Thứ sáu 23/01/2026 16:49Thứ sáu 23/01/2026 16:49 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Nhà bác học Lương Định Của, người đặt nền móng cho nền nông nghiệp hiện đại Việt Nam

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Trong lịch sử nông nghiệp Việt Nam, tên tuổi bác sỹ nông học Lương Định Của sáng ngời như một vì sao, gắn liền với những đóng góp to lớn trong công cuộc cải tạo giống cây trồng, đưa nền nông nghiệp nước nhà bước sang một trang sử mới.
Nhà bác học Lương Định Của, người đặt nền móng cho nền nông nghiệp hiện đại Việt Nam
Chân dung bác sỹ nông học Lương Định Của.

Ông không chỉ là một nhà khoa học tài ba mà còn là một người con ưu tú của quê hương Sóc Trăng nói riêng và đất nước Việt Nam nói chung, một tấm gương sáng về lòng yêu nước, tinh thần say mê khoa học và ý chí kiên cường vượt khó. Cuộc đời và sự nghiệp của ông là nguồn cảm hứng bất tận cho các thế hệ nhà khoa học và những người làm nông nghiệp Việt Nam.

Lương Định Của sinh ngày 16 tháng 8 năm 1920 tại làng Đại Ngãi, quận Kế Sách (nay là thị trấn Đại Ngãi, huyện Long Phú), tỉnh Sóc Trăng, trong một gia đình trí thức giàu lòng yêu nước. Từ nhỏ, ông đã nổi tiếng thông minh, ham học. Sau khi học xong bậc tiểu học tại Sóc Trăng và trung học tại Sài Gòn, ông được gia đình tạo điều kiện sang Nhật Bản du học vào năm 1939. Tại đây, ông theo học tại Trường Đại học Nông nghiệp Tokyo (nay là Đại học Tokyo). Với sự thông minh và nỗ lực không ngừng, ông đã hoàn thành xuất sắc chương trình học và được nhận bằng Cử nhân Nông học vào năm 1943. Sau đó, ông tiếp tục nghiên cứu và được Hội đồng khoa học Trường Đại học Tổng hợp Kyoto nhất trí cấp học vị Bác sĩ Nông học, học vị cao nhất ở Nhật Bản lúc bấy giờ. Ông là người trẻ nhất và cũng là người nước ngoài duy nhất được cấp học vị này tại Nhật Bản, một minh chứng cho tài năng và sự xuất sắc của ông. Năm 1945, Lương Định Của lập gia đình với Nobuko Nakamura, 23 tuổi, một nữ sinh viên quê ở Kyushu, vừa tốt nghiệp Đại học Nữ công.

Tháng 9/1945, hay tin nước nhà độc lập, ông hăm hở muốn tìm cách trở về quê hương ngay nhưng rồi theo lời khuyên của anh em là cần phải trau dồi thêm tri thức để có thể trở về giúp ích nước nhà, Lương Định Của nén lòng ở lại nước Nhật và làm việc trong Viện Thực nghiệm, Trường Đại học Quốc lập Kyushu. Một thời gian sau, Lương Định Của tiếp tục ghi tên học ngành Di truyền chọn giống ở Tây Kinh (Kyoto), chuyên sâu về tế bào học. Với sự thông minh, nghiêm túc và cần cù trong học tập, nghiên cứu, Lương Định Của đã tốt nghiệp, được nhận bằng Bác sĩ Nông học loại ưu. Đây là học vị cao nhất trong ngành Nông học Nhật Bản và Lương Định Của là người thứ 94 và là người trẻ nhất và cũng là người nước ngoài duy nhất được cấp học vị này tại Nhật Bản thời điểm này, một minh chứng cho tài năng và sự xuất sắc của ông trên nước Nhật. Chính phủ Nhật phong Lương Định Của là Giáo thụ trường Đại học Quốc lập Kyushu. Từ bỏ một vị trí mà theo các chuyên gia lương không dưới 3 cây vàng/tháng để về nước trong hoàn cảnh chiến tranh thực sự là một quyết định không dễ dàng.

Nhưng với ông, tình yêu quê hương đất nước luôn cháy bỏng. Năm 1952, được sự đồng tâm của người vợ Nhật, Lương Định Của và vợ cùng 2 người con đã xuống tàu sang Hồng Kông để tìm đường về nước. Đến Hồng Kông, toàn bộ đồ đạc bị thất lạc, nhờ sự giúp đỡ của một người bạn học là Trương Văn Hi, Lương Định Của và gia đình nhỏ của mình mới về đến Sài Gòn an toàn cùng với một chiếc va-li lúa giống mà ông luôn cẩn thận mang theo người. Được tin Lương Định Của về nước, Chính quyền thân Pháp ở Sài Gòn cử người đến tiếp xúc, hứa hẹn nhiều việc làm và chức vụ cho ông, kể cả kế hoạch giao cho ông phụ trách một cơ sở nghiên cứu nông nghiệp ở Mỹ Tho.

Viện cớ mới về nước, không am hiểu được tình hình, nên ông chỉ nhận “một chân hợp đồng” ở Bộ Canh nông và ngấm ngầm tìm cách liên lạc với cơ sở kháng chiến. Sau gần 2 năm chờ đợi, Thành ủy Sài Gòn bí mật cử giao liên đưa gia đình ông theo đoàn cán bộ tập kết ra Bắc vào cuối năm 1954. Trong 2 năm đầu ở miền Bắc, Lương Định Của được phân công ở bộ phận Tổ lúa, rồi làm nhiệm vụ Phó phòng Khảo cứu thuộc Viện Nghiên cứu Nông lâm, còn bà Nakamura Nobuko được nhận vào công tác trong một phòng khác thuộc Viện. Sau đó, do con đông, lại thường xuyên đau yếu, nên bà Nobuko Nakamura phải xin nghỉ việc để chăm sóc con cái, đến năm 1962 mới làm việc lại ở Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam. Nói đến Lượng Định Của không thể nói về vợ ông, một phụ nữ Nhật Bản thủy chung son sắt yêu chồng, thương con vô bờ bến. Bà là hậu phương vững chắc của chồng trên mỗi bước đường gian nan của thời chiến tranh.

Nhà bác học Lương Định Của, người đặt nền móng cho nền nông nghiệp hiện đại Việt Nam
Tượng đài nhà nông học Lương Định Của tại quê hương Sóc Trăng

Sau khi hòa bình lập lại, ông được giao nhiều trọng trách trong ngành nông nghiệp. Từ năm 1963 đến 1967, ông giữ chức Phó Viện trưởng Viện Khoa học Nông nghiệp. Từ năm 1968 đến ngày mất (28 tháng 12 năm 1975), ông là Viện trưởng Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm. Ông cũng là đại biểu Quốc hội liên tục các khóa II, III, IV và V, thể hiện sự tín nhiệm của nhân dân đối với những đóng góp của ông.

Sự nghiệp khoa học của Lương Định Của gắn liền với những công trình nghiên cứu và cải tạo giống cây trồng, đặc biệt là lúa gạo. Ông được mệnh danh là “cha đẻ” của nhiều giống lúa mới, có năng suất cao, chất lượng tốt, phù hợp với điều kiện canh tác của Việt Nam. Một trong những thành tựu nổi bật của ông là việc lai tạo thành công giống lúa Nông nghiệp 1, giống lúa lai đầu tiên ở nước ta, được lai tạo giữa giống lúa Ba Thắc (Nam Bộ) với giống lúa Bun Kô (Nhật Bản). Giống lúa này đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao năng suất lúa gạo, giải quyết vấn đề lương thực cho đất nước trong giai đoạn khó khăn. Bên cạnh đó, ông còn nghiên cứu và lai tạo thành công nhiều giống lúa khác như giống lúa Mùa muộn, giống lúa Chiêm 314, giống lúa 388 (được phân lập từ dòng IR8 hay là Nông nghiệp 8), giống lúa Xuân sớm (Nông nghiệp 75-1),... Những giống lúa này không chỉ có năng suất cao mà còn có khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, thích ứng với nhiều điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng khác nhau.

Không chỉ tập trung vào nghiên cứu giống lúa, Lương Định Của còn có những đóng góp quan trọng trong việc cải tiến kỹ thuật canh tác. Ông đã đề xướng mô hình canh tác “bờ vùng, bờ thửa”, “cấy nông tay thẳng hàng”, “đảm bảo mật độ”, được hàng triệu nông dân Việt Nam áp dụng thành công trên diện rộng, tạo ra một cuộc cách mạng trong nông nghiệp. Những phương pháp này giúp tiết kiệm nước, phân bón, giảm thiểu sâu bệnh, nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế cho người nông dân. Ông luôn tâm niệm rằng khoa học phải gắn liền với thực tiễn, phục vụ sản xuất và đời sống của người dân. Ông thường xuyên xuống đồng ruộng, trực tiếp hướng dẫn nông dân áp dụng các kỹ thuật canh tác mới, lắng nghe ý kiến và kinh nghiệm của họ. Tên ông từng được nông dân gọi liền với tên của sản phẩm một cách thân thiết: dưa ông Của, cà chua ông Của, khoai ông Của, lúa ông Của... Còn bạn bè trìu mến gọi ông là “nhà bác học của đồng ruộng”. Ông được đánh giá là một trong những chuyên gia nông nghiệp hàng đầu của Việt Nam và là một nhà khoa học có uy tín trên thế giới.

Lương Định Của không chỉ là một nhà khoa học mà còn là một nhà giáo, một người thầy tận tâm. Ông đã đào tạo nhiều thế hệ cán bộ khoa học kỹ thuật nông nghiệp, truyền đạt cho họ kiến thức, kinh nghiệm và lòng yêu nghề. Ông luôn khuyến khích học trò học tập, nghiên cứu, sáng tạo, góp phần xây dựng nền nông nghiệp nước nhà ngày càng phát triển. Ông cũng là một nhà văn, nhà báo, với nhiều bài viết và công trình nghiên cứu được công bố trên các tạp chí khoa học trong và ngoài nước. Những tác phẩm của ông không chỉ có giá trị khoa học mà còn mang tính giáo dục sâu sắc, thể hiện tình yêu quê hương đất nước và lòng trắc ẩn với người nông dân.

Cuộc đời và sự nghiệp của Lương Định Của là một tấm gương sáng về tinh thần yêu nước, lòng say mê khoa học và ý chí kiên cường vượt khó. Ông đã dành cả cuộc đời mình cho sự nghiệp phát triển nông nghiệp Việt Nam, góp phần quan trọng vào việc đảm bảo an ninh lương thực cho đất nước. Những đóng góp của ông đã được Đảng, Nhà nước và nhân dân ghi nhận và tôn vinh. Ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động vào năm 1967. Tên tuổi của ông đã trở thành biểu tượng cho sự cống hiến, tài năng và đức độ của người trí thức Việt Nam. Tên ông được đặt cho một con đường ở thủ đô Hà Nội. Tỉnh Sóc Trăng quê hương ông đã xây dựng nhà tưởng niệm ông.

Ngày nay, những thành tựu của Lương Định Của vẫn tiếp tục được kế thừa và phát huy. Các thế hệ nhà khoa học và những người làm nông nghiệp Việt Nam luôn ghi nhớ công ơn của ông, tiếp tục nỗ lực nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, góp phần xây dựng nền nông nghiệp Việt Nam ngày càng hiện đại, bền vững và hội nhập quốc tế. Cuộc đời ông luôn gắn bó với đồng ruộng và luôn ước mơ người nông dân giàu lên từ đồng ruông, sinh thời ông luôn sắn quần lội ruông như một người nông dân thực thụ. Ông mất khi còn khá trẻ, một mất mát vô cùng lớn với đất nước, với dân tộc nhưng tên tuổi Lương Định Của sẽ mãi mãi được khắc ghi trong lịch sử nông nghiệp và đất nước Việt Nam, là nguồn cảm hứng bất tận cho các thế hệ mai sau./.

Bài liên quan

CÁC TIN BÀI KHÁC

Niềm tin cần được xây dựng bằng sự tử tế trong sản xuất - góc nhìn từ vụ Đồ hộp Hạ Long

Niềm tin cần được xây dựng bằng sự tử tế trong sản xuất - góc nhìn từ vụ Đồ hộp Hạ Long

Việc xử lý nghiêm các doanh nghiệp lớn như Công ty Cổ phần Đồ hộp Hạ Long thể hiện tinh thần ‘không có vùng cấm’ trong công tác đảm bảo an toàn thực phẩm. Tuy nhiên, chúng ta cần một cơ chế giám sát từ xa và tự động hóa việc truy xuất nguồn gốc, thay vì chỉ đi giải quyết phần ngọn khi sự việc đã rồi.
Nông nghiệp hữu cơ - Xu thế tất yếu của nông nghiệp hiện đại

Nông nghiệp hữu cơ - Xu thế tất yếu của nông nghiệp hiện đại

Sản xuất nông nghiệp theo chuẩn VietGAP, tuần hoàn, hữu cơ hay nông nghiệp xanh đang trở thành xu thế tất yếu của nông nghiệp hiện đại. Nông nghiệp hữu cơ góp phần tránh hoặc loại bỏ hoàn toàn sản phẩm có chứa chất hóa học, thay vào đó là sử dụng các chế phẩm sinh học không gây hại cho môi trường và các loại sinh vật có lợi, đảm bảo sức khỏe cho người sản xuất và người tiêu dùng.
Bảo tồn và lưu giữ nguồn gen cây nguyên liệu dầu và cây tinh dầu

Bảo tồn và lưu giữ nguồn gen cây nguyên liệu dầu và cây tinh dầu

Tài nguyên di truyền thực vật là một bộ phận của giống, là vật liệu ban đầu để lai tạo ra giống mới và là hạt nhân của đa dạng sinh học nên giữ vai trò rất quan trọng trong chiến lược phát triển nông nghiệp của mỗi quốc gia. Thực tế cho thấy quốc gia nào sở hữu nguồn tài nguyên di truyền sinh vật nói chung và nguồn tài nguyên thực vật nói riêng càng đa dạng và phong phú thì sẽ đạt được nhiều thành tựu nổi bật trong công tác chọn tạo giống mới phục vụ phát triển kinh tế đất nước.
Vai trò của vụ đông trong chiến lược an ninh lương thực quốc gia

Vai trò của vụ đông trong chiến lược an ninh lương thực quốc gia

Khi biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp trên phạm vi toàn cầu, dân số gia tăng, quỹ đất nông nghiệp bị thu hẹp và yêu cầu nâng cao chất lượng sống của người dân ngày càng cao, vấn đề an ninh lương thực không chỉ dừng lại ở việc “đủ ăn” mà còn hướng tới “ăn đủ dinh dưỡng, ăn an toàn và bền vững”.
Kinh tế dữ liệu là động lực tăng trưởng mới trong kỷ nguyên số

Kinh tế dữ liệu là động lực tăng trưởng mới trong kỷ nguyên số

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ, dữ liệu đã trở thành một loại “tài nguyên chiến lược” tương tự như đất đai, lao động hay vốn. Nếu như trước đây dữ liệu chỉ được xem là sản phẩm phụ của các hoạt động kinh tế - xã hội, thì ngày nay, dữ liệu được khai thác, phân tích và chuyển hóa thành giá trị kinh tế to lớn.
Giải "bài toán" hữu cơ và năng suất: Từ tranh luận đến cách tiếp cận khoa học

Giải "bài toán" hữu cơ và năng suất: Từ tranh luận đến cách tiếp cận khoa học

Trong nhiều năm qua, câu hỏi “nông nghiệp hữu cơ có bảo đảm năng suất hay không?” luôn là chủ đề gây tranh luận trong giới hoạch định chính sách, nhà khoa học, doanh nghiệp và nông dân.
Phát triển nông nghiệp hữu cơ: Cần giải pháp đồng bộ để mở rộng “cuộc chơi”

Phát triển nông nghiệp hữu cơ: Cần giải pháp đồng bộ để mở rộng “cuộc chơi”

Nông nghiệp hữu cơ tại Việt Nam đang có những bước phát triển tích cực, thể hiện qua diện tích canh tác mở rộng, số lượng chủ thể tham gia tăng và danh mục sản phẩm ngày càng đa dạng.
Khi đô thị hóa tăng tốc, đất đai trở thành “chìa khóa xanh” của tương lai

Khi đô thị hóa tăng tốc, đất đai trở thành “chìa khóa xanh” của tương lai

Đất khỏe mạnh chính là nền tảng cốt lõi xây dựng các đô thị xanh, kiên cường và bền vững. Hãy cùng khám phá vai trò của đất trong việc bảo đảm an ninh lương thực đô thị và nâng cao chất lượng sống cư dân thành thị.
Kinh tế tuần hoàn ở ĐBSCL: Tiềm năng lớn nhưng chỉ "dám" đầu tư nhỏ

Kinh tế tuần hoàn ở ĐBSCL: Tiềm năng lớn nhưng chỉ "dám" đầu tư nhỏ

Kinh tế tuần hoàn (KTTH) được xem là hướng đi tất yếu giúp Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu, song thực tiễn triển khai gặp nhiều rào cản, khiến doanh nghiệp chưa 'dám' đầu tư quy mô lớn.
Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam cần thu hẹp khoảng cách với "sân chơi" toàn cầu

Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam cần thu hẹp khoảng cách với "sân chơi" toàn cầu

Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam đang có tốc độ phát triển sản xuất nhanh hơn so với bình quân của thế giới. Thế nhưng, quy mô sản xuất theo hướng an toàn và bền vững này của Việt Nam vẫn rất nhỏ so với thế giới.
Nông nghiệp và Môi trường: Bản lĩnh vượt thách thức, giữ vững trụ đỡ phát triển bền vững

Nông nghiệp và Môi trường: Bản lĩnh vượt thách thức, giữ vững trụ đỡ phát triển bền vững

Năm 2025, dù bối cảnh thế giới nhiều biến động, kinh tế phục hồi chậm và biến đổi khí hậu ngày càng khốc liệt, ngành nông nghiệp và môi trường (NN&MT) Việt Nam vẫn khẳng định vai trò trụ đỡ của nền kinh tế, góp phần ổn định vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội.
Thị trường hữu cơ hướng tới mốc nghìn tỷ USD - cơ hội cho Việt Nam

Thị trường hữu cơ hướng tới mốc nghìn tỷ USD - cơ hội cho Việt Nam

Dự báo giai đoạn 2025 - 2034 cho thấy thị trường thực phẩm hữu cơ toàn cầu có thể đạt 1,05 nghìn tỷ USD vào năm 2034. Tại Việt Nam, sản xuất hữu cơ đã mở rộng trên 174.000ha với 17.200 chủ thể tham gia và gần 600 cơ sở chế biến; nhiều địa phương như Nghệ An, Hải Phòng đang cụ thể hóa mục tiêu bằng đề án, lộ trình và định hướng mở rộng vùng sản xuất theo lợi thế sinh thái.
XEM THÊM
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2025 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính