ki-niem-15-voaa
Thứ sáu 31/07/2026 09:29Thứ sáu 31/07/2026 09:29 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Nhà bác học Lương Định Của, người đặt nền móng cho nền nông nghiệp hiện đại Việt Nam

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Trong lịch sử nông nghiệp Việt Nam, tên tuổi bác sỹ nông học Lương Định Của sáng ngời như một vì sao, gắn liền với những đóng góp to lớn trong công cuộc cải tạo giống cây trồng, đưa nền nông nghiệp nước nhà bước sang một trang sử mới.
Nhà bác học Lương Định Của, người đặt nền móng cho nền nông nghiệp hiện đại Việt Nam
Chân dung bác sỹ nông học Lương Định Của.

Ông không chỉ là một nhà khoa học tài ba mà còn là một người con ưu tú của quê hương Sóc Trăng nói riêng và đất nước Việt Nam nói chung, một tấm gương sáng về lòng yêu nước, tinh thần say mê khoa học và ý chí kiên cường vượt khó. Cuộc đời và sự nghiệp của ông là nguồn cảm hứng bất tận cho các thế hệ nhà khoa học và những người làm nông nghiệp Việt Nam.

Lương Định Của sinh ngày 16 tháng 8 năm 1920 tại làng Đại Ngãi, quận Kế Sách (nay là thị trấn Đại Ngãi, huyện Long Phú), tỉnh Sóc Trăng, trong một gia đình trí thức giàu lòng yêu nước. Từ nhỏ, ông đã nổi tiếng thông minh, ham học. Sau khi học xong bậc tiểu học tại Sóc Trăng và trung học tại Sài Gòn, ông được gia đình tạo điều kiện sang Nhật Bản du học vào năm 1939. Tại đây, ông theo học tại Trường Đại học Nông nghiệp Tokyo (nay là Đại học Tokyo). Với sự thông minh và nỗ lực không ngừng, ông đã hoàn thành xuất sắc chương trình học và được nhận bằng Cử nhân Nông học vào năm 1943. Sau đó, ông tiếp tục nghiên cứu và được Hội đồng khoa học Trường Đại học Tổng hợp Kyoto nhất trí cấp học vị Bác sĩ Nông học, học vị cao nhất ở Nhật Bản lúc bấy giờ. Ông là người trẻ nhất và cũng là người nước ngoài duy nhất được cấp học vị này tại Nhật Bản, một minh chứng cho tài năng và sự xuất sắc của ông. Năm 1945, Lương Định Của lập gia đình với Nobuko Nakamura, 23 tuổi, một nữ sinh viên quê ở Kyushu, vừa tốt nghiệp Đại học Nữ công.

Tháng 9/1945, hay tin nước nhà độc lập, ông hăm hở muốn tìm cách trở về quê hương ngay nhưng rồi theo lời khuyên của anh em là cần phải trau dồi thêm tri thức để có thể trở về giúp ích nước nhà, Lương Định Của nén lòng ở lại nước Nhật và làm việc trong Viện Thực nghiệm, Trường Đại học Quốc lập Kyushu. Một thời gian sau, Lương Định Của tiếp tục ghi tên học ngành Di truyền chọn giống ở Tây Kinh (Kyoto), chuyên sâu về tế bào học. Với sự thông minh, nghiêm túc và cần cù trong học tập, nghiên cứu, Lương Định Của đã tốt nghiệp, được nhận bằng Bác sĩ Nông học loại ưu. Đây là học vị cao nhất trong ngành Nông học Nhật Bản và Lương Định Của là người thứ 94 và là người trẻ nhất và cũng là người nước ngoài duy nhất được cấp học vị này tại Nhật Bản thời điểm này, một minh chứng cho tài năng và sự xuất sắc của ông trên nước Nhật. Chính phủ Nhật phong Lương Định Của là Giáo thụ trường Đại học Quốc lập Kyushu. Từ bỏ một vị trí mà theo các chuyên gia lương không dưới 3 cây vàng/tháng để về nước trong hoàn cảnh chiến tranh thực sự là một quyết định không dễ dàng.

Nhưng với ông, tình yêu quê hương đất nước luôn cháy bỏng. Năm 1952, được sự đồng tâm của người vợ Nhật, Lương Định Của và vợ cùng 2 người con đã xuống tàu sang Hồng Kông để tìm đường về nước. Đến Hồng Kông, toàn bộ đồ đạc bị thất lạc, nhờ sự giúp đỡ của một người bạn học là Trương Văn Hi, Lương Định Của và gia đình nhỏ của mình mới về đến Sài Gòn an toàn cùng với một chiếc va-li lúa giống mà ông luôn cẩn thận mang theo người. Được tin Lương Định Của về nước, Chính quyền thân Pháp ở Sài Gòn cử người đến tiếp xúc, hứa hẹn nhiều việc làm và chức vụ cho ông, kể cả kế hoạch giao cho ông phụ trách một cơ sở nghiên cứu nông nghiệp ở Mỹ Tho.

Viện cớ mới về nước, không am hiểu được tình hình, nên ông chỉ nhận “một chân hợp đồng” ở Bộ Canh nông và ngấm ngầm tìm cách liên lạc với cơ sở kháng chiến. Sau gần 2 năm chờ đợi, Thành ủy Sài Gòn bí mật cử giao liên đưa gia đình ông theo đoàn cán bộ tập kết ra Bắc vào cuối năm 1954. Trong 2 năm đầu ở miền Bắc, Lương Định Của được phân công ở bộ phận Tổ lúa, rồi làm nhiệm vụ Phó phòng Khảo cứu thuộc Viện Nghiên cứu Nông lâm, còn bà Nakamura Nobuko được nhận vào công tác trong một phòng khác thuộc Viện. Sau đó, do con đông, lại thường xuyên đau yếu, nên bà Nobuko Nakamura phải xin nghỉ việc để chăm sóc con cái, đến năm 1962 mới làm việc lại ở Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam. Nói đến Lượng Định Của không thể nói về vợ ông, một phụ nữ Nhật Bản thủy chung son sắt yêu chồng, thương con vô bờ bến. Bà là hậu phương vững chắc của chồng trên mỗi bước đường gian nan của thời chiến tranh.

Nhà bác học Lương Định Của, người đặt nền móng cho nền nông nghiệp hiện đại Việt Nam
Tượng đài nhà nông học Lương Định Của tại quê hương Sóc Trăng

Sau khi hòa bình lập lại, ông được giao nhiều trọng trách trong ngành nông nghiệp. Từ năm 1963 đến 1967, ông giữ chức Phó Viện trưởng Viện Khoa học Nông nghiệp. Từ năm 1968 đến ngày mất (28 tháng 12 năm 1975), ông là Viện trưởng Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm. Ông cũng là đại biểu Quốc hội liên tục các khóa II, III, IV và V, thể hiện sự tín nhiệm của nhân dân đối với những đóng góp của ông.

Sự nghiệp khoa học của Lương Định Của gắn liền với những công trình nghiên cứu và cải tạo giống cây trồng, đặc biệt là lúa gạo. Ông được mệnh danh là “cha đẻ” của nhiều giống lúa mới, có năng suất cao, chất lượng tốt, phù hợp với điều kiện canh tác của Việt Nam. Một trong những thành tựu nổi bật của ông là việc lai tạo thành công giống lúa Nông nghiệp 1, giống lúa lai đầu tiên ở nước ta, được lai tạo giữa giống lúa Ba Thắc (Nam Bộ) với giống lúa Bun Kô (Nhật Bản). Giống lúa này đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao năng suất lúa gạo, giải quyết vấn đề lương thực cho đất nước trong giai đoạn khó khăn. Bên cạnh đó, ông còn nghiên cứu và lai tạo thành công nhiều giống lúa khác như giống lúa Mùa muộn, giống lúa Chiêm 314, giống lúa 388 (được phân lập từ dòng IR8 hay là Nông nghiệp 8), giống lúa Xuân sớm (Nông nghiệp 75-1),... Những giống lúa này không chỉ có năng suất cao mà còn có khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, thích ứng với nhiều điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng khác nhau.

Không chỉ tập trung vào nghiên cứu giống lúa, Lương Định Của còn có những đóng góp quan trọng trong việc cải tiến kỹ thuật canh tác. Ông đã đề xướng mô hình canh tác “bờ vùng, bờ thửa”, “cấy nông tay thẳng hàng”, “đảm bảo mật độ”, được hàng triệu nông dân Việt Nam áp dụng thành công trên diện rộng, tạo ra một cuộc cách mạng trong nông nghiệp. Những phương pháp này giúp tiết kiệm nước, phân bón, giảm thiểu sâu bệnh, nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế cho người nông dân. Ông luôn tâm niệm rằng khoa học phải gắn liền với thực tiễn, phục vụ sản xuất và đời sống của người dân. Ông thường xuyên xuống đồng ruộng, trực tiếp hướng dẫn nông dân áp dụng các kỹ thuật canh tác mới, lắng nghe ý kiến và kinh nghiệm của họ. Tên ông từng được nông dân gọi liền với tên của sản phẩm một cách thân thiết: dưa ông Của, cà chua ông Của, khoai ông Của, lúa ông Của... Còn bạn bè trìu mến gọi ông là “nhà bác học của đồng ruộng”. Ông được đánh giá là một trong những chuyên gia nông nghiệp hàng đầu của Việt Nam và là một nhà khoa học có uy tín trên thế giới.

Lương Định Của không chỉ là một nhà khoa học mà còn là một nhà giáo, một người thầy tận tâm. Ông đã đào tạo nhiều thế hệ cán bộ khoa học kỹ thuật nông nghiệp, truyền đạt cho họ kiến thức, kinh nghiệm và lòng yêu nghề. Ông luôn khuyến khích học trò học tập, nghiên cứu, sáng tạo, góp phần xây dựng nền nông nghiệp nước nhà ngày càng phát triển. Ông cũng là một nhà văn, nhà báo, với nhiều bài viết và công trình nghiên cứu được công bố trên các tạp chí khoa học trong và ngoài nước. Những tác phẩm của ông không chỉ có giá trị khoa học mà còn mang tính giáo dục sâu sắc, thể hiện tình yêu quê hương đất nước và lòng trắc ẩn với người nông dân.

Cuộc đời và sự nghiệp của Lương Định Của là một tấm gương sáng về tinh thần yêu nước, lòng say mê khoa học và ý chí kiên cường vượt khó. Ông đã dành cả cuộc đời mình cho sự nghiệp phát triển nông nghiệp Việt Nam, góp phần quan trọng vào việc đảm bảo an ninh lương thực cho đất nước. Những đóng góp của ông đã được Đảng, Nhà nước và nhân dân ghi nhận và tôn vinh. Ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động vào năm 1967. Tên tuổi của ông đã trở thành biểu tượng cho sự cống hiến, tài năng và đức độ của người trí thức Việt Nam. Tên ông được đặt cho một con đường ở thủ đô Hà Nội. Tỉnh Sóc Trăng quê hương ông đã xây dựng nhà tưởng niệm ông.

Ngày nay, những thành tựu của Lương Định Của vẫn tiếp tục được kế thừa và phát huy. Các thế hệ nhà khoa học và những người làm nông nghiệp Việt Nam luôn ghi nhớ công ơn của ông, tiếp tục nỗ lực nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, góp phần xây dựng nền nông nghiệp Việt Nam ngày càng hiện đại, bền vững và hội nhập quốc tế. Cuộc đời ông luôn gắn bó với đồng ruộng và luôn ước mơ người nông dân giàu lên từ đồng ruông, sinh thời ông luôn sắn quần lội ruông như một người nông dân thực thụ. Ông mất khi còn khá trẻ, một mất mát vô cùng lớn với đất nước, với dân tộc nhưng tên tuổi Lương Định Của sẽ mãi mãi được khắc ghi trong lịch sử nông nghiệp và đất nước Việt Nam, là nguồn cảm hứng bất tận cho các thế hệ mai sau./.

Bài liên quan

CÁC TIN BÀI KHÁC

Đề cử điển hình tiên tiến góp sức phát triển nông nghiệp hữu cơ toàn quốc

Đề cử điển hình tiên tiến góp sức phát triển nông nghiệp hữu cơ toàn quốc

Trung tâm Khuyến nông tỉnh An Giang triển khai chương trình đề cử tham gia Lễ tôn vinh điển hình tiên tiến vì sự nghiệp phát triển nông nghiệp hữu cơ toàn quốc lần thứ III năm 2026, đồng thời yêu cầu các đơn vị trực thuộc đẩy mạnh tuyên truyền, rà soát và hoàn thiện hồ sơ đăng ký trước ngày 10/8/2026.
Diện tích sản xuất nông nghiệp hữu cơ ở Lâm Đồng đạt hơn 2 nghìn héc-ta

Diện tích sản xuất nông nghiệp hữu cơ ở Lâm Đồng đạt hơn 2 nghìn héc-ta

Với lợi thế về khí hậu, thổ nhưỡng và nguồn nước, Lâm Đồng đang từng bước khẳng định vị thế là một trong những địa phương đi đầu cả nước về phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp xanh và nông nghiệp hữu cơ. Sau 5 năm triển khai Đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2020-2025, diện tích sản xuất hữu cơ trên địa bàn tỉnh đã tăng mạnh, đạt hơn 2.000 ha.
An Giang phát động đề cử điển hình tiên tiến vì sự phát triển nông nghiệp hữu cơ Việt Nam

An Giang phát động đề cử điển hình tiên tiến vì sự phát triển nông nghiệp hữu cơ Việt Nam

Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang đã có văn bản đề nghị các đơn vị trực thuộc cùng UBND các xã, phường, đặc khu triển khai công tác tuyên truyền, rà soát và giới thiệu các tập thể, cá nhân tiêu biểu tham gia Chương trình tôn vinh điển hình tiên tiến vì sự nghiệp phát triển nông nghiệp hữu cơ Việt Nam năm 2026, góp phần lan tỏa những mô hình, sáng kiến hiệu quả trong lĩnh vực nông nghiệp hữu cơ.
Festival Organic Foods 2026: Điểm hẹn của thực phẩm hữu cơ và tiêu dùng xanh

Festival Organic Foods 2026: Điểm hẹn của thực phẩm hữu cơ và tiêu dùng xanh

Hàng chục thương hiệu thực phẩm hữu cơ sẽ cùng hội tụ tại Festival Organic Foods 2026, mang đến chuỗi hoạt động trải nghiệm, dùng thử sản phẩm và ưu đãi dành cho người tiêu dùng. Sự kiện do Farmers Market và Organicfood.vn tổ chức, kỳ vọng góp phần lan tỏa tiêu dùng xanh, đồng thời tạo thêm động lực cho sự phát triển của thị trường thực phẩm hữu cơ tại Việt Nam.
Thực trạng và giải pháp phát triển sản phẩm OCOP ở Việt Nam

Thực trạng và giải pháp phát triển sản phẩm OCOP ở Việt Nam

Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) đã góp phần khai thác tiềm năng địa phương, nâng cao giá trị nông sản và thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn ở Việt Nam. Tuy nhiên, nhiều sản phẩm OCOP vẫn gặp khó khăn về chất lượng, xây dựng thương hiệu, tiêu thụ và mở rộng thị trường. Việc hoàn thiện cơ chế hỗ trợ, nâng cao năng lực sản xuất và đẩy mạnh xúc tiến thương mại là những giải pháp quan trọng để phát triển OCOP bền vững.
Lâm Đồng đề xuất tôn vinh các điển hình tiên tiến phát triển Nông nghiệp hữu cơ lần thứ III năm 2026

Lâm Đồng đề xuất tôn vinh các điển hình tiên tiến phát triển Nông nghiệp hữu cơ lần thứ III năm 2026

Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Lâm Đồng vừa có văn bản đề nghị các đơn vị chuyên môn rà soát, giới thiệu những tập thể, cá nhân tiêu biểu trong phát triển nông nghiệp hữu cơ để tham mưu Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh đề cử tham gia Chương trình “Lễ tôn vinh điển hình tiên tiến phát triển nông nghiệp hữu cơ Việt Nam lần thứ III – 2026”. Đây được xem là dịp ghi nhận, lan tỏa những mô hình sản xuất hữu cơ hiệu quả, góp phần thúc đẩy phát triển nền nông nghiệp xanh, bền vững trên địa bàn tỉnh.
Vai trò của cây che phủ trong canh tác hữu cơ và bảo vệ độ phì nhiêu của đất

Vai trò của cây che phủ trong canh tác hữu cơ và bảo vệ độ phì nhiêu của đất

Cây che phủ đất giữ vai trò quan trọng trong canh tác hữu cơ, góp phần bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và nâng cao độ phì nhiêu. Việc sử dụng cây che phủ giúp gia tăng chất hữu cơ, cải thiện hoạt động vi sinh vật, sử dụng hiệu quả dinh dưỡng, hướng tới nền nông nghiệp xanh, tuần hoàn và phát triển bền vững.
Tháo gỡ những “điểm nghẽn” trong chuỗi giá trị hồ tiêu tỉnh Lâm Đồng

Tháo gỡ những “điểm nghẽn” trong chuỗi giá trị hồ tiêu tỉnh Lâm Đồng

Với lợi thế là địa phương có diện tích hồ tiêu lớn nhất cả nước, tỉnh Lâm Đồng đang chuyển mạnh từ phát triển theo sản lượng sang hướng tập trung nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Đây cũng là định hướng xuyên suốt được các nhà quản lý, chuyên gia, doanh nghiệp và người sản xuất chia sẻ tại Hội thảo "Giải pháp phát triển hồ tiêu bền vững tỉnh Lâm Đồng", nhằm xây dựng ngành hàng hồ tiêu đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường xuất khẩu.
Một số biện pháp quản lý sâu bệnh tổng hợp trong sản xuất rau hữu cơ

Một số biện pháp quản lý sâu bệnh tổng hợp trong sản xuất rau hữu cơ

Quản lý sâu bệnh tổng hợp (IPM) là giải pháp cốt lõi giúp sản xuất rau hữu cơ đạt hiệu quả, giảm thiểu tác động đến môi trường và bảo đảm an toàn thực phẩm. Việc kết hợp đồng bộ các biện pháp sinh học, canh tác và cơ giới góp phần nâng cao năng suất, chất lượng nông sản và phát triển nông nghiệp bền vững.
Đào tạo hơn 1,3 triệu lao động, hình thành lực lượng nông dân số và quản trị hợp tác xã hiện đại

Đào tạo hơn 1,3 triệu lao động, hình thành lực lượng nông dân số và quản trị hợp tác xã hiện đại

Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành Kế hoạch đào tạo nâng cao chất lượng lao động ngành nông nghiệp giai đoạn 2026–2030, đặt mục tiêu xây dựng lực lượng nông dân số, nông dân chuyên nghiệp và đội ngũ quản trị hợp tác xã hiện đại, đáp ứng yêu cầu phát triển nền nông nghiệp xanh, hữu cơ, thông minh và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Liên kết vùng để kiến tạo hệ sinh thái nông nghiệp thông minh, kinh tế xanh

Liên kết vùng để kiến tạo hệ sinh thái nông nghiệp thông minh, kinh tế xanh

Liên kết lợi thế của Hà Nội, Bắc Ninh và Hưng Yên trong một chuỗi giá trị thống nhất được xác định là hướng đi quan trọng để mở rộng không gian phát triển nông nghiệp. Từ quy hoạch vùng nguyên liệu, hạ tầng dữ liệu, logistics lạnh, chế biến sâu đến phân phối hiện đại và thương mại điện tử xuyên biên giới, vấn đề đặt ra là phải chuyển những cam kết liên kết thành chương trình hành động có đầu mối, nguồn lực và sản phẩm cụ thể.
Từ nông nghiệp truyền thống sang nông nghiệp tuần hoàn: Thực trạng, thách thức và giải pháp

Từ nông nghiệp truyền thống sang nông nghiệp tuần hoàn: Thực trạng, thách thức và giải pháp

Nông nghiệp tuần hoàn đang được xem là hướng đi tất yếu nhằm hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững và tăng trưởng xanh. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi từ nông nghiệp truyền thống sang nông nghiệp tuần hoàn ở Việt Nam vẫn đối mặt với nhiều thách thức về nhận thức, công nghệ, nguồn vốn và liên kết thị trường. Việc hoàn thiện chính sách, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực của người sản xuất là những giải pháp quan trọng để xây dựng nền nông nghiệp hiệu quả, thân thiện với môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu.
XEM THÊM
dam-ca-mau-chi-vi-hoa
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2026 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính