Thứ tư 24/06/2026 23:42Thứ tư 24/06/2026 23:42 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Nhà bác học Lương Định Của, người đặt nền móng cho nền nông nghiệp hiện đại Việt Nam

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Trong lịch sử nông nghiệp Việt Nam, tên tuổi bác sỹ nông học Lương Định Của sáng ngời như một vì sao, gắn liền với những đóng góp to lớn trong công cuộc cải tạo giống cây trồng, đưa nền nông nghiệp nước nhà bước sang một trang sử mới.
Nhà bác học Lương Định Của, người đặt nền móng cho nền nông nghiệp hiện đại Việt Nam
Chân dung bác sỹ nông học Lương Định Của.

Ông không chỉ là một nhà khoa học tài ba mà còn là một người con ưu tú của quê hương Sóc Trăng nói riêng và đất nước Việt Nam nói chung, một tấm gương sáng về lòng yêu nước, tinh thần say mê khoa học và ý chí kiên cường vượt khó. Cuộc đời và sự nghiệp của ông là nguồn cảm hứng bất tận cho các thế hệ nhà khoa học và những người làm nông nghiệp Việt Nam.

Lương Định Của sinh ngày 16 tháng 8 năm 1920 tại làng Đại Ngãi, quận Kế Sách (nay là thị trấn Đại Ngãi, huyện Long Phú), tỉnh Sóc Trăng, trong một gia đình trí thức giàu lòng yêu nước. Từ nhỏ, ông đã nổi tiếng thông minh, ham học. Sau khi học xong bậc tiểu học tại Sóc Trăng và trung học tại Sài Gòn, ông được gia đình tạo điều kiện sang Nhật Bản du học vào năm 1939. Tại đây, ông theo học tại Trường Đại học Nông nghiệp Tokyo (nay là Đại học Tokyo). Với sự thông minh và nỗ lực không ngừng, ông đã hoàn thành xuất sắc chương trình học và được nhận bằng Cử nhân Nông học vào năm 1943. Sau đó, ông tiếp tục nghiên cứu và được Hội đồng khoa học Trường Đại học Tổng hợp Kyoto nhất trí cấp học vị Bác sĩ Nông học, học vị cao nhất ở Nhật Bản lúc bấy giờ. Ông là người trẻ nhất và cũng là người nước ngoài duy nhất được cấp học vị này tại Nhật Bản, một minh chứng cho tài năng và sự xuất sắc của ông. Năm 1945, Lương Định Của lập gia đình với Nobuko Nakamura, 23 tuổi, một nữ sinh viên quê ở Kyushu, vừa tốt nghiệp Đại học Nữ công.

Tháng 9/1945, hay tin nước nhà độc lập, ông hăm hở muốn tìm cách trở về quê hương ngay nhưng rồi theo lời khuyên của anh em là cần phải trau dồi thêm tri thức để có thể trở về giúp ích nước nhà, Lương Định Của nén lòng ở lại nước Nhật và làm việc trong Viện Thực nghiệm, Trường Đại học Quốc lập Kyushu. Một thời gian sau, Lương Định Của tiếp tục ghi tên học ngành Di truyền chọn giống ở Tây Kinh (Kyoto), chuyên sâu về tế bào học. Với sự thông minh, nghiêm túc và cần cù trong học tập, nghiên cứu, Lương Định Của đã tốt nghiệp, được nhận bằng Bác sĩ Nông học loại ưu. Đây là học vị cao nhất trong ngành Nông học Nhật Bản và Lương Định Của là người thứ 94 và là người trẻ nhất và cũng là người nước ngoài duy nhất được cấp học vị này tại Nhật Bản thời điểm này, một minh chứng cho tài năng và sự xuất sắc của ông trên nước Nhật. Chính phủ Nhật phong Lương Định Của là Giáo thụ trường Đại học Quốc lập Kyushu. Từ bỏ một vị trí mà theo các chuyên gia lương không dưới 3 cây vàng/tháng để về nước trong hoàn cảnh chiến tranh thực sự là một quyết định không dễ dàng.

Nhưng với ông, tình yêu quê hương đất nước luôn cháy bỏng. Năm 1952, được sự đồng tâm của người vợ Nhật, Lương Định Của và vợ cùng 2 người con đã xuống tàu sang Hồng Kông để tìm đường về nước. Đến Hồng Kông, toàn bộ đồ đạc bị thất lạc, nhờ sự giúp đỡ của một người bạn học là Trương Văn Hi, Lương Định Của và gia đình nhỏ của mình mới về đến Sài Gòn an toàn cùng với một chiếc va-li lúa giống mà ông luôn cẩn thận mang theo người. Được tin Lương Định Của về nước, Chính quyền thân Pháp ở Sài Gòn cử người đến tiếp xúc, hứa hẹn nhiều việc làm và chức vụ cho ông, kể cả kế hoạch giao cho ông phụ trách một cơ sở nghiên cứu nông nghiệp ở Mỹ Tho.

Viện cớ mới về nước, không am hiểu được tình hình, nên ông chỉ nhận “một chân hợp đồng” ở Bộ Canh nông và ngấm ngầm tìm cách liên lạc với cơ sở kháng chiến. Sau gần 2 năm chờ đợi, Thành ủy Sài Gòn bí mật cử giao liên đưa gia đình ông theo đoàn cán bộ tập kết ra Bắc vào cuối năm 1954. Trong 2 năm đầu ở miền Bắc, Lương Định Của được phân công ở bộ phận Tổ lúa, rồi làm nhiệm vụ Phó phòng Khảo cứu thuộc Viện Nghiên cứu Nông lâm, còn bà Nakamura Nobuko được nhận vào công tác trong một phòng khác thuộc Viện. Sau đó, do con đông, lại thường xuyên đau yếu, nên bà Nobuko Nakamura phải xin nghỉ việc để chăm sóc con cái, đến năm 1962 mới làm việc lại ở Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam. Nói đến Lượng Định Của không thể nói về vợ ông, một phụ nữ Nhật Bản thủy chung son sắt yêu chồng, thương con vô bờ bến. Bà là hậu phương vững chắc của chồng trên mỗi bước đường gian nan của thời chiến tranh.

Nhà bác học Lương Định Của, người đặt nền móng cho nền nông nghiệp hiện đại Việt Nam
Tượng đài nhà nông học Lương Định Của tại quê hương Sóc Trăng

Sau khi hòa bình lập lại, ông được giao nhiều trọng trách trong ngành nông nghiệp. Từ năm 1963 đến 1967, ông giữ chức Phó Viện trưởng Viện Khoa học Nông nghiệp. Từ năm 1968 đến ngày mất (28 tháng 12 năm 1975), ông là Viện trưởng Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm. Ông cũng là đại biểu Quốc hội liên tục các khóa II, III, IV và V, thể hiện sự tín nhiệm của nhân dân đối với những đóng góp của ông.

Sự nghiệp khoa học của Lương Định Của gắn liền với những công trình nghiên cứu và cải tạo giống cây trồng, đặc biệt là lúa gạo. Ông được mệnh danh là “cha đẻ” của nhiều giống lúa mới, có năng suất cao, chất lượng tốt, phù hợp với điều kiện canh tác của Việt Nam. Một trong những thành tựu nổi bật của ông là việc lai tạo thành công giống lúa Nông nghiệp 1, giống lúa lai đầu tiên ở nước ta, được lai tạo giữa giống lúa Ba Thắc (Nam Bộ) với giống lúa Bun Kô (Nhật Bản). Giống lúa này đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao năng suất lúa gạo, giải quyết vấn đề lương thực cho đất nước trong giai đoạn khó khăn. Bên cạnh đó, ông còn nghiên cứu và lai tạo thành công nhiều giống lúa khác như giống lúa Mùa muộn, giống lúa Chiêm 314, giống lúa 388 (được phân lập từ dòng IR8 hay là Nông nghiệp 8), giống lúa Xuân sớm (Nông nghiệp 75-1),... Những giống lúa này không chỉ có năng suất cao mà còn có khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, thích ứng với nhiều điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng khác nhau.

Không chỉ tập trung vào nghiên cứu giống lúa, Lương Định Của còn có những đóng góp quan trọng trong việc cải tiến kỹ thuật canh tác. Ông đã đề xướng mô hình canh tác “bờ vùng, bờ thửa”, “cấy nông tay thẳng hàng”, “đảm bảo mật độ”, được hàng triệu nông dân Việt Nam áp dụng thành công trên diện rộng, tạo ra một cuộc cách mạng trong nông nghiệp. Những phương pháp này giúp tiết kiệm nước, phân bón, giảm thiểu sâu bệnh, nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế cho người nông dân. Ông luôn tâm niệm rằng khoa học phải gắn liền với thực tiễn, phục vụ sản xuất và đời sống của người dân. Ông thường xuyên xuống đồng ruộng, trực tiếp hướng dẫn nông dân áp dụng các kỹ thuật canh tác mới, lắng nghe ý kiến và kinh nghiệm của họ. Tên ông từng được nông dân gọi liền với tên của sản phẩm một cách thân thiết: dưa ông Của, cà chua ông Của, khoai ông Của, lúa ông Của... Còn bạn bè trìu mến gọi ông là “nhà bác học của đồng ruộng”. Ông được đánh giá là một trong những chuyên gia nông nghiệp hàng đầu của Việt Nam và là một nhà khoa học có uy tín trên thế giới.

Lương Định Của không chỉ là một nhà khoa học mà còn là một nhà giáo, một người thầy tận tâm. Ông đã đào tạo nhiều thế hệ cán bộ khoa học kỹ thuật nông nghiệp, truyền đạt cho họ kiến thức, kinh nghiệm và lòng yêu nghề. Ông luôn khuyến khích học trò học tập, nghiên cứu, sáng tạo, góp phần xây dựng nền nông nghiệp nước nhà ngày càng phát triển. Ông cũng là một nhà văn, nhà báo, với nhiều bài viết và công trình nghiên cứu được công bố trên các tạp chí khoa học trong và ngoài nước. Những tác phẩm của ông không chỉ có giá trị khoa học mà còn mang tính giáo dục sâu sắc, thể hiện tình yêu quê hương đất nước và lòng trắc ẩn với người nông dân.

Cuộc đời và sự nghiệp của Lương Định Của là một tấm gương sáng về tinh thần yêu nước, lòng say mê khoa học và ý chí kiên cường vượt khó. Ông đã dành cả cuộc đời mình cho sự nghiệp phát triển nông nghiệp Việt Nam, góp phần quan trọng vào việc đảm bảo an ninh lương thực cho đất nước. Những đóng góp của ông đã được Đảng, Nhà nước và nhân dân ghi nhận và tôn vinh. Ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động vào năm 1967. Tên tuổi của ông đã trở thành biểu tượng cho sự cống hiến, tài năng và đức độ của người trí thức Việt Nam. Tên ông được đặt cho một con đường ở thủ đô Hà Nội. Tỉnh Sóc Trăng quê hương ông đã xây dựng nhà tưởng niệm ông.

Ngày nay, những thành tựu của Lương Định Của vẫn tiếp tục được kế thừa và phát huy. Các thế hệ nhà khoa học và những người làm nông nghiệp Việt Nam luôn ghi nhớ công ơn của ông, tiếp tục nỗ lực nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, góp phần xây dựng nền nông nghiệp Việt Nam ngày càng hiện đại, bền vững và hội nhập quốc tế. Cuộc đời ông luôn gắn bó với đồng ruộng và luôn ước mơ người nông dân giàu lên từ đồng ruông, sinh thời ông luôn sắn quần lội ruông như một người nông dân thực thụ. Ông mất khi còn khá trẻ, một mất mát vô cùng lớn với đất nước, với dân tộc nhưng tên tuổi Lương Định Của sẽ mãi mãi được khắc ghi trong lịch sử nông nghiệp và đất nước Việt Nam, là nguồn cảm hứng bất tận cho các thế hệ mai sau./.

Bài liên quan

CÁC TIN BÀI KHÁC

Báo chí bứt phá cùng nông nghiệp xanh, hữu cơ, tuần hoàn

Báo chí bứt phá cùng nông nghiệp xanh, hữu cơ, tuần hoàn

Việt Nam đang bước vào giai đoạn tăng tốc của tiến trình hiện đại hóa nông nghiệp theo hướng bền vững. Trên hành trình ấy, báo chí không chỉ dừng lại ở vai trò “người ghi tin”, mà đã thực sự bứt phá để trở thành một mắt xích không thể tách rời, một động lực thúc đẩy hệ sinh thái nông nghiệp xanh, hữu cơ và tuần hoàn.
Vai trò mới của báo chí trong phát triển nông nghiệp xanh

Vai trò mới của báo chí trong phát triển nông nghiệp xanh

Trong dòng chảy chuyển đổi của ngành nông nghiệp Việt Nam, báo chí không chỉ dừng lại ở việc phản ánh mùa vụ, giá cả hay những mô hình sản xuất mới. Trước yêu cầu phát triển nông nghiệp xanh, hữu cơ, tuần hoàn và có trách nhiệm với môi trường, báo chí đang đứng trước một vai trò rộng hơn: diễn giải chính sách, phát hiện vấn đề, lan tỏa mô hình tốt, kết nối các chủ thể trong chuỗi giá trị và bảo vệ những người làm nông nghiệp tử tế.
Truyền thông và sứ mệnh lan tỏa nhận thức đúng về nông nghiệp hữu cơ

Truyền thông và sứ mệnh lan tỏa nhận thức đúng về nông nghiệp hữu cơ

Trong tiến trình chuyển đổi sang nền nông nghiệp xanh, trong đó có sản xuất hữu cơ, tuần hoàn và phát thải thấp, báo chí không chỉ phản ánh đời sống sản xuất. Bằng năng lực truyền dẫn chính sách, kết nối tri thức và kiểm chứng thông tin, báo chí góp phần lan tỏa giá trị thật, bảo vệ người làm thật và củng cố niềm tin thị trường.
Khi ngòi bút trở thành hạt mầm cho nông nghiệp tương lai

Khi ngòi bút trở thành hạt mầm cho nông nghiệp tương lai

Báo chí đã tự thân vươn mình, trở thành một “mắt xích” chiến lược trong hệ sinh thái nông nghiệp hữu cơ, vì một Việt Nam xanh và bền vững cho muôn đời sau.
Ảnh hưởng của chế phẩm sinh học đến năng suất và chất lượng cây ăn quả hữu cơ

Ảnh hưởng của chế phẩm sinh học đến năng suất và chất lượng cây ăn quả hữu cơ

Trong sản xuất cây ăn quả hữu cơ, chế phẩm sinh học đang được xem là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao năng suất và chất lượng nông sản. Nghiên cứu cho thấy việc sử dụng chế phẩm sinh học giúp tăng tỷ lệ đậu quả, cải thiện giá trị dinh dưỡng, giảm chi phí sản xuất và góp phần phát triển nông nghiệp bền vững.
Sứ mệnh và tầm nhìn mới

Sứ mệnh và tầm nhìn mới

Trong bức tranh tổng thể của nền kinh tế toàn cầu thế kỷ XXI, “xanh hóa” không còn là một khái niệm xa xỉ hay một phong trào nhất thời, mà đã trở thành kim chỉ nam cho mọi chiến lược phát triển bền vững. Tại Việt Nam, nông nghiệp hữu cơ chính là “trái tim” của chiến lược kinh tế xanh. Trong hoàn cảnh đó, Tạp chí Hữu cơ Việt Nam đang đứng trước những vận hội và thách thức chưa từng có, đóng vai trò là cơ quan ngôn luận, là người định hướng và là cầu nối quan trọng thúc đẩy tư duy sản xuất sạch cho cộng đồng.
Kỷ nguyên số mở ra cơ hội nào cho báo chí nông nghiệp Việt Nam?

Kỷ nguyên số mở ra cơ hội nào cho báo chí nông nghiệp Việt Nam?

Sự bùng nổ của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và nền tảng mạng xã hội đang tạo ra một bước ngoặt lớn với báo chí Việt Nam. Trong dòng chảy ấy, báo chí nông nghiệp đứng trước cơ hội chưa từng có để mở rộng độc giả, tăng tốc truyền tải tri thức sản xuất và trở thành cầu nối dữ liệu giữa nông dân với thị trường. Nếu trước đây thông tin nông nghiệp thường gắn với những trang báo chuyên ngành có phạm vi tiếp cận hẹp, thì nay chỉ bằng một chiếc điện thoại thông minh, người nông dân có thể tiếp cận tin tức mùa vụ, giá cả, công nghệ canh tác và xu hướng xuất khẩu gần như theo thời gian thực.
Sức lan tỏa của nông nghiệp hữu cơ thông qua báo chí

Sức lan tỏa của nông nghiệp hữu cơ thông qua báo chí

Báo chí đóng vai trò quan trọng trong việc lan tỏa các giá trị của nông nghiệp hữu cơ, một trụ cột quan trọng của kinh tế xanh, thông qua việc cung cấp thông tin, tạo diễn đàn đối thoại, tôn vinh điển hình và giáo dục cộng đồng. Vượt qua thách thức, báo chí kiến tạo nhận thức và thúc đẩy hành động vì một tương lai nông nghiệp hữu cơ bền vững.
Nông nghiệp hữu cơ trước những yêu cầu mới của "tam nông"

Nông nghiệp hữu cơ trước những yêu cầu mới của "tam nông"

Trong dòng chảy đổi mới tư duy phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn (gọi tắt là tam nông), nông nghiệp hữu cơ không còn là câu chuyện riêng của một nhóm người sản xuất tiên phong. Trước những yêu cầu thực tiễn về tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi số, nâng cao đời sống nông dân và xây dựng nông thôn hiện đại, hữu cơ đang đứng trước một vai trò rộng lớn hơn: trở thành một phương thức tổ chức lại sản xuất, thị trường và không gian sống ở nông thôn theo hướng bền vững.
Báo chí đồng hành cùng nông nghiệp hữu cơ Việt Nam bước vào kỷ nguyên xanh

Báo chí đồng hành cùng nông nghiệp hữu cơ Việt Nam bước vào kỷ nguyên xanh

Nhân kỷ niệm 101 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21/6/1925 - 21/6/2026), Tạp chí Hữu cơ Việt Nam đã có cuộc trao đổi với TSKH. Hà Phúc Mịch, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khoá XI, Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam (VOAA) về vai trò của báo chí nói chung, báo chí số nói riêng trong phát triển nông nghiệp xanh, hữu cơ, tuần hoàn. Theo Chủ tịch VOAA, trong giai đoạn mới, báo chí không chỉ là kênh truyền tải thông tin, mà còn là lực lượng kiến tạo nhận thức, bảo vệ niềm tin thị trường và thúc đẩy hành động xã hội vì một nền nông nghiệp minh bạch, trách nhiệm, bền vững.
Ngọn đuốc soi đường cho báo chí cách mạng Việt Nam

Ngọn đuốc soi đường cho báo chí cách mạng Việt Nam

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt nền móng cho báo chí cách mạng Việt Nam bằng việc sáng lập báo Thanh Niên (1925), định hướng tuyên truyền vì độc lập dân tộc, đào tạo lớp nhà báo đầu tiên và chỉ rõ tôn chỉ, mục đích phụng sự cách mạng, nhân dân.
Bác Hồ với phê bình trên Báo chí: Kim chỉ nam cho báo chí cách mạng Việt Nam

Bác Hồ với phê bình trên Báo chí: Kim chỉ nam cho báo chí cách mạng Việt Nam

Bài viết làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về phê bình trên báo chí cách mạng: phê bình phải trung thực, khách quan, có căn cứ, nhằm xây dựng và tiến bộ. Người nhấn mạnh vai trò giám sát của nhân dân, trách nhiệm tiếp thu phê bình của cán bộ, đảng viên và coi đây là kim chỉ nam để báo chí thực hiện tốt chức năng phản biện xã hội, phục vụ nhân dân.
XEM THÊM
dam-ca-mau-chi-vi-hoa
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2025 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính