![]() |
| 6 tháng đầu năm 2026, Việt Nam nhập khẩu khoảng 2,1 triệu tấn phân bón, giảm 34,9% so với cùng kỳ năm 2025, trong khi cơ cấu nguồn cung tiếp tục dịch chuyển theo hướng đa dạng hóa. Ảnh: minh hoạ |
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trong tháng 6/2026, Việt Nam nhập khẩu khoảng 311,2 nghìn tấn phân bón các loại với kim ngạch 111,4 triệu USD. Lũy kế 6 tháng đầu năm, lượng phân bón nhập khẩu đạt khoảng 2,1 triệu tấn, trị giá 694,3 triệu USD, giảm 34,9% về khối lượng và 33,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025.
Mức giảm gần 35% về lượng nhập khẩu cho thấy thị trường phân bón đã có nhiều thay đổi so với cùng kỳ năm trước. Trong bối cảnh giá phân bón thế giới dần hạ nhiệt, doanh nghiệp cũng chủ động điều chỉnh nguồn cung, góp phần bảo đảm nhu cầu vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp.
Nhập khẩu giảm mạnh, nguồn cung tiếp tục dịch chuyển
Theo số liệu của Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại (VITIC) - Bộ Công Thương, Trung Quốc tiếp tục là thị trường cung cấp phân bón lớn nhất cho Việt Nam. Trong 5 tháng đầu năm 2026, Việt Nam nhập khẩu từ thị trường này 853,55 nghìn tấn phân bón với trị giá 253,81 triệu USD, chiếm 43,54% tổng lượng nhập khẩu và 34,22% tổng kim ngạch nhập khẩu phân bón của cả nước.
So với cùng kỳ năm trước, lượng nhập khẩu từ Trung Quốc giảm 14,16%, trong khi trị giá chỉ giảm nhẹ 0,93%, cho thấy giá nhập khẩu bình quân có xu hướng tăng. Riêng trong tháng 5/2026, lượng nhập khẩu đạt 153,31 nghìn tấn, trị giá 47,33 triệu USD, giảm so với tháng trước và cùng kỳ năm 2025. Dù vậy, Trung Quốc vẫn giữ vai trò là nguồn cung phân bón lớn nhất nhờ lợi thế về khoảng cách địa lý, chủng loại hàng hóa đa dạng và khả năng cung ứng ổn định.
Nga tiếp tục là thị trường cung cấp lớn thứ hai nhưng ghi nhận mức sụt giảm đáng kể. Trong 5 tháng đầu năm, Việt Nam nhập khẩu 204,94 nghìn tấn phân bón từ Nga với trị giá 102,07 triệu USD, giảm 40,88% về lượng và 39,19% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Tỷ trọng nhập khẩu từ Nga giảm từ 22,42% xuống còn 17,51%. Theo VITIC, diễn biến này phản ánh tác động của chi phí logistics, biến động thương mại quốc tế cũng như sự cạnh tranh từ các nguồn cung khác.
Ở chiều ngược lại, Canada nổi lên là thị trường có tốc độ tăng trưởng mạnh nhất trong nhóm các nhà cung cấp lớn. Trong 5 tháng đầu năm, lượng phân bón nhập khẩu từ Canada đạt 96,39 nghìn tấn, tăng 46,8%, trong khi kim ngạch đạt 36,05 triệu USD, tăng 73,52% so với cùng kỳ năm trước. Riêng trong tháng 5, lượng nhập khẩu tăng mạnh khi doanh nghiệp đẩy mạnh nhập khẩu phân kali phục vụ sản xuất nông nghiệp, cho thấy xu hướng đa dạng hóa nguồn cung ngày càng rõ nét.
Đối với khu vực ASEAN, lượng phân bón nhập khẩu chỉ đạt 183,95 nghìn tấn với trị giá 60,74 triệu USD, giảm lần lượt 43,44% và 36,86% so với cùng kỳ năm trước. Tỷ trọng nhập khẩu từ khu vực này giảm xuống còn 10,42%. Trong đó, Lào vẫn là nhà cung cấp lớn nhất với 127,25 nghìn tấn, trị giá 45,15 triệu USD, song cũng giảm đáng kể so với cùng kỳ. Malaysia là thị trường giảm mạnh nhất khi lượng nhập khẩu giảm tới 97,09% và kim ngạch giảm 95,91%.
Xu hướng thu hẹp cũng diễn ra tại nhiều thị trường khác. Nhập khẩu từ Hàn Quốc giảm 17,51% về lượng và 30,07% về trị giá; Đài Loan giảm lần lượt 26,66% và 27,79%. Tại châu Âu, lượng nhập khẩu từ EU đạt 30,32 nghìn tấn, trị giá 13,35 triệu USD, giảm 43,26% về lượng và 39,99% về trị giá. Trong khối này, Bỉ vẫn là nhà cung cấp lớn nhất nhưng kim ngạch cũng giảm hơn 38%.
Một số thị trường ghi nhận diễn biến trái chiều. Nhập khẩu từ Nhật Bản tăng 5,66% về lượng nhưng giảm 5,06% về trị giá, cho thấy giá nhập khẩu bình quân có xu hướng giảm. Trong khi đó, Ấn Độ duy trì đà tăng trưởng với lượng nhập khẩu tăng 34,42% và trị giá tăng 31,85%. Ngược lại, Israel giảm mạnh nhất khi lượng nhập khẩu giảm tới 95,55% và trị giá giảm 81,78%.
Giá phân bón thế giới hạ nhiệt, thị trường trong nước duy trì ổn định
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, giá bán lẻ phân bón tại Mỹ trong tháng 6/2026 tiếp tục giảm so với tháng trước. Dữ liệu từ nền tảng thông tin thị trường nông sản DTN cho thấy, trong tám loại phân bón được theo dõi có sáu loại giảm giá và hai loại tăng nhẹ.
Urê giảm mạnh nhất, giảm 12% xuống còn bình quân 731 USD/tấn. UAN32 giảm 7%, còn 544 USD/tấn. Các loại MAP, 10-34-0, Anhydrous và UAN28 lần lượt ở mức 910 USD/tấn, 723 USD/tấn, 1.091 USD/tấn và 511 USD/tấn. Trong khi đó, DAP tăng nhẹ lên 955 USD/tấn và kali đạt 494 USD/tấn.
Dù giảm so với tháng trước, mặt bằng giá phân bón thế giới vẫn cao hơn cùng kỳ năm 2025. Trong đó, kali tăng 4%; phân 10-34-0 tăng 8%; UAN32 tăng 10%; urê tăng 12%; DAP tăng 13%; MAP tăng 15%; UAN28 tăng 23%; còn Anhydrous tăng mạnh nhất với 41%.
Ở thị trường trong nước, giá phân bón tại khu vực phía Nam tiếp tục tăng nhẹ trong tháng 6. DAP Trung Quốc được bán ở mức 1.050.000 đồng/bao 50 kg, tăng 20.000 đồng/bao so với tháng trước. DAP Hàn Quốc đạt 1.350.000 đồng/bao, cũng tăng 20.000 đồng/bao. Urê Trung Quốc đạt 650.000 đồng/bao, tăng 11.429 đồng/bao; Urê Phú Mỹ ở mức 710.000 đồng/bao, tăng 8.571 đồng/bao.
Đối với phân NPK, sản phẩm 20-20-15+TE Cò Bay đạt 1.020.000 đồng/bao, tăng 11.429 đồng; trong khi NPK 20-20-15+TE Quốc tế đạt 1.350.000 đồng/bao, tăng 14.286 đồng so với tháng trước.
Trong khi đó, thị trường miền Bắc nhìn chung ổn định. Phân lân Lâm Thao giữ mức 9.500 đồng/kg; NPK 10-5-15 Quế Lâm đạt 15.600 đồng/kg; phân hữu cơ vi sinh Quế Lâm 01 ở mức 7.500 đồng/kg. Urê hạt vàng Đầu Trâu 46A+ duy trì 23.500 đồng/kg; Kali Đầu Trâu Kali Sunphat Plus ở mức 30.000 đồng/kg; riêng Urê Hà Bắc ổn định ở mức 18.500 đồng/kg.
Diễn biến thị trường cho thấy hoạt động nhập khẩu phân bón đang được điều chỉnh theo hướng linh hoạt hơn. Bên cạnh việc duy trì nguồn cung từ các thị trường truyền thống, doanh nghiệp cũng chủ động mở rộng nhập khẩu từ những đối tác mới, góp phần bảo đảm nguồn phân bón phục vụ sản xuất nông nghiệp trong bối cảnh thị trường thế giới còn nhiều biến động./.