Thứ sáu 27/02/2026 23:51Thứ sáu 27/02/2026 23:51 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Nhà bác học Lương Định Của, người đặt nền móng cho nền nông nghiệp hiện đại Việt Nam

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Trong lịch sử nông nghiệp Việt Nam, tên tuổi bác sỹ nông học Lương Định Của sáng ngời như một vì sao, gắn liền với những đóng góp to lớn trong công cuộc cải tạo giống cây trồng, đưa nền nông nghiệp nước nhà bước sang một trang sử mới.
Nhà bác học Lương Định Của, người đặt nền móng cho nền nông nghiệp hiện đại Việt Nam
Chân dung bác sỹ nông học Lương Định Của.

Ông không chỉ là một nhà khoa học tài ba mà còn là một người con ưu tú của quê hương Sóc Trăng nói riêng và đất nước Việt Nam nói chung, một tấm gương sáng về lòng yêu nước, tinh thần say mê khoa học và ý chí kiên cường vượt khó. Cuộc đời và sự nghiệp của ông là nguồn cảm hứng bất tận cho các thế hệ nhà khoa học và những người làm nông nghiệp Việt Nam.

Lương Định Của sinh ngày 16 tháng 8 năm 1920 tại làng Đại Ngãi, quận Kế Sách (nay là thị trấn Đại Ngãi, huyện Long Phú), tỉnh Sóc Trăng, trong một gia đình trí thức giàu lòng yêu nước. Từ nhỏ, ông đã nổi tiếng thông minh, ham học. Sau khi học xong bậc tiểu học tại Sóc Trăng và trung học tại Sài Gòn, ông được gia đình tạo điều kiện sang Nhật Bản du học vào năm 1939. Tại đây, ông theo học tại Trường Đại học Nông nghiệp Tokyo (nay là Đại học Tokyo). Với sự thông minh và nỗ lực không ngừng, ông đã hoàn thành xuất sắc chương trình học và được nhận bằng Cử nhân Nông học vào năm 1943. Sau đó, ông tiếp tục nghiên cứu và được Hội đồng khoa học Trường Đại học Tổng hợp Kyoto nhất trí cấp học vị Bác sĩ Nông học, học vị cao nhất ở Nhật Bản lúc bấy giờ. Ông là người trẻ nhất và cũng là người nước ngoài duy nhất được cấp học vị này tại Nhật Bản, một minh chứng cho tài năng và sự xuất sắc của ông. Năm 1945, Lương Định Của lập gia đình với Nobuko Nakamura, 23 tuổi, một nữ sinh viên quê ở Kyushu, vừa tốt nghiệp Đại học Nữ công.

Tháng 9/1945, hay tin nước nhà độc lập, ông hăm hở muốn tìm cách trở về quê hương ngay nhưng rồi theo lời khuyên của anh em là cần phải trau dồi thêm tri thức để có thể trở về giúp ích nước nhà, Lương Định Của nén lòng ở lại nước Nhật và làm việc trong Viện Thực nghiệm, Trường Đại học Quốc lập Kyushu. Một thời gian sau, Lương Định Của tiếp tục ghi tên học ngành Di truyền chọn giống ở Tây Kinh (Kyoto), chuyên sâu về tế bào học. Với sự thông minh, nghiêm túc và cần cù trong học tập, nghiên cứu, Lương Định Của đã tốt nghiệp, được nhận bằng Bác sĩ Nông học loại ưu. Đây là học vị cao nhất trong ngành Nông học Nhật Bản và Lương Định Của là người thứ 94 và là người trẻ nhất và cũng là người nước ngoài duy nhất được cấp học vị này tại Nhật Bản thời điểm này, một minh chứng cho tài năng và sự xuất sắc của ông trên nước Nhật. Chính phủ Nhật phong Lương Định Của là Giáo thụ trường Đại học Quốc lập Kyushu. Từ bỏ một vị trí mà theo các chuyên gia lương không dưới 3 cây vàng/tháng để về nước trong hoàn cảnh chiến tranh thực sự là một quyết định không dễ dàng.

Nhưng với ông, tình yêu quê hương đất nước luôn cháy bỏng. Năm 1952, được sự đồng tâm của người vợ Nhật, Lương Định Của và vợ cùng 2 người con đã xuống tàu sang Hồng Kông để tìm đường về nước. Đến Hồng Kông, toàn bộ đồ đạc bị thất lạc, nhờ sự giúp đỡ của một người bạn học là Trương Văn Hi, Lương Định Của và gia đình nhỏ của mình mới về đến Sài Gòn an toàn cùng với một chiếc va-li lúa giống mà ông luôn cẩn thận mang theo người. Được tin Lương Định Của về nước, Chính quyền thân Pháp ở Sài Gòn cử người đến tiếp xúc, hứa hẹn nhiều việc làm và chức vụ cho ông, kể cả kế hoạch giao cho ông phụ trách một cơ sở nghiên cứu nông nghiệp ở Mỹ Tho.

Viện cớ mới về nước, không am hiểu được tình hình, nên ông chỉ nhận “một chân hợp đồng” ở Bộ Canh nông và ngấm ngầm tìm cách liên lạc với cơ sở kháng chiến. Sau gần 2 năm chờ đợi, Thành ủy Sài Gòn bí mật cử giao liên đưa gia đình ông theo đoàn cán bộ tập kết ra Bắc vào cuối năm 1954. Trong 2 năm đầu ở miền Bắc, Lương Định Của được phân công ở bộ phận Tổ lúa, rồi làm nhiệm vụ Phó phòng Khảo cứu thuộc Viện Nghiên cứu Nông lâm, còn bà Nakamura Nobuko được nhận vào công tác trong một phòng khác thuộc Viện. Sau đó, do con đông, lại thường xuyên đau yếu, nên bà Nobuko Nakamura phải xin nghỉ việc để chăm sóc con cái, đến năm 1962 mới làm việc lại ở Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam. Nói đến Lượng Định Của không thể nói về vợ ông, một phụ nữ Nhật Bản thủy chung son sắt yêu chồng, thương con vô bờ bến. Bà là hậu phương vững chắc của chồng trên mỗi bước đường gian nan của thời chiến tranh.

Nhà bác học Lương Định Của, người đặt nền móng cho nền nông nghiệp hiện đại Việt Nam
Tượng đài nhà nông học Lương Định Của tại quê hương Sóc Trăng

Sau khi hòa bình lập lại, ông được giao nhiều trọng trách trong ngành nông nghiệp. Từ năm 1963 đến 1967, ông giữ chức Phó Viện trưởng Viện Khoa học Nông nghiệp. Từ năm 1968 đến ngày mất (28 tháng 12 năm 1975), ông là Viện trưởng Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm. Ông cũng là đại biểu Quốc hội liên tục các khóa II, III, IV và V, thể hiện sự tín nhiệm của nhân dân đối với những đóng góp của ông.

Sự nghiệp khoa học của Lương Định Của gắn liền với những công trình nghiên cứu và cải tạo giống cây trồng, đặc biệt là lúa gạo. Ông được mệnh danh là “cha đẻ” của nhiều giống lúa mới, có năng suất cao, chất lượng tốt, phù hợp với điều kiện canh tác của Việt Nam. Một trong những thành tựu nổi bật của ông là việc lai tạo thành công giống lúa Nông nghiệp 1, giống lúa lai đầu tiên ở nước ta, được lai tạo giữa giống lúa Ba Thắc (Nam Bộ) với giống lúa Bun Kô (Nhật Bản). Giống lúa này đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao năng suất lúa gạo, giải quyết vấn đề lương thực cho đất nước trong giai đoạn khó khăn. Bên cạnh đó, ông còn nghiên cứu và lai tạo thành công nhiều giống lúa khác như giống lúa Mùa muộn, giống lúa Chiêm 314, giống lúa 388 (được phân lập từ dòng IR8 hay là Nông nghiệp 8), giống lúa Xuân sớm (Nông nghiệp 75-1),... Những giống lúa này không chỉ có năng suất cao mà còn có khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, thích ứng với nhiều điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng khác nhau.

Không chỉ tập trung vào nghiên cứu giống lúa, Lương Định Của còn có những đóng góp quan trọng trong việc cải tiến kỹ thuật canh tác. Ông đã đề xướng mô hình canh tác “bờ vùng, bờ thửa”, “cấy nông tay thẳng hàng”, “đảm bảo mật độ”, được hàng triệu nông dân Việt Nam áp dụng thành công trên diện rộng, tạo ra một cuộc cách mạng trong nông nghiệp. Những phương pháp này giúp tiết kiệm nước, phân bón, giảm thiểu sâu bệnh, nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế cho người nông dân. Ông luôn tâm niệm rằng khoa học phải gắn liền với thực tiễn, phục vụ sản xuất và đời sống của người dân. Ông thường xuyên xuống đồng ruộng, trực tiếp hướng dẫn nông dân áp dụng các kỹ thuật canh tác mới, lắng nghe ý kiến và kinh nghiệm của họ. Tên ông từng được nông dân gọi liền với tên của sản phẩm một cách thân thiết: dưa ông Của, cà chua ông Của, khoai ông Của, lúa ông Của... Còn bạn bè trìu mến gọi ông là “nhà bác học của đồng ruộng”. Ông được đánh giá là một trong những chuyên gia nông nghiệp hàng đầu của Việt Nam và là một nhà khoa học có uy tín trên thế giới.

Lương Định Của không chỉ là một nhà khoa học mà còn là một nhà giáo, một người thầy tận tâm. Ông đã đào tạo nhiều thế hệ cán bộ khoa học kỹ thuật nông nghiệp, truyền đạt cho họ kiến thức, kinh nghiệm và lòng yêu nghề. Ông luôn khuyến khích học trò học tập, nghiên cứu, sáng tạo, góp phần xây dựng nền nông nghiệp nước nhà ngày càng phát triển. Ông cũng là một nhà văn, nhà báo, với nhiều bài viết và công trình nghiên cứu được công bố trên các tạp chí khoa học trong và ngoài nước. Những tác phẩm của ông không chỉ có giá trị khoa học mà còn mang tính giáo dục sâu sắc, thể hiện tình yêu quê hương đất nước và lòng trắc ẩn với người nông dân.

Cuộc đời và sự nghiệp của Lương Định Của là một tấm gương sáng về tinh thần yêu nước, lòng say mê khoa học và ý chí kiên cường vượt khó. Ông đã dành cả cuộc đời mình cho sự nghiệp phát triển nông nghiệp Việt Nam, góp phần quan trọng vào việc đảm bảo an ninh lương thực cho đất nước. Những đóng góp của ông đã được Đảng, Nhà nước và nhân dân ghi nhận và tôn vinh. Ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động vào năm 1967. Tên tuổi của ông đã trở thành biểu tượng cho sự cống hiến, tài năng và đức độ của người trí thức Việt Nam. Tên ông được đặt cho một con đường ở thủ đô Hà Nội. Tỉnh Sóc Trăng quê hương ông đã xây dựng nhà tưởng niệm ông.

Ngày nay, những thành tựu của Lương Định Của vẫn tiếp tục được kế thừa và phát huy. Các thế hệ nhà khoa học và những người làm nông nghiệp Việt Nam luôn ghi nhớ công ơn của ông, tiếp tục nỗ lực nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, góp phần xây dựng nền nông nghiệp Việt Nam ngày càng hiện đại, bền vững và hội nhập quốc tế. Cuộc đời ông luôn gắn bó với đồng ruộng và luôn ước mơ người nông dân giàu lên từ đồng ruông, sinh thời ông luôn sắn quần lội ruông như một người nông dân thực thụ. Ông mất khi còn khá trẻ, một mất mát vô cùng lớn với đất nước, với dân tộc nhưng tên tuổi Lương Định Của sẽ mãi mãi được khắc ghi trong lịch sử nông nghiệp và đất nước Việt Nam, là nguồn cảm hứng bất tận cho các thế hệ mai sau./.

Bài liên quan

CÁC TIN BÀI KHÁC

Vai trò của nông nghiệp hữu cơ trong việc tăng cường sức khoẻ đất, giảm phát thải khí nhà kính và giảm nhẹ biến đổi khí hậu

Vai trò của nông nghiệp hữu cơ trong việc tăng cường sức khoẻ đất, giảm phát thải khí nhà kính và giảm nhẹ biến đổi khí hậu

Nông nghiệp hữu cơ (NNHC) có vai trò thiết yếu trong việc tăng cường sức khỏe đất (cải thiện cấu trúc, giữ nước, tăng chất hữu cơ), giảm phát thải khí nhà kính (giảm N2ON sub 2 ON2O từ phân đạm, tăng hấp thụ carbon) và giảm nhẹ biến đổi khí hậu (tăng khả năng chống chịu, tạo hệ sinh thái bền vững), hướng tới một nền nông nghiệp xanh, sạch, an toàn và bền vững.
Khuyến nông Hà Tĩnh - "nhịp cầu" đưa nông nghiệp hữu cơ vào thực tiễn

Khuyến nông Hà Tĩnh - "nhịp cầu" đưa nông nghiệp hữu cơ vào thực tiễn

Trong không khí rộn ràng đón Xuân Bính Ngọ, Tạp chí Hữu cơ Việt Nam đã có cuộc trò chuyện thân mật với ông Nguyễn Hữu Ngọc, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Hà Tĩnh để cùng nhìn lại những thành tựu đáng tự hào trong năm qua và lắng nghe những kế hoạch, kỳ vọng mà ngành sẽ triển khai nhằm mang lại một diện mạo mới mẻ, đậm đà bản sắc cho mảnh đất và con người Hà Tĩnh trong năm mới.
Xu hướng toàn cầu và "sân chơi" hữu cơ

Xu hướng toàn cầu và "sân chơi" hữu cơ

Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, khi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra tiêu chuẩn cao hơn, nông nghiệp hữu cơ chính là chìa khóa để nông sản Việt Nam bước vào những “cánh cửa” thị trường khó tính nhất. Nếu tận dụng tốt tiềm năng, khắc phục những điểm nghẽn và xây dựng được chuỗi giá trị bền vững, nông nghiệp hữu cơ hoàn toàn có thể trở thành một trụ cột mới trong chiến lược xuất khẩu nông sản của Việt Nam trong tương lai.
Kinh tế biển và khoa học về biển trong chiến lược phát triển của Việt Nam

Kinh tế biển và khoa học về biển trong chiến lược phát triển của Việt Nam

Biển và đại dương chiếm hơn 70% diện tích bề mặt Trái Đất, giữ vai trò vô cùng quan trọng đối với sự sống và sự phát triển của nhân loại. Đối với Việt Nam - một quốc gia ven biển thuộc khu vực Đông Nam Á, biển không chỉ mang ý nghĩa về tài nguyên, kinh tế mà còn có giá trị đặc biệt về quốc phòng, an ninh và chủ quyền quốc gia. Vì vậy, phát triển kinh tế biển gắn với đẩy mạnh khoa học về biển là yêu cầu cấp thiết và mang tính chiến lược lâu dài.
Xây dựng thương hiệu: “Đòn bẩy” để nông nghiệp hữu cơ Việt Nam vươn xa

Xây dựng thương hiệu: “Đòn bẩy” để nông nghiệp hữu cơ Việt Nam vươn xa

Trong bối cảnh người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến sức khỏe và môi trường, nông nghiệp hữu cơ được xem là xu hướng tất yếu của phát triển bền vững. Tại Việt Nam, sản xuất nông nghiệp hữu cơ đã có những bước tiến đáng kể, với hàng nghìn hecta canh tác và hàng trăm doanh nghiệp, hợp tác xã tham gia. Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhiều sản phẩm hữu cơ vẫn loay hoay tìm chỗ đứng trên thị trường. Một trong những “nút thắt” lớn nhất chính là truyền thông và xây dựng thương hiệu chưa tương xứng với tiềm năng.
Rừng ngập mặn: “Vườn ươm” sinh vật biển, lá phổi xanh cho tương lai

Rừng ngập mặn: “Vườn ươm” sinh vật biển, lá phổi xanh cho tương lai

Rừng ngập mặn đóng vai trò như “lá phổi xanh” của vùng ven biển, hấp thu lượng lớn CO2, qua đó góp phần quan trọng vào nỗ lực giảm phát thải và thích ứng biến đổi khí hậu. Không những thế, hệ sinh thái rừng ngập mặn còn là nơi ương dưỡng tự nhiên cho nhiều loài thủy sinh vật, cung cấp nguồn thức ăn, nơi trú ẩn và môi trường sinh sản thiết yếu.
Kinh tế xanh không phải là khẩu hiệu mà là nhu cầu của xã hội

Kinh tế xanh không phải là khẩu hiệu mà là nhu cầu của xã hội

Trong nhiều năm qua, khái niệm “xanh hoá nền kinh tế” xuất hiện ngày càng dày đặc trong các văn kiện, diễn đàn, chiến lược phát triển và các chương trình hành động ở cả tầm quốc gia lẫn địa phương.
Vai trò của chính sách nâng tầm nông nghiệp hữu cơ Việt Nam

Vai trò của chính sách nâng tầm nông nghiệp hữu cơ Việt Nam

Nông nghiệp hữu cơ đang trở thành một hướng đi chiến lược, không chỉ góp phần bảo vệ môi trường mà còn mở ra cơ hội nâng tầm giá trị nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế. Các chính sách và biện pháp hỗ trợ đã, đang và sẽ tiếp tục định hướng, tạo hành lang pháp lý và thúc đẩy nông nghiệp hữu cơ phát triển bền vững, qua đó góp phần củng cố vị thế của nền nông nghiệp Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Kiến tạo những miền quê cân bằng và bền vững

Kiến tạo những miền quê cân bằng và bền vững

Nông thôn mới đang chuyển mình sang kỷ nguyên hữu cơ, nơi kinh tế xanh và tuần hoàn là trụ cột. Đây là bước đệm lịch sử, kiến tạo những miền quê hiện đại, cân bằng và hài hòa giữa phát triển với thiên nhiên.
Năm Ngọ niềm kiêu hãnh về sự mạnh mẽ và phóng khoáng

Năm Ngọ niềm kiêu hãnh về sự mạnh mẽ và phóng khoáng

Xuân Bính Ngọ về, không chỉ là sự chuyển giao của đất trời, của thời gian, mà còn là một cuộc hẹn hò thiêng liêng với những tầng lớp cảm xúc sâu thẳm trong tâm hồn mỗi người Việt. Năm Ngọ, năm của con Ngựa - loài vật tượng trưng cho sự kiên trì, tốc độ, và khát vọng vươn xa, mang theo một luồng sinh khí mới mẻ, mạnh mẽ. Cảm xúc vào Xuân Bính Ngọ vì thế cũng đa chiều, vừa sâu lắng nét truyền thống, vừa rạo rực tinh thần dấn thân, khác biệt hẳn so với bất kỳ mùa xuân nào khác.
Ngựa trong văn hóa Việt: Từ chiến mã linh thiêng đến khát vọng “hóa rồng”

Ngựa trong văn hóa Việt: Từ chiến mã linh thiêng đến khát vọng “hóa rồng”

Trong tâm thức ngàn đời của người Việt, con ngựa không chỉ là vật nuôi, là phương tiện, mà đã hóa thân thành một biểu tượng văn hóa đa diện. Từ những huyền thoại giữ nước đến những bức phù điêu nơi mái đình rêu phong, hình tượng Ngọ luôn song hành cùng vận mệnh dân tộc với cốt cách bền bỉ và khát vọng vươn tới những chân trời tự do.
Phát triển Nông nghiệp hữu cơ trong không gian đô thị: Chiến lược kiến tạo khả năng phục hồi sinh thái tại Việt Nam

Phát triển Nông nghiệp hữu cơ trong không gian đô thị: Chiến lược kiến tạo khả năng phục hồi sinh thái tại Việt Nam

Sự bùng nổ của quá trình đô thị hóa tại Việt Nam đang dần hình thành những siêu đô thị trong tương lai, đặt ra vấn đề hóc búa về an ninh lương thực và chất lượng sống. Khi bê tông dần thay thế không gian xanh, việc phát triển nông nghiệp hữu cơ ngay trong lòng thành phố không chỉ dừng lại ở quy mô thí điểm, mà hoàn toàn có khả năng trở thành một chiến lược sinh tồn và phát triển bền vững, hướng tới việc xây dựng các thành phố có khả năng tự phục hồi.
XEM THÊM
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2025 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính