Chủ nhật 05/04/2026 23:54Chủ nhật 05/04/2026 23:54 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Phép cộng bền vững cho nông nghiệp miền núi - Bài 4: Cơ chế đã mở cho sản xuất nông nghiệp hữu cơ

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Trong những năm đồng hành, sát cánh cùng người nông dân, GS.TS Đào Thanh Vân đã có nhiều đề tài nghiên cứu và dự án hỗ trợ bà con nông dân tại các tỉnh vùng Trung du và miền núi phía Bắc. Đánh giá về bức tranh nông nghiệp vùng Trung du và miền núi phía Bắc, GS.TS Đào Thanh Vân đã có nhiều chia sẻ về tiềm năng và hướng phát triển nông nghiệp hữu cơ tại vùng này.
Phép cộng bền vững cho nông nghiệp miền núi - Bài 4: Cơ chế đã mở cho sản xuất nông nghiệp hữu cơ

GS.TS Đào Thanh Vân, Phó Chủ tịch Hiệp Hội hữu cơ Việt Nam

Miền núi có nhiều lợi thế phát triển hữu cơ

PV: Là một chuyên gia trong lĩnh vực nông nghiệp hữu cơ, đã đồng hành và dành nhiều tâm huyết để phát triển các mô hình nông nghiệp, nông nghiệp hữu cơ tại vùng Trung du và miền núi phía Bắc, ông đánh giá như thế nào về tiềm năng phát triển nông nghiệp hữu cơ tại vùng này?

GS.TS Đào Thanh Vân: Vùng trung du và miền núi phía Bắc là một khu vực có diện tích rất lớn của nước ta. Nếu tính theo đơn vị hành chính cũ thì vùng này gồm có 14 tỉnh và 14 tỉnh đó phần lớn có địa hình chia cắt phức tạp. Tuy nhiên, các vùng này lại phát triển đa dạng các loại cây trồng, bao gồm cả cây nông nghiệp, công nghiệp, lâm nghiệp và nhiều trong số đó có thể tổ chức sản xuất về nông nghiệp hữu cơ. Có thể kể đến các loại cây địa phương như ở cây chè ở Thái Nguyên, quýt ở Bắc Giang, mận ở Bắc Hà, đào ở Sa Pa, cây dược liệu ở Lai Châu, Hà Giang…

Thứ hai, khu vực miền núi phía Bắc còn chưa chịu nhiều tác động của thâm canh nên có điều kiện tốt hơn để tiệm cận đến sản xuất nông nghiệp hữu cơ. Người dân tại vùng đó phần lớn đã quen canh tác theo phương pháp truyền thống, ít có sự tác động của các yếu tố bên ngoài như phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ cỏ, chất kích thích sinh trưởng so với những vùng khác. Do đó, khi chuyển đổi những diện tích cây trồng ở vùng này sang sản xuất hữu cơ sẽ thuận lợi hơn so với những địa phương đã thâm canh từ lâu, đất đai, môi trường, hệ sinh thái đã chịu tác động nặng nề.

PV: Xin ông giới thiệu một số mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ tiêu biểu tại vùng Trung du và miền núi phía Bắc? Theo ông, điểm chung của những mô hình thành công này là gì?

GS.TS Đào Thanh Vân: Ở khu vực Trung du và miền núi phía Bắc hiện nay có rất nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ tốt. Như ở tại Thái Nguyên vốn có lợi thế về chè với diện tích canh tác chè khoảng hơn 24.000 ha. Trong năm 2017, 2018, tỉnh Thái Nguyên đã xây dựng chiến lược phát triển sản phẩm nông nghiệp chủ lực; trong đó xác định chè là cây trồng chủ lực. Đồng thời, có nhiều hoạt động thúc đẩy xây dựng mô hình nông nghiệp hữu cơ. Đến nay, diện tích chè đạt tiêu chuẩn hữu cơ của Thái Nguyên đã đạt khoảng 100ha.

Ngoài Thái Nguyên thì các tỉnh lân cận như Tuyên Quang cũng có mô hình sản xuất cam hữu cơ; Bắc Kạn (cũ) có mô hình sản xuất dược liệu hữu cơ, bí thơm hữu cơ; Hà Giang (cũ) có vùng chè hữu cơ Tây Côn Lĩnh; Hòa Bình (cũ) có rau hữu cơ; Điện Biên có chè Tủa Chùa; Lai Châu có sản phẩm dược liệu ở Sìn Hồ…

Các mô hình này có nhiều điểm chung nhưng dễ thấy nhất là đều có sự đồng hành của các cấp chính quyền và người dân để thực hiện các sản phẩm. Thứ hai là có những sản phẩm đặc thù và những sản phẩm đó có thể dễ dàng để chuyển đổi sang nông nghiệp hữu cơ. Thứ ba là các mô hình này đã tạo ra sự liên kết giữa người sản xuất và người tiêu thụ để các sản phẩm hữu cơ có thể đến người tiêu dùng một cách đích thực nhất.

Khơi thông điểm nghẽn bằng chính sách

PV: Xin ông cho biết, những yếu tố nào đang là rào cản, điểm nghẽn trong phát triển sản xuất nông nghiệp hữu cơ tại vùng vùng Trung du và miền núi phía Bắc?

GS.TS Đào Thanh Vân: Hiện nay, việc triển khai nông nghiệp hữu cơ vẫn còn một số rào cản. Trong đó, rào cản đầu tiên, cũng là rào cản lớn nhất là tập quán canh tác của người nông dân. Quy trình chuyển đổi sang sản xuất nông nghiệp hữu cơ đòi hỏi rất nghiêm ngặt. Thế nhưng, tại nhiều vùng, người dân vẫn quen với tập quán canh tác truyền thống, cách tác thâm canh…, chưa đáp ứng tiêu chuẩn hữu cơ.

Thứ hai, giá thị trường sản phẩm hữu cơ hiện nay còn thấp bởi người tiêu dùng chưa đủ hiểu biết về sản phẩm nông nghiệp hữu cơ. Nhiều khi người ta so sánh giữa một cái sản phẩm thông thường với sản phẩm hữu cơ, thấy giá của sản phẩm có thể gấp đôi, gấp ba lại ngần ngại, dẫn đến khó khăn trong việc tiêu thụ.

Thứ ba, tuy đã có nhiều cơ sở sản xuất được sản phẩm nông nghiệp đạt tiêu chuẩn hữu cơ nhưng hiện nay trên thị trường vẫn xuất hiện hiện tượng các sản phẩm bán hữu cơ, giả hữu cơ gắn mác đạt tiêu chuẩn, ảnh hưởng đến những người làm ăn chân chính.

PV: Để khơi thông những điểm nghẽn, giảm bớt khó khăn cho người nông dân trong phát triển nông nghiệp hữu cơ, theo ông, cần có những chính sách như thế nào để thúc đẩy nông nghiệp hữu cơ tại khu vực miền núi?

GS.TS Đào Thanh Vân: Hiện nay, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách khung để thúc đẩy phát triển nông nghiệp hữu cơ. Từ Nghị định 109/2018/NĐ-CP về nông nghiệp hữu cơ, trong 63 tỉnh thành theo đơn vị hành chính cũ, đã có khoảng 10 tỉnh, thành ban hành đề án riêng về phát triển nông nghiệp hữu cơ, riêng vùng mình cũng đã có những tỉnh như: Hà Giang (cũ), Tuyên Quang (cũ), Cao Bằng (cũ)… Đây là những địa phương có định hướng rõ ràng, gắn phát triển nông nghiệp hữu cơ với đặc thù nông sản địa phương và nắm bắt kịp thời xu hướng tiêu dùng xanh, sạch, bền vững đang lên. Đó là thuận lợi của chúng ta. Tuy nhiên, các chính sách hiện nay vẫn cần phải kiểm định thông qua thực tiễn để thay đổi cho phù hợp.

Bên cạnh việc hỗ trợ vật tư đầu vào (phân bón hữu cơ, chế phẩm sinh học), các địa phương cũng cần tăng cường đào tạo, tập huấn kỹ thuật, hướng dẫn quy trình canh tác hữu cơ chuẩn cho nông dân. Đồng thời, có thêm những chính sách để thúc đẩy xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường tiêu thụ – cả trong nước lẫn quốc tế…

PV: Nhìn từ góc độ của người nông dân, trong bối cảnh phát triển nông nghiệp bền vững được xác định là xu thế tất yếu, đặc biệt tại các khu vực miền núi – nơi còn nhiều rào cản về nhận thức và tập quán canh tác, xin ông cho biết, đâu là giải pháp căn cơ để hỗ trợ nông dân phát triển nông nghiệp bền vững?

GS.TS Đào Thanh Vân: Trong bối cảnh phát triển nông nghiệp bền vững đã trở thành xu thế tất yếu, đặc biệt là tại các vùng miền núi – nơi có nhiều tiềm năng nhưng cũng không ít thách thức – thì việc nâng cao nhận thức và thay đổi tư duy sản xuất cho người nông dân là giải pháp căn cơ, có tính quyết định.

Thứ nhất, cần đầu tư bài bản vào công tác đào tạo và truyền thông, giúp người dân hiểu đúng về nông nghiệp hữu cơ. Vì sản xuất nông nghiệp hữu cơ không chỉ là phương pháp canh tác "không dùng hóa chất", mà còn là một cách tiếp cận tổng thể: canh tác thuận tự thiên, tôn trọng đất đai, nguồn nước, sức khỏe cộng đồng và hướng đến một chuỗi giá trị bền vững...

Thứ hai, cần xây dựng cơ chế kết nối hiệu quả giữa người sản xuất và thị trường. Một trong những nguyên nhân khiến nhiều mô hình nông nghiệp hữu cơ khó duy trì lâu dài là sản phẩm không tiêu thụ được, giá bán chưa tương xứng với công sức bỏ ra. Do đó, phải quy hoạch lại đầu ra sản phẩm hữu cơ: từ liên kết chuỗi giá trị, xây dựng thương hiệu, phát triển hệ thống phân phối đến xúc tiến thương mại – trong nước và xuất khẩu. Chỉ khi sản phẩm hữu cơ có đầu ra ổn định, người nông dân mới yên tâm sản xuất.

Thứ ba, không thể thiếu vai trò đồng hành của Nhà nước và các tổ chức xã hội. Hỗ trợ chính sách, hạ tầng, vốn, kỹ thuật – những điều này rất cần thiết, nhưng quan trọng hơn là có cơ chế kịp thời, linh hoạt để tiếp sức cho người dân và doanh nghiệp khi gặp khó. Phải gắn kết được người sản xuất với người tiêu dùng. Một nền nông nghiệp hữu cơ chỉ bền vững khi cả xã hội cùng nhìn nhận đúng giá trị của sản phẩm hữu cơ.

Động lực mới từ chuyển đổi số

PV: Chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ đang từng bước định hình lại phương thức sản xuất nông nghiệp tại nhiều địa phương. Theo ông, những tiến bộ kỹ thuật, công nghệ hiện nay có thể đóng vai trò như thế nào trong việc hỗ trợ người nông dân miền núi tiếp cận và thực hành nông nghiệp hữu cơ một cách hiệu quả và bền vững hơn?

GS.TS Đào Thanh Vân: Tại Việt Nam, chuyển đổi số nông nghiệp được xem là đòn bẩy quan trọng giúp ngành nông nghiệp tối ưu hóa năng suất, giảm chi phí sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh trong thị trường quốc tế.

Đối với nông nghiệp hữu cơ, chuyển đổi số đã được triển khai trong nhiều khâu của quá trình sản xuất. Đơn cử, việc xác định vùng sản xuất, cấp mã số vùng trồng, và ứng dụng bản đồ số đã giúp quản lý hiệu quả diện tích canh tác, truy vết nguồn gốc sản phẩm và xây dựng vùng nguyên liệu tập trung.

Bên cạnh đó, các sản phẩm nông nghiệp hữu cơ ngày nay đều có thể gắn mã QR truy xuất nguồn gốc. Người tiêu dùng chỉ cần quét mã là có thể nắm được toàn bộ quy trình sản xuất, giúp tăng độ minh bạch, uy tín và giá trị thương hiệu cho sản phẩm. Ngoài ra, nhiều địa phương và doanh nghiệp cũng đã áp dụng phần mềm nhật ký điện tử, giúp ghi lại toàn bộ quá trình sản xuất – từ khâu bón phân, tưới nước đến quản lý sâu bệnh – một cách khoa học, có hệ thống.

Phép cộng bền vững cho nông nghiệp miền núi - Bài 4: Cơ chế đã mở cho sản xuất nông nghiệp hữu cơ

Chuyển đổi số đã được triển khai trong nhiều khâu của quá trình sản xuất nông nghiệp hữu cơ, giúp tăng độ minh bạch, uy tín và giá trị thương hiệu cho sản phẩm. (Ảnh: Thảo My)

Ngoài ra, nhiều tiến bộ công nghệ đã được ứng dụng vào sản xuất hữu cơ. Có thể kể đến như: Công nghệ vi sinh vật: tạo ra các chủng vi sinh giúp tổng hợp dinh dưỡng từ thiên nhiên, từ đó giúp cây trồng hấp thu tốt hơn, tăng sức đề kháng tự nhiên.

Sensor cảm biến thông minh: đo độ ẩm, độ pH, mức dinh dưỡng trong đất, từ đó đưa ra cảnh báo kịp thời về nhu cầu nước, phân bón… giúp tối ưu chi phí và bảo vệ môi trường.

Thiết bị bay không người lái (drone): được sử dụng để giám sát đồng ruộng, chụp ảnh đánh giá sinh trưởng, thậm chí phun chế phẩm sinh học một cách chính xác, tiết kiệm công lao động.

Máy móc chế biến hiện đại: giúp bảo quản, đóng gói và nâng cao chất lượng sản phẩm sau thu hoạch. Với những thiết bị tiên tiến, các loại nông sản hữu cơ có thể được chế biến sâu như làm bột, kẹo, tinh dầu, dược phẩm, mỹ phẩm – từ đó mở rộng đầu ra và tăng giá trị gấp nhiều lần.

Như vậy, kết hợp chuyển đổi số và khoa học công nghệ chính là đòn bẩy để nâng cao hiệu quả sản xuất, quản lý bền vững, và mở rộng thị trường tiêu thụ cho sản phẩm nông nghiệp hữu cơ. Tuy nhiên, để các công nghệ này thực sự phát huy hiệu quả, vẫn cần có chính sách hỗ trợ đồng bộ từ địa phương, đặc biệt là ở các vùng còn hạn chế về hạ tầng và kỹ thuật như miền núi, trung du.

PV: Xin ông hãy nhắn gửi một lời khuyên đến những người làm nông nghiệp hữu cơ tại Việt Nam?

GS.TS Đào Thanh Vân: Làm nông nghiệp hữu cơ, trước hết phải bắt đầu từ cái tâm của người sản xuất. Tâm trong việc làm ra một sản phẩm thật, sạch, an toàn; tâm trong việc đối xử tử tế với đất đai, sinh thái và môi trường – vì đó chính là "đối tượng sản xuất" đặc biệt của nông nghiệp hữu cơ.

Khi đất được chăm sóc đúng cách, hệ sinh thái được bảo vệ, tự nhiên sẽ "hồi đáp" bằng những vụ mùa bền vững và những sản phẩm tiệm cận thiên nhiên.

Chúng tôi thường nhấn mạnh với bà con nông dân bốn nguyên tắc cốt lõi trong nông nghiệp hữu cơ, do IFOAM – Tổ chức Nông nghiệp Hữu cơ Quốc tế đề xuất, gồm: nguyên tắc sinh thái, nguyên tắc sức khỏe, nguyên tắc công bằng, nguyên tắc thận trọng.

Khi đảm bảo đủ 4 nguyên tắc đó, chúng ta sẽ có một nền nông nghiệp bền vững, như câu slogan: “Nông nghiệp hữu cơ - Tương lai tươi sáng”.

PV: Xin trân trọng cảm ơn GS.TS Đào Thanh Vân./.

Bài liên quan

Kết nối giải bài toán phát triển nông nghiệp hữu cơ tại Sơn La

Kết nối giải bài toán phát triển nông nghiệp hữu cơ tại Sơn La

Trong khuôn khổ chuyến công tác của Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam (VOAA) tại tỉnh Sơn La, đoàn công tác đã đi tham quan, khảo sát thực tế tại một số hợp tác xã (HTX), doanh nghiệp trên địa bàn. Từ mô hình cà phê đặc sản ở bản Sàng Nà Tre, vườn nho ở Chiềng Mung đến vùng chè hữu cơ tại Vân Hồ, hành trình thực địa cho thấy Sơn La đang có nhiều dư địa để phát triển nông nghiệp hữu cơ. Tuy nhiên, để các mô hình có thể phát triển hơn nữa, địa phương vẫn cần thêm lời giải về chứng nhận, liên kết thị trường, chế biến sâu và tổ chức chuỗi giá trị.
Mở hướng phát triển bền vững cho nông nghiệp hữu cơ ở Sơn La

Mở hướng phát triển bền vững cho nông nghiệp hữu cơ ở Sơn La

Tại buổi làm việc giữa đoàn công tác của Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam (VOAA) và Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Sơn La, hai bên đã nhìn lại thực trạng phát triển nông nghiệp hữu cơ tại địa phương, đồng thời tập trung phân tích những điểm nghẽn lớn về chứng nhận, thị trường, tổ chức sản xuất và liên kết tiêu thụ. Từ đối thoại thẳng thắn giữa cơ quan quản lý, hiệp hội, doanh nghiệp và cơ quan báo chí chuyên ngành, nhiều hướng đi cụ thể đã được đặt ra nhằm mở rộng dư địa phát triển bền vững cho nông nghiệp hữu cơ Sơn La.
Hải Phòng: Chung tay vì “một sức khỏe” để đảm bảo an toàn thực phẩm từ gốc

Hải Phòng: Chung tay vì “một sức khỏe” để đảm bảo an toàn thực phẩm từ gốc

Việc phối hợp đào tạo thực địa giữa Chi cục Thủy sản, Chăn nuôi và Thú y với Trường Đại học Y Dược Hải Phòng không chỉ dừng lại ở phòng chống dịch bệnh, mà còn là mắt xích then chốt trong việc kiểm soát chất lượng sản phẩm nông nghiệp cung ứng cho người dân thành phố.
VOAA tập huấn Tiêu chuẩn Hữu cơ: Chuẩn hóa nhận thức, minh bạch thực hành sản xuất

VOAA tập huấn Tiêu chuẩn Hữu cơ: Chuẩn hóa nhận thức, minh bạch thực hành sản xuất

Ngày 27/3, tại Hà Nội, Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam (VOAA) khai mạc lớp tập huấn Tiêu chuẩn Hữu cơ VOAA, nhằm giới thiệu và hướng dẫn áp dụng Tiêu chuẩn cơ sở - TCCS 01:2024/VOAA tới hội viên cùng các tổ chức, cá nhân sản xuất quan tâm đến nông nghiệp hữu cơ.
Tp. Huế: Phát triển nông nghiệp, sản phẩm phù hợp nhu cầu, lợi thế địa phương

Tp. Huế: Phát triển nông nghiệp, sản phẩm phù hợp nhu cầu, lợi thế địa phương

Ngày 25/3/2026, UBND thành phố Huế ban hành Kế hoạch số: 159 /KH-UBND "Triển khai thực hiện Kế hoạch số 20-KH/TU ngày 02/02/2026 của Thành ủy về triển khai thực hiện Kết luận 219-KL/TW, ngày 26/11/2025 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 19-NQ/TW, ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045"
Thúc đẩy liên kết doanh nghiệp, mở lối phát triển nông nghiệp hữu cơ

Thúc đẩy liên kết doanh nghiệp, mở lối phát triển nông nghiệp hữu cơ

Sáng 24/3, trong khuôn khổ chương trình kết nối hội viên và khảo sát vùng sản xuất hữu cơ tại Lai Châu, Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam (VOAA) tiếp tục tổ chức phiên thảo luận chuyên sâu giữa doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ sản xuất và chính quyền địa phương tại phường Tân Phong (tỉnh Lai Châu). Phiên làm việc đã làm rõ những nút thắt của nông nghiệp hữu cơ tại địa phương, đồng thời mở ra các cam kết hợp tác cụ thể giữa các bên liên quan.

CÁC TIN BÀI KHÁC

Người “giữ hồn” nước mắm Cự Nham

Người “giữ hồn” nước mắm Cự Nham

Sinh ra và lớn lên trên vùng biển xã Tiên Trang, anh Thạch Văn Hiểu luôn trăn trở giữ gìn và phát triển nghề truyền thống của cha ông - sản xuất nước mắm mang tên Cự Nham.
Nghệ An đặt “tam nông” vào vị trí chiến lược lâu dài trong tiến trình phát triển

Nghệ An đặt “tam nông” vào vị trí chiến lược lâu dài trong tiến trình phát triển

Chương trình hành động số 12-CTr/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Nghệ An xác định 7 nhóm nhiệm vụ trọng tâm; đặt nông nghiệp, nông dân và nông thôn vào vị trí chiến lược lâu dài trong tiến trình phát triển. “Tam nông” không chỉ là “bệ đỡ” an sinh mà còn là nền tảng đảm bảo kinh tế vĩ mô và tăng trưởng bền vững.
Hiệu quả từ mô hình trồng dưa lưới thủy canh tại Ea Kar

Hiệu quả từ mô hình trồng dưa lưới thủy canh tại Ea Kar

Tại xã Ea Kar (tỉnh Đắk Lắk), mô hình trồng dưa lưới thủy canh của anh Lê Hoàng Vũ đang cho thấy hiệu quả rõ rệt, mở ra hướng đi mới trong phát triển nông nghiệp công nghệ cao tại địa phương.
Phát triển cây trồng chủ lực - Đòn bẩy nâng cao đời sống người dân xã Quảng Trực

Phát triển cây trồng chủ lực - Đòn bẩy nâng cao đời sống người dân xã Quảng Trực

Xã Quảng Trực, tỉnh Lâm Đồng là một trong những địa phương có lợi thế lớn về phát triển nông nghiệp với diện tích đất sản xuất rộng, điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng phù hợp cho nhiều loại cây trồng có giá trị kinh tế cao. Những năm gần đây, nhờ định hướng đúng đắn của cấp ủy, chính quyền địa phương cùng sự cần cù, sáng tạo của người dân, cơ cấu cây trồng trên địa bàn xã từng bước được chuyển dịch theo hướng hiệu quả, bền vững, góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống nhân dân.
Kỹ thuật nuôi tu hài bằng giàn treo cố định

Kỹ thuật nuôi tu hài bằng giàn treo cố định

Tu hài là một loài nhuyễn thể hai mảnh vỏ. Chúng có thể thích nghi với môi trường nước trong với độ mặn ổn định, có thủy triều lên xuống hay ở các vùng bãi bùn cửa sông nước lợ.
Vĩnh Long trồng thanh long VietGAP xuất khẩu

Vĩnh Long trồng thanh long VietGAP xuất khẩu

Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, cùng với việc áp dụng các kỹ thuật chăm sóc hiện đại, 'Thanh long ruột đỏ Trà Vinh'của tỉnh Vĩnh Long có một số đặc điểm nổi bật so với các địa phương khác, mùi vị thơm và ngọt đậm, đặc trưng, vỏ mỏng, trái to, đều, được xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc, Mỹ.
Dịch bệnh trên bò tại Nga gây lo ngại về an toàn chăn nuôi và thương mại nông sản

Dịch bệnh trên bò tại Nga gây lo ngại về an toàn chăn nuôi và thương mại nông sản

Một đợt bùng phát dịch bệnh trên đàn bò tại khu vực Siberia của Nga đang gây ra những tác động đáng kể đến ngành chăn nuôi và thương mại nông sản. Hàng chục nghìn con gia súc đã bị tiêu hủy nhằm kiểm soát dịch bệnh, trong khi các chuyên gia và nông dân đặt câu hỏi về nguyên nhân thực sự của dịch, đặc biệt là nguy cơ liên quan đến bệnh lở mồm long móng, một trong những dịch bệnh nguy hiểm nhất đối với ngành chăn nuôi toàn cầu.
Giá muối tăng mạnh, diêm dân Sa Huỳnh tất bật trở lại sản xuất

Giá muối tăng mạnh, diêm dân Sa Huỳnh tất bật trở lại sản xuất

Giá muối tại Sa Huỳnh (Quảng Ngãi) tăng lên khoảng 3 triệu đồng/tấn, gấp đôi năm trước, khiến diêm dân phấn khởi quay lại ruộng muối.
"Đòn bẩy" cho sản xuất xanh và năng lực cạnh tranh bền vững tại Quảng Ninh

"Đòn bẩy" cho sản xuất xanh và năng lực cạnh tranh bền vững tại Quảng Ninh

Trong bối cảnh nhu cầu tiêu thụ điện phục vụ sản xuất, kinh doanh ngày càng gia tăng, các khu công nghiệp (KCN), khu kinh tế (KKT) tại Quảng Ninh đang đẩy mạnh các giải pháp tiết kiệm điện và chuyển đổi năng lượng theo hướng xanh, bền vững. Đây không chỉ là yêu cầu cấp thiết nhằm giảm chi phí sản xuất mà còn là yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh trong chuỗi cung ứng toàn cầu, đặc biệt trong xu thế phát triển nông nghiệp và công nghiệp thân thiện môi trường.
Bơ Hass Hy Lạp: Sản lượng bứt phá đi kèm thách thức về kích cỡ và chất lượng thu hoạch

Bơ Hass Hy Lạp: Sản lượng bứt phá đi kèm thách thức về kích cỡ và chất lượng thu hoạch

Bơ Hass tại Crete bứt phá sản lượng, ghi dấu ấn tại các quốc gia Đan Mạch và Đức. Song, kích thước quả nhỏ cùng quy trình thu hoạch thiếu đồng nhất đang đặt ra thách thức lớn về chất lượng xuất khẩu.
Thảo quả - hướng sinh kế cho người dân vùng cao

Thảo quả - hướng sinh kế cho người dân vùng cao

Xóm Sác Ngà, xã Quảng Lâm, tỉnh Cao Bằng là xóm vùng cao, địa hình hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn. Tận dụng lợi thế khí hậu mát lạnh, đất rừng tự nhiên màu mỡ, một số hộ dân nơi đây đã mạnh dạn đưa giống thảo quả lên trồng trên đỉnh núi Mẻ Lủng, từng bước mang lại nguồn thu nhập ổn định.
Sản xuất nông nghiệp công nghệ cao mở hướng làm giàu cho nông dân

Sản xuất nông nghiệp công nghệ cao mở hướng làm giàu cho nông dân

Với việc mạnh dạn đầu tư sản xuất nông nghiệp trong nhà màng, nhà lưới ứng dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất, nhiều hộ dân trên địa bàn xã Kiên Thọ, tỉnh Thanh Hóa đã từng bước thay đổi tư duy canh tác truyền thống, góp phần nâng cao giá trị sản xuất trên cùng đơn vị diện tích.
XEM THÊM
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2025 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính