Chủ nhật 21/06/2026 20:09Chủ nhật 21/06/2026 20:09 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Nhà bác học Lương Định Của, người đặt nền móng cho nền nông nghiệp hiện đại Việt Nam

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Trong lịch sử nông nghiệp Việt Nam, tên tuổi bác sỹ nông học Lương Định Của sáng ngời như một vì sao, gắn liền với những đóng góp to lớn trong công cuộc cải tạo giống cây trồng, đưa nền nông nghiệp nước nhà bước sang một trang sử mới.
Nhà bác học Lương Định Của, người đặt nền móng cho nền nông nghiệp hiện đại Việt Nam
Chân dung bác sỹ nông học Lương Định Của.

Ông không chỉ là một nhà khoa học tài ba mà còn là một người con ưu tú của quê hương Sóc Trăng nói riêng và đất nước Việt Nam nói chung, một tấm gương sáng về lòng yêu nước, tinh thần say mê khoa học và ý chí kiên cường vượt khó. Cuộc đời và sự nghiệp của ông là nguồn cảm hứng bất tận cho các thế hệ nhà khoa học và những người làm nông nghiệp Việt Nam.

Lương Định Của sinh ngày 16 tháng 8 năm 1920 tại làng Đại Ngãi, quận Kế Sách (nay là thị trấn Đại Ngãi, huyện Long Phú), tỉnh Sóc Trăng, trong một gia đình trí thức giàu lòng yêu nước. Từ nhỏ, ông đã nổi tiếng thông minh, ham học. Sau khi học xong bậc tiểu học tại Sóc Trăng và trung học tại Sài Gòn, ông được gia đình tạo điều kiện sang Nhật Bản du học vào năm 1939. Tại đây, ông theo học tại Trường Đại học Nông nghiệp Tokyo (nay là Đại học Tokyo). Với sự thông minh và nỗ lực không ngừng, ông đã hoàn thành xuất sắc chương trình học và được nhận bằng Cử nhân Nông học vào năm 1943. Sau đó, ông tiếp tục nghiên cứu và được Hội đồng khoa học Trường Đại học Tổng hợp Kyoto nhất trí cấp học vị Bác sĩ Nông học, học vị cao nhất ở Nhật Bản lúc bấy giờ. Ông là người trẻ nhất và cũng là người nước ngoài duy nhất được cấp học vị này tại Nhật Bản, một minh chứng cho tài năng và sự xuất sắc của ông. Năm 1945, Lương Định Của lập gia đình với Nobuko Nakamura, 23 tuổi, một nữ sinh viên quê ở Kyushu, vừa tốt nghiệp Đại học Nữ công.

Tháng 9/1945, hay tin nước nhà độc lập, ông hăm hở muốn tìm cách trở về quê hương ngay nhưng rồi theo lời khuyên của anh em là cần phải trau dồi thêm tri thức để có thể trở về giúp ích nước nhà, Lương Định Của nén lòng ở lại nước Nhật và làm việc trong Viện Thực nghiệm, Trường Đại học Quốc lập Kyushu. Một thời gian sau, Lương Định Của tiếp tục ghi tên học ngành Di truyền chọn giống ở Tây Kinh (Kyoto), chuyên sâu về tế bào học. Với sự thông minh, nghiêm túc và cần cù trong học tập, nghiên cứu, Lương Định Của đã tốt nghiệp, được nhận bằng Bác sĩ Nông học loại ưu. Đây là học vị cao nhất trong ngành Nông học Nhật Bản và Lương Định Của là người thứ 94 và là người trẻ nhất và cũng là người nước ngoài duy nhất được cấp học vị này tại Nhật Bản thời điểm này, một minh chứng cho tài năng và sự xuất sắc của ông trên nước Nhật. Chính phủ Nhật phong Lương Định Của là Giáo thụ trường Đại học Quốc lập Kyushu. Từ bỏ một vị trí mà theo các chuyên gia lương không dưới 3 cây vàng/tháng để về nước trong hoàn cảnh chiến tranh thực sự là một quyết định không dễ dàng.

Nhưng với ông, tình yêu quê hương đất nước luôn cháy bỏng. Năm 1952, được sự đồng tâm của người vợ Nhật, Lương Định Của và vợ cùng 2 người con đã xuống tàu sang Hồng Kông để tìm đường về nước. Đến Hồng Kông, toàn bộ đồ đạc bị thất lạc, nhờ sự giúp đỡ của một người bạn học là Trương Văn Hi, Lương Định Của và gia đình nhỏ của mình mới về đến Sài Gòn an toàn cùng với một chiếc va-li lúa giống mà ông luôn cẩn thận mang theo người. Được tin Lương Định Của về nước, Chính quyền thân Pháp ở Sài Gòn cử người đến tiếp xúc, hứa hẹn nhiều việc làm và chức vụ cho ông, kể cả kế hoạch giao cho ông phụ trách một cơ sở nghiên cứu nông nghiệp ở Mỹ Tho.

Viện cớ mới về nước, không am hiểu được tình hình, nên ông chỉ nhận “một chân hợp đồng” ở Bộ Canh nông và ngấm ngầm tìm cách liên lạc với cơ sở kháng chiến. Sau gần 2 năm chờ đợi, Thành ủy Sài Gòn bí mật cử giao liên đưa gia đình ông theo đoàn cán bộ tập kết ra Bắc vào cuối năm 1954. Trong 2 năm đầu ở miền Bắc, Lương Định Của được phân công ở bộ phận Tổ lúa, rồi làm nhiệm vụ Phó phòng Khảo cứu thuộc Viện Nghiên cứu Nông lâm, còn bà Nakamura Nobuko được nhận vào công tác trong một phòng khác thuộc Viện. Sau đó, do con đông, lại thường xuyên đau yếu, nên bà Nobuko Nakamura phải xin nghỉ việc để chăm sóc con cái, đến năm 1962 mới làm việc lại ở Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam. Nói đến Lượng Định Của không thể nói về vợ ông, một phụ nữ Nhật Bản thủy chung son sắt yêu chồng, thương con vô bờ bến. Bà là hậu phương vững chắc của chồng trên mỗi bước đường gian nan của thời chiến tranh.

Nhà bác học Lương Định Của, người đặt nền móng cho nền nông nghiệp hiện đại Việt Nam
Tượng đài nhà nông học Lương Định Của tại quê hương Sóc Trăng

Sau khi hòa bình lập lại, ông được giao nhiều trọng trách trong ngành nông nghiệp. Từ năm 1963 đến 1967, ông giữ chức Phó Viện trưởng Viện Khoa học Nông nghiệp. Từ năm 1968 đến ngày mất (28 tháng 12 năm 1975), ông là Viện trưởng Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm. Ông cũng là đại biểu Quốc hội liên tục các khóa II, III, IV và V, thể hiện sự tín nhiệm của nhân dân đối với những đóng góp của ông.

Sự nghiệp khoa học của Lương Định Của gắn liền với những công trình nghiên cứu và cải tạo giống cây trồng, đặc biệt là lúa gạo. Ông được mệnh danh là “cha đẻ” của nhiều giống lúa mới, có năng suất cao, chất lượng tốt, phù hợp với điều kiện canh tác của Việt Nam. Một trong những thành tựu nổi bật của ông là việc lai tạo thành công giống lúa Nông nghiệp 1, giống lúa lai đầu tiên ở nước ta, được lai tạo giữa giống lúa Ba Thắc (Nam Bộ) với giống lúa Bun Kô (Nhật Bản). Giống lúa này đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao năng suất lúa gạo, giải quyết vấn đề lương thực cho đất nước trong giai đoạn khó khăn. Bên cạnh đó, ông còn nghiên cứu và lai tạo thành công nhiều giống lúa khác như giống lúa Mùa muộn, giống lúa Chiêm 314, giống lúa 388 (được phân lập từ dòng IR8 hay là Nông nghiệp 8), giống lúa Xuân sớm (Nông nghiệp 75-1),... Những giống lúa này không chỉ có năng suất cao mà còn có khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, thích ứng với nhiều điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng khác nhau.

Không chỉ tập trung vào nghiên cứu giống lúa, Lương Định Của còn có những đóng góp quan trọng trong việc cải tiến kỹ thuật canh tác. Ông đã đề xướng mô hình canh tác “bờ vùng, bờ thửa”, “cấy nông tay thẳng hàng”, “đảm bảo mật độ”, được hàng triệu nông dân Việt Nam áp dụng thành công trên diện rộng, tạo ra một cuộc cách mạng trong nông nghiệp. Những phương pháp này giúp tiết kiệm nước, phân bón, giảm thiểu sâu bệnh, nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế cho người nông dân. Ông luôn tâm niệm rằng khoa học phải gắn liền với thực tiễn, phục vụ sản xuất và đời sống của người dân. Ông thường xuyên xuống đồng ruộng, trực tiếp hướng dẫn nông dân áp dụng các kỹ thuật canh tác mới, lắng nghe ý kiến và kinh nghiệm của họ. Tên ông từng được nông dân gọi liền với tên của sản phẩm một cách thân thiết: dưa ông Của, cà chua ông Của, khoai ông Của, lúa ông Của... Còn bạn bè trìu mến gọi ông là “nhà bác học của đồng ruộng”. Ông được đánh giá là một trong những chuyên gia nông nghiệp hàng đầu của Việt Nam và là một nhà khoa học có uy tín trên thế giới.

Lương Định Của không chỉ là một nhà khoa học mà còn là một nhà giáo, một người thầy tận tâm. Ông đã đào tạo nhiều thế hệ cán bộ khoa học kỹ thuật nông nghiệp, truyền đạt cho họ kiến thức, kinh nghiệm và lòng yêu nghề. Ông luôn khuyến khích học trò học tập, nghiên cứu, sáng tạo, góp phần xây dựng nền nông nghiệp nước nhà ngày càng phát triển. Ông cũng là một nhà văn, nhà báo, với nhiều bài viết và công trình nghiên cứu được công bố trên các tạp chí khoa học trong và ngoài nước. Những tác phẩm của ông không chỉ có giá trị khoa học mà còn mang tính giáo dục sâu sắc, thể hiện tình yêu quê hương đất nước và lòng trắc ẩn với người nông dân.

Cuộc đời và sự nghiệp của Lương Định Của là một tấm gương sáng về tinh thần yêu nước, lòng say mê khoa học và ý chí kiên cường vượt khó. Ông đã dành cả cuộc đời mình cho sự nghiệp phát triển nông nghiệp Việt Nam, góp phần quan trọng vào việc đảm bảo an ninh lương thực cho đất nước. Những đóng góp của ông đã được Đảng, Nhà nước và nhân dân ghi nhận và tôn vinh. Ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động vào năm 1967. Tên tuổi của ông đã trở thành biểu tượng cho sự cống hiến, tài năng và đức độ của người trí thức Việt Nam. Tên ông được đặt cho một con đường ở thủ đô Hà Nội. Tỉnh Sóc Trăng quê hương ông đã xây dựng nhà tưởng niệm ông.

Ngày nay, những thành tựu của Lương Định Của vẫn tiếp tục được kế thừa và phát huy. Các thế hệ nhà khoa học và những người làm nông nghiệp Việt Nam luôn ghi nhớ công ơn của ông, tiếp tục nỗ lực nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, góp phần xây dựng nền nông nghiệp Việt Nam ngày càng hiện đại, bền vững và hội nhập quốc tế. Cuộc đời ông luôn gắn bó với đồng ruộng và luôn ước mơ người nông dân giàu lên từ đồng ruông, sinh thời ông luôn sắn quần lội ruông như một người nông dân thực thụ. Ông mất khi còn khá trẻ, một mất mát vô cùng lớn với đất nước, với dân tộc nhưng tên tuổi Lương Định Của sẽ mãi mãi được khắc ghi trong lịch sử nông nghiệp và đất nước Việt Nam, là nguồn cảm hứng bất tận cho các thế hệ mai sau./.

Bài liên quan

CÁC TIN BÀI KHÁC

Ngọn đuốc soi đường cho báo chí cách mạng Việt Nam

Ngọn đuốc soi đường cho báo chí cách mạng Việt Nam

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt nền móng cho báo chí cách mạng Việt Nam bằng việc sáng lập báo Thanh Niên (1925), định hướng tuyên truyền vì độc lập dân tộc, đào tạo lớp nhà báo đầu tiên và chỉ rõ tôn chỉ, mục đích phụng sự cách mạng, nhân dân.
Bác Hồ với phê bình trên Báo chí: Kim chỉ nam cho báo chí cách mạng Việt Nam

Bác Hồ với phê bình trên Báo chí: Kim chỉ nam cho báo chí cách mạng Việt Nam

Bài viết làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về phê bình trên báo chí cách mạng: phê bình phải trung thực, khách quan, có căn cứ, nhằm xây dựng và tiến bộ. Người nhấn mạnh vai trò giám sát của nhân dân, trách nhiệm tiếp thu phê bình của cán bộ, đảng viên và coi đây là kim chỉ nam để báo chí thực hiện tốt chức năng phản biện xã hội, phục vụ nhân dân.
Vai trò của báo chí - truyền thông đối với tăng trưởng xanh trong phát triển bền vững

Vai trò của báo chí - truyền thông đối với tăng trưởng xanh trong phát triển bền vững

Báo chí - truyền thông giữ vai trò quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng xanh và phát triển bền vững. Thông qua tuyên truyền, nâng cao nhận thức, lan tỏa các mô hình hiệu quả và giám sát thực thi chính sách, báo chí góp phần hình thành lối sống xanh, khuyến khích sản xuất, tiêu dùng bền vững và bảo vệ môi trường.
Công nghệ số mở đường cho nông nghiệp hữu cơ: Từ khảo sát thông minh đến quản trị vùng trồng

Công nghệ số mở đường cho nông nghiệp hữu cơ: Từ khảo sát thông minh đến quản trị vùng trồng

Nông nghiệp hữu cơ đang trở thành xu thế tất yếu của phát triển bền vững, yêu cầu về minh bạch dữ liệu, kiểm soát vùng trồng và truy xuất nguồn gốc ngày càng khắt khe hơn. Không còn là câu chuyện chỉ dựa vào kinh nghiệm canh tác truyền thống, nông nghiệp hữu cơ hiện nay đang bước vào giai đoạn chuyển đổi mạnh mẽ với sự hỗ trợ của công nghệ số. Tại buổi hội thảo chuyên đề do Chi cục trồng trọt và Bảo vệ thực vật – Sở NN&MT Lâm Đồng tổ chức, Công ty VDCD đã giới thiệu hàng loạt giải pháp công nghệ ứng dụng trong khảo sát, đo đạc và số hóa bản đồ 2D, 3D, VR360, mở ra hướng tiếp cận mới cho quản lý vùng sản xuất nông nghiệp hữu cơ.
Kinh tế báo chí và con đường tự chủ tài chính

Kinh tế báo chí và con đường tự chủ tài chính

Mãi đến gần đây vấn đề tự chủ báo chí mới được đặt ra một cách cấp thiết. Trước đây rất nhiều người quan niệm báo chí sinh ra là để phục vụ mục đích chính trị, tốn kém cũng được nhưng phải đúng, trúng, hay…
Khi báo chí trở thành cầu nối giữa nhà khoa học và người nông dân

Khi báo chí trở thành cầu nối giữa nhà khoa học và người nông dân

Việt Nam đang bước vào giai đoạn chuyển đổi mạnh theo hướng công nghệ cao và kinh tế xanh, vai trò của báo chí không còn dừng ở việc đưa tin mùa vụ hay phản ánh thị trường. Nhà báo ngày nay đang trở thành chiếc cầu nối đặc biệt giữa phòng thí nghiệm và cánh đồng, giúp các tiến bộ khoa học đi nhanh hơn tới người nông dân. Từ giống cây mới, kỹ thuật canh tác số cho tới mô hình nông nghiệp tuần hoàn, báo chí đang góp phần rút ngắn khoảng cách giữa tri thức khoa học và thực tiễn sản xuất.
Thống nhất chủ trương tổ chức kỷ niệm 15 năm thành lập Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam

Thống nhất chủ trương tổ chức kỷ niệm 15 năm thành lập Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam

Bộ Nông nghiệp và Môi trường thống nhất chủ trương tổ chức các hoạt động kỷ niệm 15 năm thành lập Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam theo hướng xã hội hóa, thiết thực, hiệu quả, tiết kiệm, tránh hình thức; đồng thời yêu cầu chuỗi hoạt động phải gắn với mục tiêu thúc đẩy phát triển nông nghiệp hữu cơ, lan tỏa giá trị sản xuất xanh, tiêu dùng bền vững và nâng tầm vị thế nông nghiệp hữu cơ Việt Nam.
Ngành phân bón Việt Nam trước yêu cầu tự chủ, xanh hóa và nâng cao năng lực cạnh tranh

Ngành phân bón Việt Nam trước yêu cầu tự chủ, xanh hóa và nâng cao năng lực cạnh tranh

Trong bối cảnh địa chính trị toàn cầu biến động nhanh, chuỗi cung ứng nguyên liệu, năng lượng và logistics liên tục chịu sức ép, ngành phân bón Việt Nam đang đứng trước yêu cầu phải xây dựng định hướng phát triển dài hạn theo hướng tự chủ, xanh hóa, ứng dụng công nghệ thông minh và gắn chặt với mục tiêu phát triển nông nghiệp bền vững.
Khát vọng thuận thiên và sứ mệnh làm "trụ đỡ" thế kỷ

Khát vọng thuận thiên và sứ mệnh làm "trụ đỡ" thế kỷ

Sự tương tác giữa canh tác bền vững, bảo tồn hệ sinh thái và ứng phó với thiên tai khốc liệt chính là chìa khóa cho bài toán an ninh lương thực.
Chăn nuôi hữu cơ ở miền núi Việt Nam: Thực trạng và giải pháp phát triển

Chăn nuôi hữu cơ ở miền núi Việt Nam: Thực trạng và giải pháp phát triển

Chăn nuôi hữu cơ ở miền núi đang trở thành hướng phát triển nông nghiệp bền vững nhờ tận dụng lợi thế đồng cỏ tự nhiên, môi trường sinh thái trong lành và tập quán chăn thả truyền thống. Mô hình này góp phần nâng cao giá trị sản phẩm, tăng thu nhập cho người dân và bảo vệ môi trường.
Tập huấn TOT về nông nghiệp hữu cơ và PGS cho các tổ chức sản xuất rừng, trang trại miền núi phía Bắc

Tập huấn TOT về nông nghiệp hữu cơ và PGS cho các tổ chức sản xuất rừng, trang trại miền núi phía Bắc

Từ ngày 08 đến 12/6/2026, tại Trường Đại học Lâm nghiệp, Trung tâm Nông nghiệp Hữu cơ tổ chức khóa tập huấn TOT với chủ đề “Nông nghiệp hữu cơ và Hệ thống đảm bảo cùng tham gia PGS cho các bên liên quan trong sản xuất rừng và trang trại tại các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam”.
Xu thế phát triển nông nghiệp hữu cơ trên thế giới và hướng đi của Việt Nam

Xu thế phát triển nông nghiệp hữu cơ trên thế giới và hướng đi của Việt Nam

Nông nghiệp hữu cơ là phương thức sản xuất thân thiện với môi trường, hạn chế hóa chất tổng hợp, ưu tiên sử dụng nguồn vật tư tự nhiên. Xu hướng này được thúc đẩy bởi nhận thức về sức khỏe, môi trường, và hỗ trợ từ chính phủ. Việt Nam có nhiều tiềm năng phát triển nông nghiệp hữu cơ nhờ lịch sử canh tác truyền thống ít phụ thuộc hóa chất.
XEM THÊM
dam-ca-mau-chi-vi-hoa
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2025 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính