đẩy xây dựng mô hình nông nghiệp hữu cơ. Đến nay, diện tích chè đạt tiêu chuẩn hữu cơ của Thái Nguyên đã đạt khoảng 100ha.

Ngoài Thái Nguyên thì các tỉnh lân cận như Tuyên Quang cũng có mô hình sản xuất cam hữu cơ; Bắc Kạn (cũ) có mô hình sản xuất dược liệu hữu cơ, bí thơm hữu cơ; Hà Giang (cũ) có vùng chè hữu cơ Tây Côn Lĩnh; Hòa Bình (cũ) có rau hữu cơ; Điện Biên có chè Tủa Chùa; Lai Châu có sản phẩm dược liệu ở Sìn Hồ…

Các mô hình này có nhiều điểm chung nhưng dễ thấy nhất là đều có sự đồng hành của các cấp chính quyền và người dân để thực hiện các sản phẩm. Thứ hai là có những sản phẩm đặc thù và những sản phẩm đó có thể dễ dàng để chuyển đổi sang nông nghiệp hữu cơ. Thứ ba là các mô hình này đã tạo ra sự liên kết giữa người sản xuất và người tiêu thụ để các sản phẩm hữu cơ có thể đến người tiêu dùng một cách đích thực nhất.

Khơi thông điểm nghẽn bằng chính sách

PV: Xin ông cho biết, những yếu tố nào đang là rào cản, điểm nghẽn trong phát triển sản xuất nông nghiệp hữu cơ tại vùng vùng Trung du và miền núi phía Bắc?

GS.TS Đào Thanh Vân: Hiện nay, việc triển khai nông nghiệp hữu cơ vẫn còn một số rào cản. Trong đó, rào cản đầu tiên, cũng là rào cản lớn nhất là tập quán canh tác của người nông dân. Quy trình chuyển đổi sang sản xuất nông nghiệp hữu cơ đòi hỏi rất nghiêm ngặt. Thế nhưng, tại nhiều vùng, người dân vẫn quen với tập quán canh tác truyền thống, cách tác thâm canh…, chưa đáp ứng tiêu chuẩn hữu cơ.

Thứ hai, giá thị trường sản phẩm hữu cơ hiện nay còn thấp bởi người tiêu dùng chưa đủ hiểu biết về sản phẩm nông nghiệp hữu cơ. Nhiều khi người ta so sánh giữa một cái sản phẩm thông thường với sản phẩm hữu cơ, thấy giá của sản phẩm có thể gấp đôi, gấp ba lại ngần ngại, dẫn đến khó khăn trong việc tiêu thụ.

Thứ ba, tuy đã có nhiều cơ sở sản xuất được sản phẩm nông nghiệp đạt tiêu chuẩn hữu cơ nhưng hiện nay trên thị trường vẫn xuất hiện hiện tượng các sản phẩm bán hữu cơ, giả hữu cơ gắn mác đạt tiêu chuẩn, ảnh hưởng đến những người làm ăn chân chính.

PV: Để khơi thông những điểm nghẽn, giảm bớt khó khăn cho người nông dân trong phát triển nông nghiệp hữu cơ, theo ông, cần có những chính sách như thế nào để thúc đẩy nông nghiệp hữu cơ tại khu vực miền núi?

GS.TS Đào Thanh Vân: Hiện nay, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách khung để thúc đẩy phát triển nông nghiệp hữu cơ. Từ Nghị định 109/2018/NĐ-CP về nông nghiệp hữu cơ, trong 63 tỉnh thành theo đơn vị hành chính cũ, đã có khoảng 10 tỉnh, thành ban hành đề án riêng về phát triển nông nghiệp hữu cơ, riêng vùng mình cũng đã có những tỉnh như: Hà Giang (cũ), Tuyên Quang (cũ), Cao Bằng (cũ)… Đây là những địa phương có định hướng rõ ràng, gắn phát triển nông nghiệp hữu cơ với đặc thù nông sản địa phương và nắm bắt kịp thời xu hướng tiêu dùng xanh, sạch, bền vững đang lên. Đó là thuận lợi của chúng ta. Tuy nhiên, các chính sách hiện nay vẫn cần phải kiểm định thông qua thực tiễn để thay đổi cho phù hợp.

Bên cạnh việc hỗ trợ vật tư đầu vào (phân bón hữu cơ, chế phẩm sinh học), các địa phương cũng cần tăng cường đào tạo, tập huấn kỹ thuật, hướng dẫn quy trình canh tác hữu cơ chuẩn cho nông dân. Đồng thời, có thêm những chính sách để thúc đẩy xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường tiêu thụ – cả trong nước lẫn quốc tế…

PV: Nhìn từ góc độ của người nông dân, trong bối cảnh phát triển nông nghiệp bền vững được xác định là xu thế tất yếu, đặc biệt tại các khu vực miền núi – nơi còn nhiều rào cản về nhận thức và tập quán canh tác, xin ông cho biết, đâu là giải pháp căn cơ để hỗ trợ nông dân phát triển nông nghiệp bền vững?

GS.TS Đào Thanh Vân: Trong bối cảnh phát triển nông nghiệp bền vững đã trở thành xu thế tất yếu, đặc biệt là tại các vùng miền núi – nơi có nhiều tiềm năng nhưng cũng không ít thách thức – thì việc nâng cao nhận thức và thay đổi tư duy sản xuất cho người nông dân là giải pháp căn cơ, có tính quyết định.

Thứ nhất, cần đầu tư bài bản vào công tác đào tạo và truyền thông, giúp người dân hiểu đúng về nông nghiệp hữu cơ. Vì sản xuất nông nghiệp hữu cơ không chỉ là phương pháp canh tác "không dùng hóa chất", mà còn là một cách tiếp cận tổng thể: canh tác thuận tự thiên, tôn trọng đất đai, nguồn nước, sức khỏe cộng đồng và hướng đến một chuỗi giá trị bền vững...

Thứ hai, cần xây dựng cơ chế kết nối hiệu quả giữa người sản xuất và thị trường. Một trong những nguyên nhân khiến nhiều mô hình nông nghiệp hữu cơ khó duy trì lâu dài là sản phẩm không tiêu thụ được, giá bán chưa tương xứng với công sức bỏ ra. Do đó, phải quy hoạch lại đầu ra sản phẩm hữu cơ: từ liên kết chuỗi giá trị, xây dựng thương hiệu, phát triển hệ thống phân phối đến xúc tiến thương mại – trong nước và xuất khẩu. Chỉ khi sản phẩm hữu cơ có đầu ra ổn định, người nông dân mới yên tâm sản xuất.

Thứ ba, không thể thiếu vai trò đồng hành của Nhà nước và các tổ chức xã hội. Hỗ trợ chính sách, hạ tầng, vốn, kỹ thuật – những điều này rất cần thiết, nhưng quan trọng hơn là có cơ chế kịp thời, linh hoạt để tiếp sức cho người dân và doanh nghiệp khi gặp khó. Phải gắn kết được người sản xuất với người tiêu dùng. Một nền nông nghiệp hữu cơ chỉ bền vững khi cả xã hội cùng nhìn nhận đúng giá trị của sản phẩm hữu cơ.

Động lực mới từ chuyển đổi số

PV: Chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ đang từng bước định hình lại phương thức sản xuất nông nghiệp tại nhiều địa phương. Theo ông, những tiến bộ kỹ thuật, công nghệ hiện nay có thể đóng vai trò như thế nào trong việc hỗ trợ người nông dân miền núi tiếp cận và thực hành nông nghiệp hữu cơ một cách hiệu quả và bền vững hơn?

GS.TS Đào Thanh Vân: Tại Việt Nam, chuyển đổi số nông nghiệp được xem là đòn bẩy quan trọng giúp ngành nông nghiệp tối ưu hóa năng suất, giảm chi phí sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh trong thị trường quốc tế.

Đối với nông nghiệp hữu cơ, chuyển đổi số đã được triển khai trong nhiều khâu của quá trình sản xuất. Đơn cử, việc xác định vùng sản xuất, cấp mã số vùng trồng, và ứng dụng bản đồ số đã giúp quản lý hiệu quả diện tích canh tác, truy vết nguồn gốc sản phẩm và xây dựng vùng nguyên liệu tập trung.

Bên cạnh đó, các sản phẩm nông nghiệp hữu cơ ngày nay đều có thể gắn mã QR truy xuất nguồn gốc. Người tiêu dùng chỉ cần quét mã là có thể nắm được toàn bộ quy trình sản xuất, giúp tăng độ minh bạch, uy tín và giá trị thương hiệu cho sản phẩm. Ngoài ra, nhiều địa phương và doanh nghiệp cũng đã áp dụng phần mềm nhật ký điện tử, giúp ghi lại toàn bộ quá trình sản xuất – từ khâu bón phân, tưới nước đến quản lý sâu bệnh – một cách khoa học, có hệ thống.

Phép cộng bền vững cho nông nghiệp miền núi - Bài 4: Cơ chế đã mở cho sản xuất nông nghiệp hữu cơ

Chuyển đổi số đã được triển khai trong nhiều khâu của quá trình sản xuất nông nghiệp hữu cơ, giúp tăng độ minh bạch, uy tín và giá trị thương hiệu cho sản phẩm. (Ảnh: Thảo My)

Ngoài ra, nhiều tiến bộ công nghệ đã được ứng dụng vào sản xuất hữu cơ. Có thể kể đến như: Công nghệ vi sinh vật: tạo ra các chủng vi sinh giúp tổng hợp dinh dưỡng từ thiên nhiên, từ đó giúp cây trồng hấp thu tốt hơn, tăng sức đề kháng tự nhiên.

Sensor cảm biến thông minh: đo độ ẩm, độ pH, mức dinh dưỡng trong đất, từ đó đưa ra cảnh báo kịp thời về nhu cầu nước, phân bón… giúp tối ưu chi phí và bảo vệ môi trường.

Thiết bị bay không người lái (drone): được sử dụng để giám sát đồng ruộng, chụp ảnh đánh giá sinh trưởng, thậm chí phun chế phẩm sinh học một cách chính xác, tiết kiệm công lao động.

Máy móc chế biến hiện đại: giúp bảo quản, đóng gói và nâng cao chất lượng sản phẩm sau thu hoạch. Với những thiết bị tiên tiến, các loại nông sản hữu cơ có thể được chế biến sâu như làm bột, kẹo, tinh dầu, dược phẩm, mỹ phẩm – từ đó mở rộng đầu ra và tăng giá trị gấp nhiều lần.

Như vậy, kết hợp chuyển đổi số và khoa học công nghệ chính là đòn bẩy để nâng cao hiệu quả sản xuất, quản lý bền vững, và mở rộng thị trường tiêu thụ cho sản phẩm nông nghiệp hữu cơ. Tuy nhiên, để các công nghệ này thực sự phát huy hiệu quả, vẫn cần có chính sách hỗ trợ đồng bộ từ địa phương, đặc biệt là ở các vùng còn hạn chế về hạ tầng và kỹ thuật như miền núi, trung du.

PV: Xin ông hãy nhắn gửi một lời khuyên đến những người làm nông nghiệp hữu cơ tại Việt Nam?

GS.TS Đào Thanh Vân: Làm nông nghiệp hữu cơ, trước hết phải bắt đầu từ cái tâm của người sản xuất. Tâm trong việc làm ra một sản phẩm thật, sạch, an toàn; tâm trong việc đối xử tử tế với đất đai, sinh thái và môi trường – vì đó chính là "đối tượng sản xuất" đặc biệt của nông nghiệp hữu cơ.

Khi đất được chăm sóc đúng cách, hệ sinh thái được bảo vệ, tự nhiên sẽ "hồi đáp" bằng những vụ mùa bền vững và những sản phẩm tiệm cận thiên nhiên.

Chúng tôi thường nhấn mạnh với bà con nông dân bốn nguyên tắc cốt lõi trong nông nghiệp hữu cơ, do IFOAM – Tổ chức Nông nghiệp Hữu cơ Quốc tế đề xuất, gồm: nguyên tắc sinh thái, nguyên tắc sức khỏe, nguyên tắc công bằng, nguyên tắc thận trọng.

Khi đảm bảo đủ 4 nguyên tắc đó, chúng ta sẽ có một nền nông nghiệp bền vững, như câu slogan: “Nông nghiệp hữu cơ - Tương lai tươi sáng”.

PV: Xin trân trọng cảm ơn GS.TS Đào Thanh Vân./.

Bài liên quan

NIFAM góp phần thúc đẩy môi trường thực phẩm sạch tại Hà Nội

NIFAM góp phần thúc đẩy môi trường thực phẩm sạch tại Hà Nội

Không chỉ dừng ở một nghiên cứu liên ngành về dinh dưỡng, NIFAM đang từng bước đưa kiến thức về thực phẩm, dinh dưỡng và tiêu dùng có trách nhiệm đến gần hơn với cư dân đô thị Hà Nội. Thông qua các hoạt động kết nối người tiêu dùng với nông dân, với vùng sản xuất và với những chuyên gia trong lĩnh vực thực phẩm, chương trình góp phần cải thiện môi trường thực phẩm theo hướng minh bạch, an toàn và bền vững.
Nghị quyết mới của Chính phủ mở hướng phát triển nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn

Nghị quyết mới của Chính phủ mở hướng phát triển nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn

Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 85/NQ-CP ngày 4/4/2026 về Chương trình hành động thực hiện Kết luận số 219-KL/TW, tiếp tục triển khai Nghị quyết số 19-NQ/TW khóa XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Đáng chú ý, nghị quyết tiếp tục nhấn mạnh định hướng phát triển nông nghiệp sinh thái, khuyến khích nông nghiệp xanh, hữu cơ, tuần hoàn, gắn với nâng cao giá trị gia tăng, bảo vệ môi trường và cải thiện đời sống người dân nông thôn.
Tp. Huế: Định hình 4 cụm du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng đặc trưng trên địa bàn

Tp. Huế: Định hình 4 cụm du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng đặc trưng trên địa bàn

Ngày 02/4, Phó Chủ tịch UBND Tp. Huế Trần Hữu Thùy Giang ký ban hành Kế hoạch số 188/KH-UBND về phát triển du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng giai đoạn 2026-2027.
Đà Nẵng đầu tư 500 tỷ đồng phát triển nông nghiệp hữu cơ, ưu tiên khu vực miền núi

Đà Nẵng đầu tư 500 tỷ đồng phát triển nông nghiệp hữu cơ, ưu tiên khu vực miền núi

UBND thành phố Đà Nẵng vừa phê duyệt Đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2035 với tổng kinh phí dự kiến 500 tỷ đồng. Đề án tập trung vào việc hình thành các vùng sản xuất hữu cơ tập trung, phát triển các sản phẩm chủ lực gắn với du lịch nông thôn và tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là tại khu vực miền núi và đồng bào dân tộc thiểu số.
Kết nối giải bài toán phát triển nông nghiệp hữu cơ tại Sơn La

Kết nối giải bài toán phát triển nông nghiệp hữu cơ tại Sơn La

Trong khuôn khổ chuyến công tác của Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam (VOAA) tại tỉnh Sơn La, đoàn công tác đã đi tham quan, khảo sát thực tế tại một số hợp tác xã (HTX), doanh nghiệp trên địa bàn. Từ mô hình cà phê đặc sản ở bản Sàng Nà Tre, vườn nho ở Chiềng Mung đến vùng chè hữu cơ tại Vân Hồ, hành trình thực địa cho thấy Sơn La đang có nhiều dư địa để phát triển nông nghiệp hữu cơ. Tuy nhiên, để các mô hình có thể phát triển hơn nữa, địa phương vẫn cần thêm lời giải về chứng nhận, liên kết thị trường, chế biến sâu và tổ chức chuỗi giá trị.
Mở hướng phát triển bền vững cho nông nghiệp hữu cơ ở Sơn La

Mở hướng phát triển bền vững cho nông nghiệp hữu cơ ở Sơn La

Tại buổi làm việc giữa đoàn công tác của Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam (VOAA) và Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Sơn La, hai bên đã nhìn lại thực trạng phát triển nông nghiệp hữu cơ tại địa phương, đồng thời tập trung phân tích những điểm nghẽn lớn về chứng nhận, thị trường, tổ chức sản xuất và liên kết tiêu thụ. Từ đối thoại thẳng thắn giữa cơ quan quản lý, hiệp hội, doanh nghiệp và cơ quan báo chí chuyên ngành, nhiều hướng đi cụ thể đã được đặt ra nhằm mở rộng dư địa phát triển bền vững cho nông nghiệp hữu cơ Sơn La.

CÁC TIN BÀI KHÁC

Bạch Đằng ngát thơm mùa dứa chín

Bạch Đằng ngát thơm mùa dứa chín

Những vạt nắng đầu hạ nhẹ nhàng phủ lên các sườn đồi xanh mướt một màu vàng óng ả, mang theo hơi ấm dịu dàng, tràn đầy sức sống. Đó cũng là lúc vùng quê Bạch Đằng (tỉnh Cao Bằng) bước vào mùa dứa chín. Trên những sườn đồi trải dài, sắc xanh của lá hòa cùng màu vàng rực rỡ của những trái dứa căng tròn, xen lẫn tiếng cười nói rôm rả của những người dân đang tất bật thu hoạch, tất cả tạo nên một bức tranh thiên nhiên sống động, mộc mạc, tươi sáng. Mùa dứa chín đem lại vẻ đẹp trù phú cho Bạch Đằng, cũng là mùa của niềm vui và hy vọng, của những đổi thay trong đời sống người dân nơi đây. Đặc biệt, tại xóm Nà Roác và xóm Bản Sẳng, cây dứa đang khẳng định vai trò là cây trồng chủ lực, mở ra hướng phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn bền vững, góp phần nâng cao thu nhập, giúp người dân ổn định cuộc sống.
Thương hiệu Phân bón Đầu Trâu: Khẳng định vị thế từ niềm tin người tiêu dùng

Thương hiệu Phân bón Đầu Trâu: Khẳng định vị thế từ niềm tin người tiêu dùng

Sáng ngày 05/04/2026, tại Hội trường Văn phòng Bộ Công thương phía Nam, Lễ công bố “Hàng hóa, dịch vụ người tiêu dùng tin cậy năm 2025” đã diễn ra trang trọng. Tại đây, Công ty Cổ phần Phân bón Bình Điền một lần nữa khẳng định vị thế hàng đầu trong ngành nông nghiệp khi vinh dự góp mặt trong Top 10 sản phẩm xuất sắc nhất. Đây là minh chứng cho nỗ lực không ngừng của doanh nghiệp trong việc đồng hành cùng nhà nông và cam kết về chất lượng sản phẩm bền vững.
Chuyển đổi mô hình tăng trưởng nông nghiệp theo hướng xanh, số, tuần hoàn

Chuyển đổi mô hình tăng trưởng nông nghiệp theo hướng xanh, số, tuần hoàn

Năm 2026, ngành Nông nghiệp và Môi trường sẽ tập trung thực hiện mục tiêu tổng quát là tăng cường quản lý, bảo vệ và sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên; nâng cao năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu; phát triển nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh; bảo đảm an ninh lương thực, an ninh sinh thái và đóng góp tích cực cho tăng trưởng kinh tế - xã hội bền vững của đất nước.
Bình Điền vượt 10.000 tỷ đồng doanh thu, khẳng định vị thế dẫn đầu ngành phân bón

Bình Điền vượt 10.000 tỷ đồng doanh thu, khẳng định vị thế dẫn đầu ngành phân bón

Năm 2025, Công ty CP Phân bón Bình Điền ghi dấu mốc quan trọng khi trở thành đơn vị đầu tiên của Tập đoàn Hóa chất Việt Nam đạt doanh thu trên 10.000 tỷ đồng. Kết quả này tiếp tục khẳng định uy tín thương hiệu, năng lực sản xuất kinh doanh và tạo nền tảng để Công ty đẩy mạnh phát triển thị trường, công nghệ và chuyển đổi số trong giai đoạn tới.
Phân bón Bình Điền 22 năm liên tiếp là Hàng Việt Nam chất lượng cao

Phân bón Bình Điền 22 năm liên tiếp là Hàng Việt Nam chất lượng cao

Ngày 31/3/2026, tại Hội trường Thống Nhất (TP.HCM), Lễ công bố và trao chứng nhận “Hàng Việt Nam chất lượng cao 2026” đã diễn ra trang trọng, đánh dấu chặng đường 30 năm của chương trình uy tín do người tiêu dùng bình chọn. Trong số 581 doanh nghiệp tiêu biểu được vinh danh, Công ty Cổ phần Phân bón Bình Điền tiếp tục ghi dấu ấn khi lần thứ 22 liên tiếp đạt danh hiệu này – một minh chứng bền vững cho uy tín thương hiệu và chất lượng sản phẩm trên thị trường.
Phân bón Miền Nam: Khẳng định vị thế bằng nội lực và tư duy "lấy người lao động làm gốc"

Phân bón Miền Nam: Khẳng định vị thế bằng nội lực và tư duy "lấy người lao động làm gốc"

Trong bối cảnh thị trường phân bón biến động không ngừng, Công ty CP Phân bón Miền Nam (SFG) không chỉ giữ vững nhịp độ sản xuất mà còn ghi nhận những bước tăng trưởng vượt bậc, đồng thời trở thành điểm sáng trong công tác chăm lo đời sống người lao động.
Đồng hành cùng nông dân xây dựng đất khỏe – Bình Điền thúc đẩy hành trình nông nghiệp xanh

Đồng hành cùng nông dân xây dựng đất khỏe – Bình Điền thúc đẩy hành trình nông nghiệp xanh

Vừa qua, đoàn công tác của Công ty Cổ phần Phân bón Bình Điền, gồm ông Ngô Văn Đông – Tổng Giám đốc Công ty, ông Phan Văn Tâm – Phó Tổng Giám đốc Công ty cùng Hội đồng Khoa học Kỹ thuật, đã có chuyến thăm đồng đầu năm tại một số địa phương thuộc Đồng bằng sông Cửu Long. Trong chuyến công tác, đoàn đã trực tiếp khảo sát đánh giá các mô hình canh tác và gặp gỡ nông dân tham gia chương trình ‘Hành trình xanh – đất khỏe, cây trồng khỏe’ tại huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.
PVFCCo – Phú Mỹ khởi công Dự án đầu tư bồn nguyên liệu Acid Phosphoric

PVFCCo – Phú Mỹ khởi công Dự án đầu tư bồn nguyên liệu Acid Phosphoric

Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí (PVFCCo – Phú Mỹ) đã phối hợp với Nhà thầu PTSC tổ chức lễ khởi công “Dự án đầu tư bồn nguyên liệu Acid Phosphoric (H3PO4)” tại khu tổ hợp Nhà máy Phú Mỹ (Khu Công nghiệp Phú Mỹ 1, TP. Hồ Chí Minh) vào đầu tháng 3/2026 vừa qua.
Hồ Phi Thủy – Người tiên phong nuôi trai lấy ngọc kết hợp du lịch sinh thái

Hồ Phi Thủy – Người tiên phong nuôi trai lấy ngọc kết hợp du lịch sinh thái

Giữa không gian biển đảo giàu tiềm năng của đặc khu Phú Quốc, tỉnh An Giang, mô hình nuôi trai lấy ngọc kết hợp du lịch sinh thái của Hồ Phi Thủy đang trở thành một điểm sáng về kinh tế biển bền vững. Với quy mô sản xuất lên tới 1.000ha, sản lượng khoảng 320.000 viên ngọc mỗi năm và doanh thu dao động từ 95 - 150 tỷ đồng/năm, mô hình này không chỉ mang lại giá trị kinh tế lớn mà còn góp phần tạo sinh kế ổn định cho người dân địa phương.
Chàng trai 26 tuổi khởi nghiệp từ trà hoa vàng

Chàng trai 26 tuổi khởi nghiệp từ trà hoa vàng

Ở tuổi 26, khi nhiều bạn trẻ còn đang loay hoay tìm hướng đi sau giảng đường, Nguyễn Tùng Dương (sinh năm 2000), quê ở thôn Làng Chanh, xã Tam Dương Bắc, tỉnh Phú Thọ, đã chọn cho mình một con đường riêng: trở về quê hương khởi nghiệp với mô hình trồng và chế biến trà hoa vàng. Câu chuyện của Dương không chỉ là hành trình lập nghiệp của một thanh niên trẻ, mà còn là minh chứng cho khát vọng làm giàu trên chính mảnh đất quê hương.
Bước tiến mới cho sự chuyển mình mạnh mẽ của Toyota năm 2026

Bước tiến mới cho sự chuyển mình mạnh mẽ của Toyota năm 2026

Không chỉ là thương hiệu xe nước ngoài bán chạy nhất thị trường ô tô Việt Nam 2025, Toyota còn ghi nhận doanh số tăng trưởng trong 2 tháng đầu năm 2026. Việc được hưởng ưu đãi thuế tiêu thụ đặc biệt giúp giảm giá bán cùng chính sách gia hạn bảo hành giúp các dòng xe Toyota HEV có triển vọng phát triển.
PVFCCo – Phú Mỹ tăng tốc, đạt kết quả sản xuất kinh doanh tích cực từ đầu năm 2026

PVFCCo – Phú Mỹ tăng tốc, đạt kết quả sản xuất kinh doanh tích cực từ đầu năm 2026

Hai tháng đầu năm 2026, trên nền tảng hoàn thành thành công đợt bảo dưỡng tổng thể Nhà máy Đạm Phú Mỹ, Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí (PVFCCo – Phú Mỹ) đã duy trì nhịp độ sản xuất ổn định, tăng tốc kinh doanh ngay trong giai đoạn đầu năm, ghi nhận nhiều chỉ tiêu vượt kế hoạch, tạo tiền đề thuận lợi cho việc hoàn thành nhiệm vụ cả năm.
XEM THÊM
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2025 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính