Thứ sáu 12/06/2026 17:02Thứ sáu 12/06/2026 17:02 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: [email protected]

Tag

Nhà bác học Lương Định Của, người đặt nền móng cho nền nông nghiệp hiện đại Việt Nam

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Trong lịch sử nông nghiệp Việt Nam, tên tuổi bác sỹ nông học Lương Định Của sáng ngời như một vì sao, gắn liền với những đóng góp to lớn trong công cuộc cải tạo giống cây trồng, đưa nền nông nghiệp nước nhà bước sang một trang sử mới.
Nhà bác học Lương Định Của, người đặt nền móng cho nền nông nghiệp hiện đại Việt Nam
Chân dung bác sỹ nông học Lương Định Của.

Ông không chỉ là một nhà khoa học tài ba mà còn là một người con ưu tú của quê hương Sóc Trăng nói riêng và đất nước Việt Nam nói chung, một tấm gương sáng về lòng yêu nước, tinh thần say mê khoa học và ý chí kiên cường vượt khó. Cuộc đời và sự nghiệp của ông là nguồn cảm hứng bất tận cho các thế hệ nhà khoa học và những người làm nông nghiệp Việt Nam.

Lương Định Của sinh ngày 16 tháng 8 năm 1920 tại làng Đại Ngãi, quận Kế Sách (nay là thị trấn Đại Ngãi, huyện Long Phú), tỉnh Sóc Trăng, trong một gia đình trí thức giàu lòng yêu nước. Từ nhỏ, ông đã nổi tiếng thông minh, ham học. Sau khi học xong bậc tiểu học tại Sóc Trăng và trung học tại Sài Gòn, ông được gia đình tạo điều kiện sang Nhật Bản du học vào năm 1939. Tại đây, ông theo học tại Trường Đại học Nông nghiệp Tokyo (nay là Đại học Tokyo). Với sự thông minh và nỗ lực không ngừng, ông đã hoàn thành xuất sắc chương trình học và được nhận bằng Cử nhân Nông học vào năm 1943. Sau đó, ông tiếp tục nghiên cứu và được Hội đồng khoa học Trường Đại học Tổng hợp Kyoto nhất trí cấp học vị Bác sĩ Nông học, học vị cao nhất ở Nhật Bản lúc bấy giờ. Ông là người trẻ nhất và cũng là người nước ngoài duy nhất được cấp học vị này tại Nhật Bản, một minh chứng cho tài năng và sự xuất sắc của ông. Năm 1945, Lương Định Của lập gia đình với Nobuko Nakamura, 23 tuổi, một nữ sinh viên quê ở Kyushu, vừa tốt nghiệp Đại học Nữ công.

Tháng 9/1945, hay tin nước nhà độc lập, ông hăm hở muốn tìm cách trở về quê hương ngay nhưng rồi theo lời khuyên của anh em là cần phải trau dồi thêm tri thức để có thể trở về giúp ích nước nhà, Lương Định Của nén lòng ở lại nước Nhật và làm việc trong Viện Thực nghiệm, Trường Đại học Quốc lập Kyushu. Một thời gian sau, Lương Định Của tiếp tục ghi tên học ngành Di truyền chọn giống ở Tây Kinh (Kyoto), chuyên sâu về tế bào học. Với sự thông minh, nghiêm túc và cần cù trong học tập, nghiên cứu, Lương Định Của đã tốt nghiệp, được nhận bằng Bác sĩ Nông học loại ưu. Đây là học vị cao nhất trong ngành Nông học Nhật Bản và Lương Định Của là người thứ 94 và là người trẻ nhất và cũng là người nước ngoài duy nhất được cấp học vị này tại Nhật Bản thời điểm này, một minh chứng cho tài năng và sự xuất sắc của ông trên nước Nhật. Chính phủ Nhật phong Lương Định Của là Giáo thụ trường Đại học Quốc lập Kyushu. Từ bỏ một vị trí mà theo các chuyên gia lương không dưới 3 cây vàng/tháng để về nước trong hoàn cảnh chiến tranh thực sự là một quyết định không dễ dàng.

Nhưng với ông, tình yêu quê hương đất nước luôn cháy bỏng. Năm 1952, được sự đồng tâm của người vợ Nhật, Lương Định Của và vợ cùng 2 người con đã xuống tàu sang Hồng Kông để tìm đường về nước. Đến Hồng Kông, toàn bộ đồ đạc bị thất lạc, nhờ sự giúp đỡ của một người bạn học là Trương Văn Hi, Lương Định Của và gia đình nhỏ của mình mới về đến Sài Gòn an toàn cùng với một chiếc va-li lúa giống mà ông luôn cẩn thận mang theo người. Được tin Lương Định Của về nước, Chính quyền thân Pháp ở Sài Gòn cử người đến tiếp xúc, hứa hẹn nhiều việc làm và chức vụ cho ông, kể cả kế hoạch giao cho ông phụ trách một cơ sở nghiên cứu nông nghiệp ở Mỹ Tho.

Viện cớ mới về nước, không am hiểu được tình hình, nên ông chỉ nhận “một chân hợp đồng” ở Bộ Canh nông và ngấm ngầm tìm cách liên lạc với cơ sở kháng chiến. Sau gần 2 năm chờ đợi, Thành ủy Sài Gòn bí mật cử giao liên đưa gia đình ông theo đoàn cán bộ tập kết ra Bắc vào cuối năm 1954. Trong 2 năm đầu ở miền Bắc, Lương Định Của được phân công ở bộ phận Tổ lúa, rồi làm nhiệm vụ Phó phòng Khảo cứu thuộc Viện Nghiên cứu Nông lâm, còn bà Nakamura Nobuko được nhận vào công tác trong một phòng khác thuộc Viện. Sau đó, do con đông, lại thường xuyên đau yếu, nên bà Nobuko Nakamura phải xin nghỉ việc để chăm sóc con cái, đến năm 1962 mới làm việc lại ở Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam. Nói đến Lượng Định Của không thể nói về vợ ông, một phụ nữ Nhật Bản thủy chung son sắt yêu chồng, thương con vô bờ bến. Bà là hậu phương vững chắc của chồng trên mỗi bước đường gian nan của thời chiến tranh.

Nhà bác học Lương Định Của, người đặt nền móng cho nền nông nghiệp hiện đại Việt Nam
Tượng đài nhà nông học Lương Định Của tại quê hương Sóc Trăng

Sau khi hòa bình lập lại, ông được giao nhiều trọng trách trong ngành nông nghiệp. Từ năm 1963 đến 1967, ông giữ chức Phó Viện trưởng Viện Khoa học Nông nghiệp. Từ năm 1968 đến ngày mất (28 tháng 12 năm 1975), ông là Viện trưởng Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm. Ông cũng là đại biểu Quốc hội liên tục các khóa II, III, IV và V, thể hiện sự tín nhiệm của nhân dân đối với những đóng góp của ông.

Sự nghiệp khoa học của Lương Định Của gắn liền với những công trình nghiên cứu và cải tạo giống cây trồng, đặc biệt là lúa gạo. Ông được mệnh danh là “cha đẻ” của nhiều giống lúa mới, có năng suất cao, chất lượng tốt, phù hợp với điều kiện canh tác của Việt Nam. Một trong những thành tựu nổi bật của ông là việc lai tạo thành công giống lúa Nông nghiệp 1, giống lúa lai đầu tiên ở nước ta, được lai tạo giữa giống lúa Ba Thắc (Nam Bộ) với giống lúa Bun Kô (Nhật Bản). Giống lúa này đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao năng suất lúa gạo, giải quyết vấn đề lương thực cho đất nước trong giai đoạn khó khăn. Bên cạnh đó, ông còn nghiên cứu và lai tạo thành công nhiều giống lúa khác như giống lúa Mùa muộn, giống lúa Chiêm 314, giống lúa 388 (được phân lập từ dòng IR8 hay là Nông nghiệp 8), giống lúa Xuân sớm (Nông nghiệp 75-1),... Những giống lúa này không chỉ có năng suất cao mà còn có khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, thích ứng với nhiều điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng khác nhau.

Không chỉ tập trung vào nghiên cứu giống lúa, Lương Định Của còn có những đóng góp quan trọng trong việc cải tiến kỹ thuật canh tác. Ông đã đề xướng mô hình canh tác “bờ vùng, bờ thửa”, “cấy nông tay thẳng hàng”, “đảm bảo mật độ”, được hàng triệu nông dân Việt Nam áp dụng thành công trên diện rộng, tạo ra một cuộc cách mạng trong nông nghiệp. Những phương pháp này giúp tiết kiệm nước, phân bón, giảm thiểu sâu bệnh, nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế cho người nông dân. Ông luôn tâm niệm rằng khoa học phải gắn liền với thực tiễn, phục vụ sản xuất và đời sống của người dân. Ông thường xuyên xuống đồng ruộng, trực tiếp hướng dẫn nông dân áp dụng các kỹ thuật canh tác mới, lắng nghe ý kiến và kinh nghiệm của họ. Tên ông từng được nông dân gọi liền với tên của sản phẩm một cách thân thiết: dưa ông Của, cà chua ông Của, khoai ông Của, lúa ông Của... Còn bạn bè trìu mến gọi ông là “nhà bác học của đồng ruộng”. Ông được đánh giá là một trong những chuyên gia nông nghiệp hàng đầu của Việt Nam và là một nhà khoa học có uy tín trên thế giới.

Lương Định Của không chỉ là một nhà khoa học mà còn là một nhà giáo, một người thầy tận tâm. Ông đã đào tạo nhiều thế hệ cán bộ khoa học kỹ thuật nông nghiệp, truyền đạt cho họ kiến thức, kinh nghiệm và lòng yêu nghề. Ông luôn khuyến khích học trò học tập, nghiên cứu, sáng tạo, góp phần xây dựng nền nông nghiệp nước nhà ngày càng phát triển. Ông cũng là một nhà văn, nhà báo, với nhiều bài viết và công trình nghiên cứu được công bố trên các tạp chí khoa học trong và ngoài nước. Những tác phẩm của ông không chỉ có giá trị khoa học mà còn mang tính giáo dục sâu sắc, thể hiện tình yêu quê hương đất nước và lòng trắc ẩn với người nông dân.

Cuộc đời và sự nghiệp của Lương Định Của là một tấm gương sáng về tinh thần yêu nước, lòng say mê khoa học và ý chí kiên cường vượt khó. Ông đã dành cả cuộc đời mình cho sự nghiệp phát triển nông nghiệp Việt Nam, góp phần quan trọng vào việc đảm bảo an ninh lương thực cho đất nước. Những đóng góp của ông đã được Đảng, Nhà nước và nhân dân ghi nhận và tôn vinh. Ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động vào năm 1967. Tên tuổi của ông đã trở thành biểu tượng cho sự cống hiến, tài năng và đức độ của người trí thức Việt Nam. Tên ông được đặt cho một con đường ở thủ đô Hà Nội. Tỉnh Sóc Trăng quê hương ông đã xây dựng nhà tưởng niệm ông.

Ngày nay, những thành tựu của Lương Định Của vẫn tiếp tục được kế thừa và phát huy. Các thế hệ nhà khoa học và những người làm nông nghiệp Việt Nam luôn ghi nhớ công ơn của ông, tiếp tục nỗ lực nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, góp phần xây dựng nền nông nghiệp Việt Nam ngày càng hiện đại, bền vững và hội nhập quốc tế. Cuộc đời ông luôn gắn bó với đồng ruộng và luôn ước mơ người nông dân giàu lên từ đồng ruông, sinh thời ông luôn sắn quần lội ruông như một người nông dân thực thụ. Ông mất khi còn khá trẻ, một mất mát vô cùng lớn với đất nước, với dân tộc nhưng tên tuổi Lương Định Của sẽ mãi mãi được khắc ghi trong lịch sử nông nghiệp và đất nước Việt Nam, là nguồn cảm hứng bất tận cho các thế hệ mai sau./.

Bài liên quan

CÁC TIN BÀI KHÁC

Tháo gỡ điểm nghẽn, thúc đẩy phát triển nông nghiệp hữu cơ bền vững

Tháo gỡ điểm nghẽn, thúc đẩy phát triển nông nghiệp hữu cơ bền vững

Chiều 8/6, tại trụ sở của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng chủ trì buổi làm việc với Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam nhằm trao đổi về kết quả hoạt động của Hiệp hội, tình hình thực hiện chính sách nông nghiệp hữu cơ, các kiến nghị tháo gỡ khó khăn, đồng thời thống nhất một số định hướng phối hợp trong thời gian tới.
Tại sao người tiêu dùng còn hoài nghi về sản phẩm nông sản hữu cơ?

Tại sao người tiêu dùng còn hoài nghi về sản phẩm nông sản hữu cơ?

Trong những năm gần đây, nông sản hữu cơ được xem là xu hướng tiêu dùng xanh và là hướng đi quan trọng của nền nông nghiệp bền vững. Các sản phẩm hữu cơ được quảng bá là an toàn cho sức khỏe, thân thiện với môi trường và góp phần bảo vệ hệ sinh thái. Tuy nhiên, dù thị trường nông sản hữu cơ ngày càng mở rộng, không ít người tiêu dùng vẫn tỏ ra hoài nghi về chất lượng và tính xác thực của các sản phẩm mang nhãn hữu cơ. Sự hoài nghi này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, từ thực trạng thị trường đến nhận thức xã hội và cơ chế quản lý.
Nông nghiệp hữu cơ - Căn cốt kiến tạo môi trường sống bền vững

Nông nghiệp hữu cơ - Căn cốt kiến tạo môi trường sống bền vững

Không chỉ tạo ra thực phẩm an toàn, nông nghiệp hữu cơ còn góp phần phục hồi hệ sinh thái, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và nâng cao chất lượng môi trường sống.
Chuyển giao công nghệ canh tác bền vững cho sầu riêng và cà phê Tây Nguyên

Chuyển giao công nghệ canh tác bền vững cho sầu riêng và cà phê Tây Nguyên

Trong bối cảnh ngành nông nghiệp Việt Nam đang chuyển mạnh sang hướng sản xuất xanh, giảm phát thải và đáp ứng tiêu chuẩn thị trường quốc tế, việc ra mắt “Mô hình chuyển giao công nghệ canh tác bền vững trên cây sầu riêng và cà phê” tại Tây Nguyên ngày 06/6/2026 mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây không chỉ là một mô hình trình diễn kỹ thuật, mà còn là giải pháp tổng thể nhằm tái cấu trúc phương thức sản xuất theo hướng hiện đại, hiệu quả và bền vững.
Khuyến nông Đắk Lắk chia sẻ kinh nghiệm ứng dụng công nghệ số trong sản xuất nông nghiệp

Khuyến nông Đắk Lắk chia sẻ kinh nghiệm ứng dụng công nghệ số trong sản xuất nông nghiệp

Trung tâm Khuyến nông tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức buổi làm việc, trao đổi chuyên môn và chia sẻ kinh nghiệm về ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số trong hoạt động khuyến nông với đoàn công tác của Trung tâm Khuyến nông Nghệ An.
Cần tháo gỡ “khoảng trống” quản lý hơn 3 triệu ha rừng do UBND cấp xã quản lý

Cần tháo gỡ “khoảng trống” quản lý hơn 3 triệu ha rừng do UBND cấp xã quản lý

Từ thực tiễn quản lý và yêu cầu phát triển lâm nghiệp bền vững, nhiều vấn đề về cơ chế và nguồn lực đang được đặt ra đối với diện tích rừng chưa giao, chưa cho thuê. Theo số liệu công bố hiện trạng rừng năm 2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, hơn 3,07 triệu ha rừng chưa giao, chưa cho thuê hiện do Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về hoàn thiện thể chế, dữ liệu, nguồn lực và cơ chế quản trị, nhất là trong bối cảnh Việt Nam thực hiện cam kết Net Zero, phát triển thị trường các-bon rừng và đáp ứng các quy định mới về truy xuất nguồn gốc nông lâm sản.
Giữ vững thương hiệu nông sản hữu cơ - Chìa khóa cho sự phát triển bền vững

Giữ vững thương hiệu nông sản hữu cơ - Chìa khóa cho sự phát triển bền vững

Ngày nay, người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến sức khỏe và môi trường, nông sản hữu cơ đang trở thành một xu hướng phát triển mạnh mẽ trên toàn thế giới. Tại Việt Nam, diện tích sản xuất hữu cơ không ngừng được mở rộng, nhiều sản phẩm đã khẳng định được vị thế trên thị trường trong nước và quốc tế. Tuy nhiên, xây dựng được thương hiệu đã khó, giữ vững thương hiệu nông sản hữu cơ còn khó hơn rất nhiều. Đây là nhiệm vụ quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển lâu dài của các doanh nghiệp, hợp tác xã và người nông dân tham gia sản xuất hữu cơ.
Men tỏi - “kháng sinh tự nhiên” thúc đẩy phát triển chăn nuôi hữu cơ bền vững

Men tỏi - “kháng sinh tự nhiên” thúc đẩy phát triển chăn nuôi hữu cơ bền vững

Trong bối cảnh ngành chăn nuôi đang đối mặt với nhiều thách thức như dịch bệnh diễn biến phức tạp, chi phí sản xuất gia tăng, tình trạng kháng kháng sinh và yêu cầu ngày càng cao về an toàn thực phẩm, việc tìm kiếm các giải pháp sinh học thay thế đang trở thành xu hướng tất yếu. Trong số đó, men tỏi – chế phẩm được tạo ra từ quá trình lên men tỏi với các chủng vi sinh vật có lợi – đang được nhiều hộ chăn nuôi và trang trại lựa chọn như một giải pháp hiệu quả để nâng cao sức khỏe vật nuôi, giảm chi phí sản xuất và hướng tới nền chăn nuôi hữu cơ, bền vững.
Phát triển nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

Phát triển nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

Nhu cầu phát triển nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam ngày càng tăng do người tiêu dùng quan tâm đến sức khỏe, an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường. Đây cũng là hướng đi giúp nâng cao giá trị nông sản, mở rộng thị trường xuất khẩu và phát triển bền vững.
Đại học Nông Lâm Huế tăng cường gắn kết giữa đào tạo và nhu cầu thực tiễn

Đại học Nông Lâm Huế tăng cường gắn kết giữa đào tạo và nhu cầu thực tiễn

Ngày 30/5, Trường Đại học Nông Lâm Huế tổ chức Ngày hội việc làm năm 2026 với chủ đề “Kết nối cơ hội – Dẫn lối tương lai” thu hút sự tham gia đông đảo sinh viên
Xây dựng “thước đo” cho mô hình nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn vùng miền núi phía Bắc

Xây dựng “thước đo” cho mô hình nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn vùng miền núi phía Bắc

Tại Hội thảo tham vấn chuyên gia tổ chức ngày 29/5 tại Phú Thọ, các nhà khoa học, chuyên gia và đại diện địa phương đã tập trung góp ý cho Bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả sử dụng tài nguyên thiên nhiên trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn vùng miền núi phía Bắc. Các đại biểu nhấn mạnh yêu cầu xây dựng một công cụ đánh giá vừa có cơ sở khoa học, vừa khả thi trong thực tiễn, góp phần nhận diện, hoàn thiện và nhân rộng các mô hình sản xuất phù hợp với điều kiện đặc thù của vùng.
Giữa hai vụ lúa ở Hải Phòng: Tận dụng "khoảng trống" sinh lời

Giữa hai vụ lúa ở Hải Phòng: Tận dụng "khoảng trống" sinh lời

Vụ lúa hè thu vừa khép lại, các cánh đồng tại Hải Phòng bước vào quỹ thời gian trống từ 60 đến 75 ngày trước khi bước vào vụ đông xuân. Với tư duy canh tác hiện đại, nhà nông đất Cảng không để đất "ngủ đông" mà chủ động đưa cây màu ngắn ngày vào xen canh, biến khoảng thời gian chuyển giao này thành vụ sản xuất đem lại giá trị kinh tế cao, đồng thời cải tạo đất toàn diện.
XEM THÊM
dam-ca-mau-chi-vi-hoa
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2025 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính